CÁC TRIỆU CHỨNG VÀ BỆNH TÂM THẦN DO SỬ DỤNG MA TÚY

 

(Trung tâm Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa biên soạn)

Viện Hàn Lâm Khoa Học Pháp năm 1999 định nghĩa: ma túy là những chất tác động tâm thần mà người lạm dụng sẽ gây ra cho mình sự lệ thuộc.

Tình trạng lệ thuộc ma túy đòi hỏi sử dụng ma túy đều đặn như một phương thức sống. Người lệ thuộc sẽ bị những biến đổi về khí sắccảm xúc cũng như nhận thức do những tổn thương trong não. Những tổn thương này có thể tồn tại rất lâu hoặc vĩnh viễn sau khi ngưng sử dụng.

Sự rối loạn trên bắt nguồn từ nhiều lý do khác nhau: bản thân, gia đình, xã hội, tâm lý. Sử dụng, lạm dụng rồi lệ thuộc ma túy dẫn đến tình trạng nghiện là triệu chứng cuối cùng hoàn tất quá trình rối loạn trên. Do vậy việc điều trị phục hồi nghiện ma túy bao gồm rất nhiều lĩnh vực y tế, tâm lý.

Người nghiện bị lệ thuộc tâm lý và lệ thuộc cơ thể đối với ma túy. Nếu thiếu sẽ thèm muốn, đòi hỏi phải tái sử dụng để cảm thấy thoải mái.

Khi được cung cấp đủ ma túy con nghiện ở trạng thái ngất ngây hoặc kích thích mạnh mẽgiảm bớt đau đớn thân xác cũng như tinh thần, cảm giác khoẻ mạnh yêu đời.

Bởi tính chất ép buộc sử dụng ma túy, cuộc sống người nghiện suốt đời loanh quanh trong việc sử dụng nó. Đó là phương thức tồn tại của người nghiện.

Một phương thức sống như vậy sẽ làm xáo trộn và đảo lộn nhiều giá trị cá nhân cũng như xã hội cùng những chức năng tâm sinh lý.

Càng sử dụng ma túy lâu bao nhiêu hoặc sử dụng sớm bao nhiêu thì hậu quả càng nhiều và nặng nề bấy nhiêu. Mặt khác, những tác động của ma túy trên bộ não có thể gây ra những tổn thương tạm thời hoặc vĩnh viễn làm cho người nghiện suy giảm khả năng xử lý thông tin, xử lý những kinh nghiệm cũng như khả năng hiểu biết của đối tượng trong việc hướng đến một cuộc sống lành mạnh.

Như vậy, việc lạm dụng và lệ thuộc ma túy là một hội chứng trong một bối cảnh đa phương diện.

Xét về mặt hành vi, người nghiện đã phát triển những cách ứng xử không thích nghi hoặc những thói quen xấu. Chính những hành vi ấy ngăn cản đối tượng hoà nhịp với cộng đồng, mất đi lòng tự trọng, tinh thần trách nhiệm, không còn khả năng hiểu biết những hậu quả do hành vi của mình gây ra. Người nghiện ma túy không còn đủ nhận thức để sống một cách trong sạch, cũng như kỹ năng làm việc để sống bình ổn trong một xã hội trật tự. Nói chung, về mặt tinh thầnsức khoẻ, nghề nghiệpgia đình, xã hội,… có thể suy sụp đến một mức làm sự điều trị phục hồi cho đối tượng trở thành khó khăn.


Sau khi cai, nếu những nhân tố tác động thúc đẩy đối tượng tìm đến ma túy vẫn chưa được giải quyết, hầu hết những người nghiện sẽ tái nghiện.

 

Ngoài trạng thái lạm dụng và lệ thuộc, các hội chứng lâm sàng liên quan đến các chất ma túy có thể gây các phản ứng tâm lý và rối loạn tâm trí thực thể sau:

I-   CÁC PHẢN ỨNG TÂM LÝ:

Các hậu quả tâm lý của các chất ma túy phụ thuộc vào nhiều yếu tố quyết định phức tạp trong đó có cả các nhân tố dược lý và tâm lý:

– Các nhân tố dược lý tùy thuộc chất ma túy, liều lượng với phương thức sử dụng, với độ dung nạp, với các tương tác.

– Mức độ tác hại gồm nhiều yếu tố như: phối hợp nhiều chất ma túy với nhau, ảnh hưởng tính chất sinh lý của từng cá nhân, tác động bởi bối cảnh xã hội, phương thức dùng ma túy, nhân cách của chủ thể và trạng thái lâm sàng, các mong ước và tác động của xã hội trong việc phòng chống ma túy thông qua nhiều phương cách khác nhau.

II- CÁC RỐI LOẠN TÂM TRÍ THỰC TỔN:

Trong DSM – III mục phân loại các rối loạn này gồm những hội chứng tâm trí thực tổn khác nhau gây ra do hậu quả trực tiếp của nhiều chất ma túy trên hệ thần kinh trung ương. Đây là trạng thái nhiễm độc, lẫn các phản ứng loạn tâm thần trực tiếp do dùng ma túy.

1- TRẠNG THÁI NHIỄM ĐỘC:

Mô tả trạng thái này như một rối loạn tâm trí bị gây ra do mới sử dụng ma túy, thể hiện qua các hành vi như hung dữ, thay đổi phán đoán, biến loạn hoạt động xã hội, và bằng hội chứng đặc hiệu thông thường nhất là các rối loạn về tri giác, về chú ý và sự tỉnh thức, về tư duy nhận đoán và vận động.

2- LÚ LẪN TÂM TRÍ:

Hội chứng lú lẫn hay mê sảng của DSM – III thể hiện bằng các rối loạn chú ý và tư duy nặng hơn trong trạng thái nhiễm độc, biểu hiện bằng các rối loạn tỉnh thức, rối loạn tư duy, mất định hướng thời gian, không gian và các rối loạn tri giác. Các triệu chứng trên liên quan với dùng quá liều các chất ma túy.

3- CÁC PHẢN ỨNG LOẠN TÂM THẦN:

Các phản ứng này thể hiện tính hoang tưởng hay ảo giác trong trạng thái tỉnh thức bình thường. Thời gian các phản ứng này thường ngắn từ vài giờ đến vài ngày. Phản ứng loạn tâm thần có thể kịch phát do dùng các chất kích thích, các chất gây ảo giác  cần sa.

4- HỘI CHỨNG HỒI TƯỞNG (SYNDROME DE REVISISCENCE):

Trong DSM – III – R gọi là rối loạn tri giác sau ảo giácđặc trưng cho hội chứng này là khi không dùng ma túy thì cảm thấy một hay nhiều triệu chứng đã xảy ra trong trạng thái nhiễm độc trước đây (Flashback).

Các triệu chứng này xảy ra đột ngột và thường chỉ kéo dài vài giây hay vài phút. Chúng có thể tái diễn ít hay nhiều lần trong ngày. Các triệu chứng này luôn kèm theo một phản ứng lo hãi, và có thể xuất hiện sau một lần dùng ma túy nhưng hay xảy ra sau khi dùng ma túy nhiều lần. Các triệu chứng nhiễm độc tái cấp diễn này được quan sát chủ yếu với các chất gây ảo giác, hiếm hơn nhưng còn gặp với cần sa. Các triệu chứng thường gặp nhất là các rối loạn tri giác và nhiều về thị giác.

III- LOẠN TÂM THẦN:

Việc dùng các chất ma túy thường gây hậu quả là một rối loạn tâm thần. Các mối liên hệ giữa sử dụng ma túy và các rối loạn tâm thần khá phức tạp.

Rối loạn tâm thần góp phần dẫn đến sử dụng ma túy, đồng thời có thể do cả hai yếu tố trên tác động lên nhau.

Sự phân biệt này khó xác định, một khi cùng xảy ra song song, việc sử dụng các chất ma túy và các rối loạn tâm thần sẽ tác động lẫn nhau thể hiện qua các biểu hiện và sự phát triển của chúng.

Phân biệt các rối loạn tâm thần tiên phát và thứ phát có thể dẫn đến các hành vi nghiện ngập và có thể ảnh hưởng đến các quyết định điều trị.

IV- TRẠNG THÁI TRẦM NHƯỢC:

Trầm nhược do rối loạn tâm thần có sự kết hợp do sử dụng các chất ma túy đã được nghiên cứu nhiều nhất. Lạm dụng ma túy kết hợp với trầm nhược thường gặp trong các quần thể của khoa lâm sàng. Lạm dụng rượu và ma túy luôn luôn kết hợp với các trầm nhược nặng.

Trong nghiên cứu Ryan và ctv (1987) về 92 ca trầm nhược nặng18% đối tượng có sử dụng thêm các chất ma tuý “dịu”, 4% ít nhất đã dùng các chất ma tuý, việc dùng rượu quá mức kết hợp với việc sử dụng ma tuý gây các trạng thái trầm nhược loạn tâm và các rối loạn nhân cách.

Trầm nhược luôn kết hợp với lạm dụng ma tuý.

Các trường hợp trầm nhược hình như luôn luôn dẫn đến nghiện ma túy. Trong nghiên cứu của Deykin và ctv (1987), lạm dụng ma túy và rượu hầu như bao giờ cũng theo sau trạng thái trầm nhược nặng.

Trong nghiên cứu của De Milio (1989) các triệu chứng trầm nhược khởi đầu trước khi lạm dụng ma tuý trong khoảng nửa số trường hợp.

Các điều tra dịch tễ học đã khẳng định tần suất các tiền sử trầm nhược của chứng nghiện ma túy: các nghiên cứu này đã nhận định các triệu chứng trầm nhược như một nhân tố nguy cơ ở giai đoạn mới dùng ma túy (Bukstein và ctv, 1989).

Trầm nhược và sử dụng ma túy ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Các triệu chứng trầm nhược có thể dẫn đến sử dụng ma tuý. Là tiên phát hoặc thứ phát, trạng thái trầm nhược có thể làm nặng thêm hay duy trì lạm dụng ma túy.

V- TỰ SÁT VÀ CÁC Ý ĐỊNH TỰ SÁT:

Lạm dụng ma tuý đựơc công nhận là nguy cơ hàng đầu của các hành vi tự sát của thanh thiếu niên. Trong số 1824 đối tượng được gởi tới chữa bệnh vì lạm dụng ma tuý, 40,7% có ý tưởng tự sát thường xuyên (Harrison và Hoffiman, 1987).

Sử dụng hay lạm dụng ma tuý hoặc rượu còn là một trong các yếu tố kết hợp chính của các ý định tự sát ở thanh thiếu niên theo các nghiên cứu của Christoffel và ctv (1990).

Đa số các công trình có sự lên quan giữa tự sát, trầm nhược và lạm dụng ma túy. Lạm dụng ma túy có thể làm trầm trọng thêm trầm nhược và làm cho dễ chuyển sang hành động tự sát do tác dụng dược lý làm giải ức chế tính xung động và hung tính.

Cuối cùng, việc dùng ma tuý, trầm nhược và tự sát có thể làm bộc lộ cùng một bệnh lý phát triển.

VI- CÁC RỐI LOẠN HÀNH VI:

– Ma tuý và rối loạn hành vi thường kết hợp với nhau. Các rối loạn hành vi thường gặp trong lạm dụng ma túy ở thanh thiếu niên: Rechrich và Gold (1986) thấy trong 41 đối tượng có 95% rối loạn hành vi liên quan đến sử dụng ma tuý. De Milio (1989) thấy 42% có rối loạn hành vi trong 57 thanh thiếu niên nằm viện vì ma túy.

Myers và Kemph (1990) khảo sát trên 14 thanh thiếu niên đã giết người (12 con trai và 2 con gái) tuổi từ 10 đến 17 (tuổi trung bình 15,2). Ở thời điểm chúng có hành vi giết người: 86% đã mắc một rối loạn hành vi.

Các nghiên cứu khác cho thấy mối tương quan giữa hành vi phạm pháp và sử dụng ma túy: Hundleby và ctv (1982) ghi nhận trên 100 thanh thiếu niên nam và 130 thanh thiếu niên nữ dùng ma tuý có hoạt động tình dục nhiều hơn, nhận thức về xã hội và học tập lệch lạc.

Các liên quan giữa rối loạn hành vi và dùng ma tuý rất phức tạp. Các rối loạn hành vi và sử dụng ma túy tác động lẫn nhau. Các rối loạn hành vi thường dẫn đến dùng ma túy.

Trong các nghiên cứu theo chiều dọc hậu cứu về các trẻ em hiếu động, đã nhận thấy rằng khuynh hướng chống đối xã hội thường dẫn đến các rối loạn liên quan đến việc sử dụng các chất ma túy.

Dùng ma tuý có thể dẫn đến các rối loạn hành vi: tác động của chất ma túy giải ức chế và làm tăng hung tính tạo điều kiện cho việc chuyển thành hành vi chống đối xã hội. Do lệ thuộc ma túy đối tượng gây nên những hành vi phạm pháp để tìm cho được chất ma túy: ăn cắp, buôn bán ma túy và làm gái điếm thường kết hợp (Tarr và Macklin, 1987).

Phạm pháp và lạm dụng ma túy đều liên quan đến các điều kiện xã hội, gia đình không êm ấm và các rối loạn xúc cảm. Thanh thiếu niên phạm pháp, nhất là khi chúng bị trầm nhược khai là sử dụng ma tuý hay các hoạt động bất hợp pháp để làm nhẹ nổi buồn chán và ưu phiền của họ.

Trong nghiên cứu của Farrow French (1990), khảo sát trên 89 thanh thiếu niên phạm pháp khai có dùng ma túy trong đó 74% trường hợp là để làm giảm các cảm nghĩ buồn chán và ưu phiền, 39% để quên các vấn đề của họ, 42% để được yên tĩnh, 65% để được thích thú và 45% vì nhiều bạn của họ dùng ma túy.

VII- CÁC RỐI LOẠN TẬP TRUNG:

Các rối loạn tập trung mang tính hiếu động có tiền sử dùng ma tuý thường xảy ra ở tuổi thanh thiếu niên: De Milio (1989) thấy trong 14% các trường hợp này, có rối loạn tập trung và hiếu động. Rối loạn tập trung cũng có thể là di chứng của sử dụng ma túy.

Trong 114 thanh thiếu niên phạm pháp, Halikas và ctv (1990) nhận thấy lạm dụng ma túy có trên 67%, trong đó không rối loạn tập trung 19% trường hợp, các rối loạn hành vi đa hung bạo trong 61% trường hợp.

VIII- CÁC RỐI LOẠN NHÂN CÁCH:

Lạm dụng ma túy liên quan đến một số rối loạn nhân cách.

Các rối loạn nhân cách bệnh lý và nghiện ma túy liên hệ và tác động với nhau. Các rối loạn nhân cách dễ dẫn đến sử dụng ma túy:

–         Các rối loạn về cảm xúc của trạng thái ranh giới.

–         Các cảm nghĩ trống rỗng và buồn phiền.

–         Tính xung động.

Ngược lại, việc dùng ma túy làm nặng thêm các rối loạn về tâm lý, về quan hệ và sinh học biểu hiện rõ nét nhân cách bệnh lý.

         IX- CÁC BIỂU HIỆN LO HÃI:

 Một nghiên cứu dịch tễ học của NIMH trên thanh niên (Christie và ctv…1988) cho thấy người có tiền sử rối loạn lo hãi mà tuổi khổi phát trung bình là 15, dẫn đến các nguy cơ lạm dụng hay lệ thuộc ma túy tăng gấp đôi với thanh niên không có tiền sử rối loạn lo hãi.

 Trong nghiên cứu của Johnston và O'Malley, 41% học sinh trung học đã giải thích dùng ma túy do nhu cầu giảm căng thẳng

          X. CÁC RỐI LOẠN ĂN UỐNG:

Lạm dụng ma túy và rượu còn gặp ở người háu ăn, người chán ăn và còn ở một mức độ thấp hơn trên những người chán ăn hạn chế (Garner và ctv,…1985). Kille và ctv.(1987) so sánh 57 thanh thiếu niên háu ăn, 59 thanh thiếu niên ăn kiêng dùng các biện pháp nôn, nhuận trường hay lợi tiểu đễ kiểm tra trọng lượng của họ và 444 thanh thiếu niên không có rối loạn hành vi ăn uống: Kết quả cho đối với 3 nhóm người: nhóm 1: háu ăn, nhóm 2: chán ăn, nhóm 3: ăn hạn chế say rượu ít nhất 1 lần mỗi tháng tỷ lệ lần lượt là 25, 21 và 17%, say rượu nhiều lần mỗi tháng là 10, 23 và 7% trường hợp, sử dụng mà ăn ít nhất mỗi tháng là 16, 9 và 10% trường hợp và ít nhất 1 lần mỗi tuần là 14, 12 và 6% trường hợp.

Dùng ma túy và các trạng thái say có tần suất vẫn cao hơn tần suất của nhóm chứng không trầm nhược có các rối loạn hành vi ăn uống.

 XI. CÁC RỐI LOẠN NHÂN CÁCH:

Lạm dụng ma túy liên quan đến một số rối loạn nhân cách (Crumley, 1990). Trong  số 57 thanh thiếu niên nghiện ma túy do De Milio khảo sát (1989), 16% cho thấy những nét rõ rệt về rối loạn nhân cách một cách rõ rệt, nhân cách phân liệt 2 ca, nhân cách ái kỷ 2 ca, nhân cách kiểu phân liệt 1 ca.

Các rối loạn nhân cách bệnh lý và nghiện ma túy liên hệ và tác động với nhau. Các rối loạn nhân cách dễ dẫn đến sử dụng ma túy:

  • Các rối loạn về cảm xúc của trạng thái ranh giới
  • Các cảm nghĩ trống rỗng và buồn phiền
  • Tính xung động

​Ngược lại, việc dùng ma túy là nặng thêm các rối loạn về tâm lý, về quan hệ và sinh học biểu hiện rõ nét nhân cách bệnh lý.

XII. CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN:

Các chất gây ảo giác, amphetamin, cocain, cần sa, phesncyclidin có thể gây các triệu chứng loạn tâm thần. Loạn tâm thần do amphetamin có thể gây các triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt ở thanh thiếu niên (Angrist, 1983).

Ngược lại bệnh tâm thần phân liệt của thanh thiếu niên có thể bộc lộ và nặng lên do ma túy.

Một số ma túy được xem như có thể gây ra không nững các bệnh tâm thần phản ứng ngắn hay các rối loạn dạng phân liệt mà cả bệnh tâm thần phân liệt thực sự:dùng lâu dài các chất amphetamin có thể gây ra một số bệnh tâm thần phân liệt (Me – Lellam và ctv.1979), LSD xuất hiện đúng hơn như một nhân tố thúc đẩy (Vardy và Kay, 1983)

IX- TỶ LỆ CHẾT:

Việc sử dụng có thể gây chết người, các biến chứng cơ thể và một ảnh hưởng tiêu cực trên đời sống tâm lý và quan hệ cũng như trên sự thích ứng xã hội.

Trong khi tỷ lệ chết của các nước công nghiệp hoá giảm, thì tỷ lệ chết lại tăng ở thanh thiếu niên và thanh niên: các tai nạn giao thông, các tai nạn khác, tự sát và giết người do ma túy là nguyên nhân gây tỷ lệ chết cao. Các tai nạn giao thông chiếm 70% nguyên nhân chết của những người 16 – 19 tuổi trong Cộng Đồng Châu Au: Rượu và các chất ma túy là những nguyên nhân chủ yếu.

Trong một nghiên cứu nam giới từ 15 -34 tuổi, chết do tai nạn giao thôngrượu được phát hiện trong 75% trường hợp, cần sa 37% và cocain 11%; trong đó kết hợp rượu và cần sa 85% trường hợp (Williams, 1985). Tác hại của ma túy ngoài các tai nạn và tự sát, nguy cơ lây nhiễm HIV/ AIDS qua tiêm chích tĩnh mạch các chất ma túy và quan hệ tình dục bừa bãi cũng là một vấn đề rất đáng quan tâm.

X-  TÁC HẠI CỦA CÁC LOẠI MA TÚYXin xem mục MA TÚY VÀ CÁC CHẤT GÂY NGHIỆN trên trang Web này của Trung tâm.

KẾT LUẬN:

Sử dụng các chất ma túy dẫn đến nhiều nguy cơ: tăng liều lượng và chuyển sang các chất ma túy mạnh hơnrối loạn phát triển, thất bại trong hoà nhập xã hội, các tổn thương thể chất, tinh thần và dẫn đến cái chết. Nếu đối tượng bị gạt ra bên lề xã hội do sử dụng ma túy thì nguy cơ tổn thương về thể chất dẫn đến cái chết có thể xảy ra sớm, do bệnh tật và thiếu sự chăm sóc.

 

QUY TRÌNH ĐIỀU TRỊ VÀ CAI NGHIỆN TẠI TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG VÀ CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA

QUY TRÌNH ĐIỀU TRỊ, GIÁO DỤC NHẰM

ĐIỀU CHỈNH, PHỤC HỒI NHẬN THỨC,HÀNH VI, NHÂN CÁCH – NÂNG CAO SỨC KHỎE – CHỐNG TÁI NGHIỆN CHO NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY TẠI

TRUNG TÂM CAI NGHIỆN THANH ĐA

 

Bs. Nguyễn Hữu Khánh Duy – Giám đốc Trung tâm

Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa biên soạn

 

MÔ HÌNH ĐIỀU TRỊ

  1. CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU (Community Therapy) theo mô hình DAYTOP QUỐC TẾ . Có sửa đổi để phù hợp với điều kiện Việt Nam.XEM CHI TIẾT XIN BẤM VÀO ĐÂY (1) 
  2. MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU (Environment therapy) là sử dụng Môi trường để điều trị, giáo dục cho học viên. Bao gồm:
  • Môi trường Thiên nhiên Trị liệu (Natural – environment Therapy).
  • Môi trường Nhân tạo Trị liệu (Artificial – environment Therapy).
  • Môi trường Văn hóa Trị liệu (Cultural – environment Therapy).
  • Môi trường Xã hội Trị liệu (Social – environment Therapy).

III. KẾT HỢP ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC VỚI CÁC LIỆU PHÁP TƯ VẤN – LIỆU PHÁP TÂM LÝ – LIỆU PHÁP GIÁO DỤC –  LIỆU PHÁP XÃ HỘI… XEM CHI TIẾT XIN BẤM VÀO ĐÂY (2)  và CHI TIẾT TẠI ĐÂY (3) 

 

CÁC GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRỊ

 

 

 

GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ

 

  1. GIAI ĐOẠN TIẾP NHẬN: Các bước tiến hành

+  Xét nghiệm nước tiểu học viên để xác định loại ma túy

+  Tư vấn về phương pháp cai nghiện tại Trung tâm.

+  Tư vấn về các vấn đề vướng mắc của học viên và gia đình

+  Làm thủ tục nhập viện theo quy định.

+  Phổ biến nội quy, quy định của Trung tâm. Trước khi bệnh nhân nhập viện kiểm tra đồ dùng cá nhân – thay đồng phục của Trung tâm.

+  Làm các xét nghiệm cận lâm sàng để phát hiện các bệnh cơ hội hoặc các bệnh lây lan: XQ phổi – ECG – công thức máu – tổng phân tích nước tiểu – xét nghiệm để phát hiện viêm gan siêu vi B, C – giang mai – HIV/AISD.

+  Tư vấn 100% gia đình và học viên về chương trình cai nghiện: Nội trú – Bán trú và ngoại trú.

+  Sơ bộ xây dựng kế hoạch điều trị cho từng cá nhân.

+  Cung cấp tài liệu về cai nghiện phục hồi cho gia đình.

II.  GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRỊ CẮT CƠN – GIẢI ĐỘC – NÂNG CAO SỨC KHỎE:

+  Tiến hành ghi chép bệnh án theo lời khai bệnh nhân – Bác sĩ khám bệnh và cho Y lệnh điều trị – chú ý phát hiện các bệnh tâm thần – bệnh cơ hội.

+  Xác định các loại ma tuý và liều lượng ma túy mà đối tượng đã sử dụng để định hướng cắt cơn.

+  Phác đồ cắt cơn: phác đồ an thần kinh của Bộ Y tế đối với bệnh nhân sử dụng Heroine.

+  Thực hiện tư vấn tâm lý trước khi cắt cơn

+  Kết hợp sử dụng thuốc với biện pháp tâm lý và các biện pháp phục hồi chức năng: cắt cơn trong phòng lạnh (lạnh trị liệu) – Massage – tắm hơi.

+  Cắt cơn kết hợp với điều trị các bệnh cơ hội (Nếu cần thiết phải điều trị ngay).

+  Nâng cao sức khỏe.

III. GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRỊ – GIÁO DỤC NHẰM GỌT GIŨA – ĐIỀU CHỈNH – PHỤC HỒI NHẬN THỨC – HÀNH VI – NHÂN CÁCH bao gồm:

1.   NÂNG CAO NHẬN THỨC -TRÌNH ĐỘ học viên:

1.1 DẠY VĂN HÓA:

1.2 HỌC TẬP CÁC CHUYÊN ĐỀ: Giáo dục công dân + Giáo dục đạo đức + Giáo dục sức khỏe và cộng đồng + Giáo dục pháp luật, an ninh quốc phòng + Giáo dục truyền thống.

2. GIÁO DỤC TRỊ LIỆU: nhằm nâng cao bản lĩnh và kỹ năng sống cho học viên.

2.1 GIÁO DỤC TƯ DUY TÍCH CỰC – TỰ CHỦ, QUẢN LÝ BẢN THÂN – NHẬN THỨC CÁC GIÁ TRỊ SỐNG (Living values) XEM CHI TIẾT XIN BẤM VÀO ĐÂY (3) . Chương trình này được sự hỗ trợ của Tổ chức UNESCO và UNICEF (Liên hiệp quốc) và do CỤC PHÒNG CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI – Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội huấn luyện.

2.2 TÂM NĂNG DƯỠNG SINH:

–     Thiền định XEM CHI TIẾT XIN BẤM VÀO ĐÂY (7)

–     Tập Thái cực Trường sinh

2.3.SINH HOẠT TRỊ LIỆU: người cai nghiện tham gia các hoạt động lao động, sinh họat hàng ngày như trực vệ sinh buồng ở và cảnh quan nơi công cộng, sữa chữa tu bổ cơ sở vật chất để người nghiện sống có trách nhiệm lẫn nhau, có trách nhiệm với Trung tâm, với cộng đồng và hình thành thói quen tốt trong sinh hoạt.

2.4.HOẠT ĐỘNG TRỊ LIỆU – GIẢI TRÍ TRỊ LIỆU:

Hoạt động văn hóa văn nghệ: thiết bị âm thanh được trang bị đầy đủ, đội văn nghệ tập luyện thường xuyên, ngoài ra còn được học vẽ, học nhạc. Định kỳ hoặc các ngày lễ Tết đều tổ chức các chương trình sinh hoạt tập thể, trò chơi vận động, giao lưu văn thể mỹ với các đơn vị bạn hoặc mời các đơn vị bạn đến Trung tâm.

* Hoạt động thể dục thể thao được quan tâm – cơ sở vật chất đầy đủ – Học viên được thường xuyên tập luyện và giao lưu, thi đấu với các đơn vị bạn.

Ngoài mục đích giáo dục, 02 biện pháp giải trí này còn giúp học viên chống trầm cảm, phục hồi hệ thống sản xuất Dopamin của não.

IV.  TƯ VẤN – TÂM LÝ TRỊ LIỆU NHÓM, CÁ NHÂN GIA ĐÌNH – QUẢN LÝ CA mục đích: XEM CHI TIẾT XIN BẤM VÀO ĐÂY (2) 

* Hiểu biết hoàn cảnh– Tâm tư người cai nghiện.

Giúp người cai nghiện nhận thức được bản thân, sửa chữa lỗi lầm, xóa bỏ sự cô độc, mặc cảm, đồng thời thúc đẩy sự tôn trọng lẫn nhautạo sự cởi mở vui vẻ với mọi người.

* Định hướng được cuộc sống và biện pháp hành động cho bản thân thời gian tới.

V. HUẤN NGHIỆP TRỊ LIỆU – LAO ĐỘNG TRỊ LIỆU – SẢN XUẤT TRỊ LIỆU:

1. MỤC ĐÍCH: HUẤN NGHIỆP TRỊ LIỆU – LAO ĐỘNG TRỊ LIỆU – SẢN XUẤT TRỊ LIỆU là yếu tố quan trọng giúp đối tượng phục hồi nhanh chóng tình trạng nghiện – Mục tiêu trị liệu bao gồm:

+  Cải thiện sức khỏe.

+  Tập luyện và phát triển về thể chất và tâm trí.

+  Tăng cường ý thức tổ chức kỷ luật trong lao động.

+  Tăng cường kỹ năng lao động.

+  Tăng lòng tự tin.

+  Tăng tính tự trọng.

+  Khuyến khích tinh thần tự lập.

+  Hiểu được ưu nhược điểm của bản thân.

+  Nhận thức được giá trị của lao động trong đời sống

+  Lượng giá điều trị.

2. NỘI DUNG THỰC HIỆN:

Mục đích:

+  Tu bổ cơ sở vật chất Trung tâm, nâng cao đời sống của học viên.

+  Tùy theo sức khỏe, trình độ, thời gian và kết quả học tập – rèn luyện, nguyện vọng của học viên mà bố trí việc làm, học nghề phù hợp.

  • Các bộ phận hiện có:

+  Lớp điện cơ.

+  Lớp điện lạnh.

+  Lớp cơ khí.

  • Lớp may mặc

+  Lớp sinh ngữ.

+  Bộ môn máy công cụ (Tiện – phay – hàn – bào).

+  Bộ môn mỹ nghệ.

 

GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRỊ BÁN TRÚ

I. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Tại Việt Nam phần lớn người cai nghiện sau thời gian điều trị tại trung tâm về ngay với cộng đồng vì những lý do chủ yếu như công việc làm ăn, kinh tế, khó khăn, thiếu hiểu biết,… thêm vào đó chúng ta có rất ít trung tâm làm tốt công tác điều trị trung chuyển từ cai nghiện nội trú qua giai đoạn tái hòa nhập cộng đồng. Kết quả là giai đoạn tái hoà nhập cộng đồng được thực hiện một cách cưỡng ép và thường dễ bị thất bại.Người cai nghiện từ trung tâm trở về cộng đồng dễ có tư tưởng hụt hẫng khi thay đổi môi trường một cách đột ngột. Do đó, sau thời gian cai nghiện nội trú và trước khi tái hòa nhập cộng đồng, người nghiện cần một thời gian điều trị bán trú để học cách thích nghi dần thông qua thử thách gọi là “giai đoạn chuyển tiếp”. Để giúp người cai nghiện tiếp tục duy trì một cuộc sống không ma túy thì quá trình hỗ trợ là một yếu tố rất cần thiết. Người cai nghiện vừa có thể tham gia các hoạt động ngoài xã hội như làm việchọc nghềhọc văn hóa … nhưng vẫn chịu sự quản lý chặt chẽ của Trung tâmNHÀ TRUNG CHUYỂN SẼ GIÚP HỌ TỪNG BƯỚC TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG. Để thực hiện tốt việc này người cai nghiện phải hiểu rằng mình phải chịu trách nhiệm chính đối với bản thân mình dưới sự hỗ trợ của cán bộ điều trị và tập thể.

Chương trình chuẩn bị tái hoà nhập cộng đồng cho người nghiện ma tuý là rất cần một sự liên tụcPhục hồi được gọi là thành công khi người nghiện có thể đương đầu được với các tình huống  sau khi họ được ra về từ NHÀ TRUNG CHUYỂN (HALFWAY HOUSE).

II. NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ TRUNG CHUYỂN:

Thông qua điều trị bán trú tại Nhà trung chuyển, người cai nghiện vẫn tiếp tục được quản lý tại Trung tâm nhưng vẫn có những cơ hội tiếp cận dần với các hoạt động ngoài xã hội, giải quyết những khó khăn của bản thân, trang bị bản lĩnhkỹ năng sống. Người cai nghiện được sự hỗ trợ cần thiết để cho họ thay đổi dần trước khi hòa nhập lại cộng đồng. Để thực hiện tốt mục tiêu trên cần sự hợp tác chặt chẽ giữa Trung tâm – học viên và gia đìnhTinh thần hợp tác và ý thức tự giác của học viên là vô cùng quan trọng.

1. MỤC ĐÍCH THÀNH LẬP KHOA ĐIỀU TRỊ BÁN TRÚ:

1.1 Giúp người đã cai nghiện củng cố những kỹ năng cần thiết cho cuộc sống bình thường, tập thích nghi dần với các sinh hoạt tại cộng đồng.

1.2 Khuyến khích người đã cai nghiện tham gia các hoạt động để họ cảm thấy mình còn có ích, vẫn còn khả năng, có ý thức về bổn phận vàtrách nhiệm.

1.3 Người đã cai nghiện được mạng lưới hỗ trợ xã hội giúp đỡ để gắn kết với những người bình thường.

1.4 Giúp người đã cai duy trì ý thức làm chủ bản thân và trách nhiệm với cuộc sống của mình.

1.5 Đối tượng được tiếp tục kiểm tra việc sử dụng ma túy để có những biện pháp xử lý kịp thời.

1.6 Tất cả mọi người đều có nhu cầu giao tiếptrao đổi tâm tư tình cảmsuy nghĩ. Riêng đối với người cai nghiện khi trở về cộng đồng khó có ngay bạn bè tốt mà lại phải tiếp cận với một số bạn bè xấu, tiêu cực, sử dụng ma túy. Đây là một nguy cơ rất lớn trong việc tái sử dụng ma túy của người cai nghiệnNhà trung chuyển sẽ là nơi người cai nghiện có điều kiện tiếp cận được những bạn bè đồng cảm – những bạn bè này đã từng sử dụng ma túy nhưng họ đã được giáo dục, rèn luyện một thời gian dài tại trung tâm, đồng thời họ cũng được tuyển chọn từ những người cai nghiện tốt.

2. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN:

Hồi phục là một quá trình phát triển liên tục, bao gồm các vấn đề sau:

2.1 Điều chỉnh về tâm lý: Giúp đối tượng chế ngự và xử lý những thèm nhớ ma tuý, những dấu hiệu cảnh báo tái nghiện, những nguyên nhân dẫn đến buồn chán, cô đơnthất vọngchấn thương tâm l‎ý.

2.2 Điều chỉnh về xã hộiGiải quyết các mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau, giữa cá nhân và gia đình, những căng thẳng trong cuộc sốngduy trì việc làm ổn định, những áp lực từ bạn bè  xã hộiquản lý tiền bạc và sự điều chỉnh với cuộc sống mới 

2.3 Cân bằng lối sốngThực hiện và tham gia các hoạt động xã hội, cân bằng giữa công việc  thời gian nhàn rỗi  Trung tâm có nhiệm vụ quản lý giờ giấc sinh hoạt, làm việc, học tập của học viên để người cai nghiện có lối sống trật tự, ngăn nắp.

2.4 Kế hoạch hồi phục dài hạnCó kế hoạch từng bước cho công tác cai nghiện.

2.5 Phát triển mạng lưới trợ giúp: Đây là một yếu tố quan trọng trong quá trình hỗ trợ người cai nghiện tiến đến sự hồi phục.

3. NỘI DUNG THỰC HIỆN:

Mô hình nhà bán trú đã giữ một vai trò rất quan trọng từ thập niên 1970. Một số nhà bán trú thuộc nhà thờ Thiên chúa đã được thành lập vào khoảng thời gian đó, gồm có tên là: Hiding Place (Nơi ẩn nấp), Helping Hand (Bàn tay giúp đỡ), và Teen Challenge (Thách thức tuổi thơ) … Các nhà bán trú này đã giúp đỡ hàng ngàn người nghiện kể từ khi đó. Yếu tố tinh thần tự giáclà nhân tố quyết định chính trong chương trình phục hồi của các nhà bán trú.

Chương trình điều trị trong giai đoạn này bao gồm:

3.1 Quản lý học viên:

Trong thời gian này người cai nghiện sẽ được phép đi ra ngoài làm việc,học nghềhọc văn hóa và quay về lại trung tâm khi đến giờ quy định. Quá trình này nên kéo dài ít nhất là 6 tháng.

Việc gặp gỡ giữa các học viên đã hoàn thành chương trình cai nghiện trở về tái hòa nhập cộng đồng là cần thiết để các thành viên có thể hỗ trợ nhau trao đổi tình cảm, kinh nghiệm trong cuộc sống.

3.2 Tư vấn – Tâm lý trị liệu – Giáo dục trị liệu:

Trong giai đoạn này người cai nghiện vẫn tiếp tục được sự giúp đỡ  và giám sát của cán bộ điều trị. Mọi mặt đời sống của họ được chăm sóc thông qua các buổi sinh hoạt và tư vấn cá nhân  nhómNgười đã cai, từng bước được phép về nhà để học cách thích nghi dần với cuộc sống và gia đình. Họ được khuyến khích bày tỏ các cảm xúc tích cực cũng như tiêu cực khi quay trở về nhà  về với cộng đồng. Đây là một cách tốt để điều chỉnh về hành vi  tâm lý của họ. Thông qua các biện pháp chuyên môn cán bộ điều trị sẽ sớm nhận biết các biểu hiện của người cai nghiện như thất vọng, bi quan là cực kỳ quan trọng để phát hiện  giải quyết kịp thời những khả năng gây tái nghiện. Tất cả những gì mà họ đã học được trong quá trình điều trị sẽ được bộc lộ ở giai đoạn này.

3.3 Kiểm tra việc tái sử dụng ma túy:

Học viên được thường xuyên xét nghiệm nước tiểu đột xuất và định kỳ tối thiểu 01 lần / 01 tuần để kịp thời phát hiện học viên tái sử dụng ma túy hay không để có biện pháp ngăn chặn kịp thời.

3.4 Người tư vấn đồng đẳng: 

Những người đã hoàn thành chương trình ở NHÀ TRUNG CHUYỂN (Halfway House) với kết quả đạt yêu cầu được xét làm người tư vấn đồng đẳng. Người tư vấn đồng đẳng cần có đầy đủ năng lực nghiệp vụ đề ra  thực hiện được vai trò của người giám sát. Người tư vấn đồng đẳng có thể được xem như là đầu đàn của tập thể học viên nội trúbán trú, người sẽ làm vai trò mẫu mực cho người cai nghiện, sẽ làm việc thường xuyên trong chương trình điều trị và được hưởng phụ cấp. Họ là những trợ lý cho các cán bộ điều trị trong hoạt động hàng ngày cũng như việc tiến hành chương trình cai nghiện. Là vai trò hình mẫu và vai trò hỗ trợ cho những vẫn còn đang điều trị, họ sẽ không chỉ thôi thúc người cai nghiện tiến đến cuộc sống không ma tuý, mà họ còn là những động lực để duy trì sự thành công trong việc hoà nhập xã hội của người cai nghiện. 

3.5 Sự quan hệ đối với gia đình và những người có ảnh hưởng:

Các thành viên gia đình được mời tham gia vào quá trình điều trị ngay khi người cai được đưa vào chương trình điều trị bán trúCán bộ điều trị giữ liên lạc đều đặn với các thành viên gia đình và các buổi sinh hoạt nhóm gia đình cũng được tiến hành đều đặn. Theo cách đó, các thành viên gia đình và những người có ảnh hưởng sẽ biết cách đóng vai trò hỗ trợ trong quá trình phục hồi của người cai nghiện. Sự hợp tác từ phía gia đình và của những người có ảnh hưởng là cực kỳ quan trọng để cán bộ điều trị nắm bắt được quá trình tiến bộ cá nhân của người cai nghiện.

3.6  Làm việc nhóm: 

Người tư vấn và những tình nguyện viên có kinh nghiệm tiến hành làm việc nhóm cho người nghiện đang phục hồi. Mục tiêu là giúp người nghiện sự điều chỉnh cho phù hợp vói một lối sống mới để hoà nhập với xã hội.

3.7 Giải quyết việc làm – tiếp tục theo học các chương trình văn hóa, đào tạo nghề: 

Người cai nghiện được tạo cơ hội để tự quản lý giờ giấc sinh hoạt bản thân, mặt khác họ được trao quyền tự chịu trách nhiệm với cuộc sống. Với tính tự giác cao, dưới sự kiểm soát chặt chẽ của trung tâm giúp nâng cao sự tự tin và lòng tự trọng của người cai nghiện, khích lệ và tạo động cơ cho họ thay đổi lối sống. 

Một số người cai nghiện là sinh viên – học sinh cần phải tiếp tục theo học ở các trường lớp. Vì lý do bỏ học và ma túy làm tổn thương hệ thống não bộnên việc theo học văn hóa sẽ gặp phải một số khó khăn.

3.8 Can thiệp gia đình: 

Gia đình cần tích cực trợ giúp họ. Điều này cực kỳ quan trọng bởi vì khi người cai nghiện trở về nhà họ cần tiếp sự hỗ trợ của gia đình để giúp họ phục hồi. Do có nhiều gia đình vẫn chưa biết cách giải quyết hay điều chỉnh khi có người nghiện trở về nên việc tư vấn gia đình là rất cần thiết. Các gia đình cần có sự hiểu biết tốt cách giúp đỡ những người thân yêu của mình khi trở về gia đình. Đôi khi có một số tình huống mà gia đình có thể trở thành những cản trở thay vì giúp đỡ sự phục hồi của người cai nghiện nếu gia đình không biết cách xử lý.

III. NHỮNG VẤN ĐỀ THƯỜNG GẶP ĐỐI VỚI NGƯỜI TƯ VẤN VÀ NGƯỜI CAI NGHIỆN:

Kết quả cai nghiện phụ thuộc vào khả năng giải quyết của người cai nghiện, họ phải sống theo một lối sống mới không ma tuý.

  1. KHẢ NĂNG GIẢI QUYẾT CỦA NGƯỜI CAI NGHIỆN ĐƯỢC QUYẾT ĐỊNH BỞI NHỮNG YẾU TỐ SAU:
  •  Mức độ tự tin và tính kiên nhẫn của cá nhân
  • Phát triển các giá trị khác nhau để bắt đầu lại
  • Gặp những người bạn mới không nghiện ma tuý hoặc đã cai nghiện thành công
  • Làm việc hàng ngày trong một môi trường mới
  1. KỸ NĂNG TƯ VẤN TRONG VIỆC TRANG BỊ KIẾN THỨC:

Người tư vấn cần dẫn bước người cai nghiện đi suốt quá trình học tập. Cá nhân đang phục hồi phải học cách đối phó một cách chủ động và quyết liệt khi họ rời khỏi chương trình bán trú, vì họ vẫn chưa hết rủi ro tái nghiện. Trong giai đoạn hỗ trợ điều trị nội trú và trước khi tái hoà nhập cộng đồngsự trợ giúp đưa ra phải đúng đắn, phù hợp và đúng lúcNhững trượt ngã là không thể tránh khỏi, do vậy, điều quan trọng là cá nhân đang phục hồi cần có một người thầy tốt để họ có thể có những sự giúp đỡ trước khi bị sa vào tình trạng tái nghiện. Việc giúp đỡ tư vấn này cần kéo dài ít nhất là một năm.

3. CÁCH TRỢ GIÚP NGƯỜI NGHIỆN ĐANG PHỤC HỒI:

–   Sự cần thiết về tâm lý: ý thức về những nhu cầu của đối tượng và lưu ý về những cái có thể gây tổn thương đối tượng.

–   Cách tiếp cận: Coi đối tượng là trung tâm chứ không phải là việc điều trị và cần vô tư, bày tỏ sự ấm áp, niềm nở và quan tâm.

–   Quyết định thời điểm: Khi đối tượng sẵn sàng phục hồi thì cần đưa ra những trợ giúp cần thiết.

–   Sự tận tâm giúp đỡ: Có mặt cùng đối tượng khi cần, giúp đỡ và cần phải chắc chắn.

–   Môi trường: Cần có nơi thuận lợi, tạo điều kiện phù hợp cho công tác cai nghiện phục hồi.

–   Việc chăm sóc: phải tôn trọng, không xúc phạm đối tượng và cónội quyquy định cụ thể

–   Việc kiểm tra – giám sát: Thông qua các biện pháp thử thách vàtheo dõi, có quy định cụ thể.

Việc trang bị cho người cai nghiện đang phục hồi những kỹ năng sống vànghề nghiệp có tầm quan trọng to lớn. Khái niệm việc làm được xem là một yếu tố cơ bản. Tầm quan trọng của việc học nghềhọc văn hóa được đặt trọng tâm chủ yếu ở phần điều trị bán trú. Nó nằm ở sự nhận thức về chính bản thân; có đóng góp tài chính cho gia đình được coi trọng vànâng sự tự tin lên. Lòng tự trọng thấp và sự tự tin nghèo nàn luôn song hành với tình trạng thất nghiệp. Do vậy, việc học kinh nghiệm thông qua thái độ và cách ứng xử trong công việc cần được xem là một phần của chương trình phục hồi. Việc đặt ra trách nhiệm cùng công việc (nghề nghiệp) được xem là một phần của chương trình điều trị sẽ chắc chắn đem lại sự hoà nhập cho người cai nghiện quay trở về với xã hội.

Phải giúp đỡ người cai nghiện bằng cách khơi dậy cách nhìn nhận về những điều tốt đẹpcó ý nghĩa trong cuộc sống thay vì việc phải dùng đến ma tuý hay những thứ gây hại khác.

Việc tìm hiểu các yếu tố cần thiết trong việc hỗ trợ sau cai và tái hoà nhập cộng đồng là để xác định những nhu cầu của đối tượng trong cuộc sống, để đề ra những trợ giúp về tinh thần và để nâng cao nhận thức về xã hội. Đối tượng cần được giúp đỡ để nhận ra và giải quyết những tâm tư khúc mắc của họ khi tái hoà nhập cộng đồng.

Định hướng trong giai đoạn này là đáp ứng nhu cầu của đối tượng để đảm bảo họ sẵn sàng tiến tới kết quả thực sự. Do đó điều cơ bản là cán bộ điều trị vừa có thể tạo lập được sự đánh giá lại vừa xây dựng kế hoạch điều trị có sự tham gia của đối tượng. Sự đồng ý và quyết tâm phục hồi của đối tượng là điều căn bản, nó là động lực cổ vũ họ đổi mớisẽ phục hồi họ một cách toàn diện, và nối tiếp là sự hoà nhập xã hội thành công của họ.

IV. KẾT LUẬN:

Nghiện ma túy là một bệnh não mãn tính có đặc tính dễ tái nghiện, việcđiều trị phải kiên trì nắm bắt kịp thời tâm tư, tình cảm sinh hoạt của đối tượng để có sự điều chỉnh phù hợp. Chúng ta không nên quá hoảng hốt khi một người đã cai nghiện ma túy tái sử dụng ma túy. Vấn đề chính làphải phát hiện sớm – điều trị sớm để tránh những tổn thương hệ thống não bộ, hình thành thói quen xấu.

Công tác cai nghiện phải xác định là khó khăn, lâu dài. Mục đích cai nghiện là thúc đẩy nhanh quy trình cai nghiện bằng những biện pháp khoa học, trong đó có công tác tư vấn – Tâm lý trị liệu – Giáo dục trị liệu và các liệu pháp xã hội là chủ yếu.

Để cai nghiện ma túy thành công cần có những bước đi thích hợpNgôi nhà trung chuyển là bước đệm cần thiết cho người cai nghiện chuyển từ cai nghiện nội trú qua tái hòa nhập cộng đồng.

preview

preview

GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ

  1. ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU TRỊ:

    1. Các học viên sử dụng ma túy nhóm OMH (Thuốc phiện – Morphim- Heroin)
    2. Các học viên nghiện các loại ma túy khác (hàng đá, cần sa, cỏ mỹ ….) đã qua giai đoạn điều trị bán trú.
  2. ĐIỀU TRỊ CHO ĐỐI TƯỢNG NGHIỆN NHÓM OMH 
    XEM CHI TIẾT XIN BẤM VÀO ĐÂY (4) 

    XEM CHI TIẾT XIN BẤM VÀO ĐÂY (5) 

XEM CHI TIẾT XIN BẤM VÀO ĐÂY (6) 

Phải thông qua 2 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1: Điều trị nội trú, thời gian tối thiểu là 1 tháng
  • Giai đoạn 2: Điều trị ngoại trú thời gian tối thiểu 1 năm
  1. NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ

Khi học viên uống thuốc Naltrexone sẽ không còn cảm giác thèm nhớ và thích thú khi sử dụng Heroin.

1.1 Tuy nhiên học viên cần có một thời gian điều trị nội trú tối thiểu là 1 tháng để học tập, rèn luyện nhằm phục hồi một phần về nhận thức, hành vi, nhân cách và hiểu biết một số kiến thức tối thiểu những kỹ năng từ chối, kỹ năng đối phó khi gặp sự lôi kéo của bạn bè tiếp tục sử dụng heroin.

1.2  Do đặc tính sử dụng Naltrexone học viên quên dần ma túy chứ không quên ngay được nên việc điều trị nội trú một thời gian là rất cần thiết.

2. NỘI DUNG ĐIỀU TRỊ:

2.1. Học viên uống thuốc một tuần 3 lần vào bất cứ thời gian nào trong ngày.

2.2 Thường xuyên xét nghiệm nước tiểu để kịp thời phát hiện học viên có tái sử dụng ma túy hay không hoặc chuyển đổi sử dụng loại ma túy khác để có biện pháp giải quyết phù hợp.

2.3 Học viên được tiếp tục tư vấn tâm lý trị liệu để:

  • Giúp bệnh nhân hiểu và có thể đương đầu với áp lực của bạn bè cũphe nhóm xấu muốn họ tái nghiện.
  • Nếu bệnh nhân bị vui hay buồn quá độ, giúp họ nhận ra tình trạng bất thường ấy để tìm cách vượt qua.
  • Nếu bệnh nhân có những nhận thức sai lạc, giúp họ cách xử lý chúng.
  • Giúp bệnh nhân hướng tới một lối sống điều độ, cân bằng.
  • Giúp bệnh nhân tự xây dựng cho mình những biện pháp phòng chống sa ngã và tái nghiện.
  • Học viên sinh hoạt bình thường nên có thể tự đi học – tự đi làm tăng thêm thu nhập cho gia đình và gia đình không còn sợ cảnh học viên trộm cắp đồ đạc trong gia đình hoặc vi phạm hình sự.

3) BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:

  • Kiên trì đeo bám từng học viên để họ không bỏ chương trình.
  • Đặt vấn đề Giáp dục – Tư vấn – Tâm lý trị liệu nhằm Gọt giũa – điều chỉnh – phục hồi nhận thức hành vi – nhân cách là chủ yếu. Uống thuốc là biện pháp hỗ trợ.
  • Thực hiện một cách khoa học, kết hợp, đồng bộ, xuyên suốt, khép kín, kịp thời, linh hoạt.
  • Học viên không vào uống thuốc sẽ được nhắc nhở liên tục trong ngày, thông báo gia đình. 100% gia đình học viên có số điện thoại của tất cả CBNV KHOA CHỐNG TÁI NGHIỆN để kịp thời thông báo và giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến học viên.
  • Khoa phục vụ 24/24h mỗi ngày.
  • Học viên được điều trị ngoại trú có một thời gian dài để gọt giũa – điều chỉnh – phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách mà không ảnh hưởng đến sinh hoạt – học tập và tình cảm cá nhân cũng như gia đình – chi phí điều trị cũng giảm hơn 60% so với điều trị tập trung.
  • Khoa có rất nhiều tư liệu về ma túy. CBNV Khoa thường xuyên được tập huấn về công tác cai nghiện – phục hồi.
  • Củng cố cơ sở vật chất tạo điều kiện vui chơi, giải trí. Học viên đến uống thuốc được sử dụng toàn bộ câu lạc bộ. Mỗi tháng Khoa tổ chức cho học viên ngoại trú kết hợp với học viên bán trú sinh hoạt nhóm, kết hợp với dã ngoại và tổchức liên hoan vào các dịp lễ, tếtTrung tâm chịu mọi chi phí,để lôi kéo học viên uống thuốc Naltrexone.
  • Khoa thành lập Câu lạc bộ Khoa trực thuộc Hội LHTN VN Công ty gồm các Đoàn viên, Hội viên Khoa và các học viên điều trị ngoại trú, để hổ trợ học viên về tinh thần – xây dựng niềm tin và lòng tự trọng của học viên.

4. QUAN HỆ HỌC VIÊN TRUNG TÂM – GIA ĐÌNH – CỘNG ĐỒNGlà vô cùng cần thiết. Sau thời gian điều trị ngoại trú bằng thuốc Naltrexone tối thiểu 1 nămtiếp tục theo dõi học viên có tái sử dụng ma túy hay không bằng cách xét nghiệm thường xuyên nước tiểu để phát hiện chất ma túyThời gian theo dõi nước tiểu tối thiểu là 1 năm. Học viên nếu tái sử dụng ma túy điều trị lại từ đầu. Do phát hiện kịp thời nên giảm được tác hại của ma túy, học viên phục hồi nhanh.

II. ĐIỀU TRỊ CHO ĐỐI TƯỢNG SAU GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRỊ BÁN TRÚ:

Đối tượng sau giai đoạn điều trị bán trú một năm có thể tham gia chương trình này. Do Naltrexone chỉ có tác dụng trên đối tượng sử dụng nhóm OMH (Heroin – Morphim – Thuốc phiện) nên không điều trị bằng Naltrexone cho học viên cai nghiện sử dụng các loại ma túy khác mà chỉ theo dõi học viên có tái sử dụng ma túy hay không (thông qua xét nghiệm nhằm phát hiện ma túy trong nước tiểu), kết hợp với biện pháp: Tư vấn – Tâm lý trị liệu – Giáo dục trị liệu.

HÌNH ẢNH TỔN THƯƠNG NÃO BỘ NGHIÊM TRỌNG

 TRÊN NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY:

 

MA TÚY:

NÃO BỆNH NHÂN NGHIỆN HÀNG ĐÁ (METHAMPHETAMINE)

ma tuy

 ma tuy

ma tuy

ma tuy

ma tuy

 

ma tuy

ma tuy

 

ma tuy

ma tuy

 

MA TÚY – HIỂM HỌA CỦA SỨC KHỎE CON NGƯỜI

TRẦN VIỆT TRUNG

Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Trợ giúp

cộng đồng phòng, chống HIV/AIDS

 

Ma túy đang hàng ngày hủy hoại biết bao tâm hồn, giết chết nhiều nhân mạng và hơn thế nữa, phá vỡ cuộc sống bình yên của hàng vạn gia đình và đe dọa an ninh trật tự xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới. Đồng minh ma quỷ của ma túy là bệnh tật và HIV/AIDS. Ngày 26/6 hàng năm là ngày Liên Hợp Quốc lấy làm ngày Quốc tế phòng, chống ma túy và đối với nước ta là ngày Toàn dân phòng, chống ma túy. Nhân ngày 26/6/2013, chúng tôi xin giới thiệu bài viết của ông Trần Việt Trung-nguyên Phó cục trưởng Cục Phòng, chống Tệ nạn xã hội, hiện là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Trợ giúp cộng đồng phòng, chống HIV/AIDS thuộc Hội Phòng, chống HIV/AIDS Việt Nam.

 

        Đứng  trước  hiểm họa to lớn mang tính toàn cầu của tệ nạn ma túy đối với từng quốc gia nói riêng và cả nhân loại nói chung, cách đây trên 26 năm, bắt đầu từ năm 1987, Liên Hợp Quốc đã ra Nghị quyết lấy ngày 26 tháng 6 làm ngày Quốc tế phòng chống ma túy và từ đó, nhân ngày này hàng năm, Liên Hợp Quốc đưa ra các thông điệp với các chủ đề khác nhau, mang ý nghĩa như một lời kêu gọi các quốc gia trên thế giới cần tập trung các hoạt động phòng chống, kiểm soát ma túy theo định hướng về một vấn đề bức xúc, cấp thiết trong từng thời kỳ.

        Hưởng ứng ngày Quốc tế phòng chống ma túy của Liên Hợp Quốc, từ năm 2001, Chính phủ Việt Nam đã quyết định lấy ngày 26/6 hàng năm là ngày “Toàn dân phòng chống ma túy”. Như vậy, song song với việc hưởng ứng thông điệp và chủ đề phòng chống, kiểm soát ma túy của Liên Hợp Quốc, hàng năm Chính phủ phát động những tháng cao điểm phòng chống ma túy với nhiều hoạt động trên các lĩnh vực công tác phòng chống, kiểm soát ma túy, trong đó có chỉ đạo trọng tâm theo từng chủ đề của Liên Hợp Quốc đưa ra hàng năm.

       Gần đây, việc xuất hiện các chất mới có tác dụng tâm thần (tên tiếng Anh viết tắt là NPS), có đặc tính dược lý và tác dụng tương tự như các loại chất đã được biết đến trước đó nhưng nằm ngoài danh mục các chất bị kiểm soát theo Công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc và được mua bán một cách hợp pháp tại nhiều quốc gia đã gây nhiều khó khăn cho các cơ quan chức năng. Do đó, năm nay Liên Hợp Quốc đưa ra Thông điệp nhân ngày 26/6 kêu gọi cộng đồng quốc tế hãy xây dựng một cuộc sống lành mạnh, đề cao việc rèn luyện sức khỏe để tránh xa ma túy: “Hãy bằng sức khỏe của bạn “thăng hoa” trong cuộc sống, không cần ma túy” (Tên gốc tiếng Anh: “Make health your “new high” in life, not drugs”).

 

      1. SỰ TRỞ LẠI CỦA MỘT LOẠI TỆ NẠN:

       Cho tới nay, không ai khẳng định được cây thuốc phiện (còn gọi là cây Anh túc) được đưa vào trồng ở Việt Nam bằng cách nào và từ bao giờ. Tuy nhiên, ta thấy trong các văn bản của Nhà Nguyễn để lại về các điều Luật và Hình phạt thì đã có nhiều nội dung liên quan tới những hành vi buôn bán và sử dụng thuốc phiện. Phải chăng vào cuối thế kỷ XIX, tương tự nhà Thanh bên Trung Quốc khi chịu khuất phục Đế quốc Anh sau hai cuộc Chiến tranh nha phiến Lần thứ nhất (năm 1840) và Lần thứ hai (năm 1855) đã phải để cho thuốc phiện tràn lan ở Trung Quốc thì ở Việt Nam, Triều đình nhà Nguyễn phải cay đắng chấp nhận dã tâm của thực dân Pháp cho trồng và sử dụng thuốc phiện ở miền Bắc nước ta sau khi Bắc Kỳ trở thành thuộc địa của chúng. Với việc cho trồng, sử dụng tự do thuốc phiện ở nước ta, thực dân Pháp nhằm 2 mục đích: phục vụ bọn quan lại thực dân phong kiến cùng đội quân viễn chinh của chúng và đầu độc dân ta bằng ma túy cả về sức khỏe và tinh thần. Chúng định dùng ma túy làm tê liệt lòng yêu nước và ý chí đấu tranh giành độc lập tự do của dân tộc Việt Nam. Nhưng chúng đã lầm, thời Pháp thuộc, người dùng thuốc phiện chỉ tập trung ở một vài thành phố lớn, trong hàng ngũ quan lại hoặc công chức, trí thức làm việc cho Pháp. Còn với đại đa số nhân dân ta, đó là trò chơi hoàn toàn xa lạ.

      Sau Cách mạng tháng 8/1945, Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cấm trồng , buôn bán và sử dụng ma túy ngoài mục đích y tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi việc xóa bỏ tệ nạn ma túy là một trong những nhiệm vụ cấp bách trước tiên của Nhà nước Việt Nam non trẻ. Người đã ra Lời kêu gọi: “Tôi đề nghị đồng bào tuyệt đối cấm hút thuốc phiện”. Sau Hiệp định hòa bình Giơ-ne-vơ (7/1954) miền Bắc bước vào con đường xây dựng Chủ nghĩa Xã hội, tiếp tục chủ trương kiên quyết xóa bỏ tệ nghiện ma túy ở nước ta. Cho tới đầu thập kỷ 80 (giai đoạn 1984-1985), tệ trồng và sử dụng thuốc phiện ở miền Bắc nước ta đã giải quyết được cơ bản và có thể nói hầu như đã bị xóa bỏ. Chỉ còn rải rác một số tỉnh miền núi cao phía Bắc trồng với sản lượng không đáng kể và chủ yếu là người già dân tộc thiểu số hút theo thói quen lâu đời khó bỏ. Ở miền Nam, dưới chế độ thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ, tệ nạn ma túy bùng phát với phạm vi, quy mô lớn để phục vụ cho mưu đồ làm giàu cá nhân của những tướng lĩnh ngụy quân, chóp bu ngụy quyền Sài Gòn. Họ chuyển ma túy bằng tàu xe, quân đội, thậm chí lợi dụng chuyên cơ buôn bán ma túy từ Tam giác Vàng về Việt Nam. Sau ngày giải phóng miền Nam, chế độ cũ đã để lại hơn 170.000 người nghiện hút, chích ma túy (xì ke) cùng với những vấn đề phức tạp nhiều mặt về kinh tế-xã hội đất nước. Một lần nữa, chúng ta lại bắt tay vào giải quyết những hậu quả của chiến tranh, trong đó có một công việc nặng nề là chữa trị, giáo dục và cai nghiện cho những người nghiện ma túy ở phía Nam. Với sự nỗ lực của toàn dân, toàn xã hội, chúng ta đã cải tạo, hoàn lương hơn 100.000 người nghiện, đưa họ trở lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc như các công dân khác trong xã hội. Kết quả, đầu những năm 80, theo số liệu của các cơ quan chức năng, cả nước chỉ còn khoảng 30.000 – 40.000 người nghiện ma túy.

        Vào cuối những năm 80, do nhiều nguyên nhân khác nhau, tệ nạn xã hội nói chung, tệ nghiện ma túy nói riêng lại hồi sinh, nảy nở và phát triển mau chóng. Sự mở cửa và những mặt trái của kinh tế thị trường đã tác động tiêu cực tới một số lĩnh vực đời sống kinh tế – xã hội của đất nước. Nạn tái trồng cây thuốc phiện ở một số tỉnh miền núi phía Bắc kéo theo tệ nghiện ma túy đã phục hồi và lây lan nhanh chóng nhiều nơi và trong các tầng lớp dân cư, đặc biệt trong lứa tuổi thanh thiếu niên.

    2. SỰ GIA TĂNG SỐ LƯỢNG NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY.

       Trong thời kỳ những năm 2000 – 2008, sự gia tăng nhanh chóng số lượng người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý do nhiều nguyên nhân. Bên cạnh một số người nghiện mới gia tăng, phần lớn là số người nghiện cũ nay mới được phát hiện hoặc tự khai báo và đăng ký các hình thức cai nghiện. Số liệu gia tăng người nghiện của thành phố Hồ Chí Minh là một biểu hiện rõ nét: vào cuối năm 2000 có 15.000 người nghiện có hồ sơ quản lý, đến tháng 12/2008 đã có hơn 32.000 người nghiện được cai tập trung tại 17 cơ sở cai nghiện của thành phố. Tại tỉnh Sơn La, một địa phương nghèo của miền núi phía Bắc, năm2000 mới có khoảng 4.000 người nghiện có hồ sơ quản lý thì tới năm 2008 đã phát hiện trên 16.000 người nghiện và nếu kể cả số nghi nghiện thì con số trên lên tới 23.000 người! Tình hình ở nhiều địa phương khác cũng tương tự như vậy. Những năm gần đây, mặc dù chúng ta đạt được nhiều thành tích, kết quả đáng mừng trong các hoạt động ngăn chặn và triệt phá các đường dây buôn bán, vận chuyển và ổ nhóm tổ chức sử dụng ma túy, trong công tác cai nghiện và giải quyết các vấn đề sau cai nghiện nhưng tình hình tệ nạn ma túy vẫn diễn biến phức tạp, số người nghiện giảm không đáng kể, thậm chí có nhiều địa bàn, nhiều địa phương số người nghiện còn gia tăng nhanh chóng. Tính đến ngày 31/12/2012, số người nghiện có hồ sơ quản lý của cả nước là 171.000 người, giảm so với năm 2007 (178.000 người) nhưng lại tăng so với năm 2010 (132.000 người)

        Thời gian qua, mặc dù các đường dây, ổ nhóm buôn bán, vận chuyển ma túy lớn ở trong nước và cả xuyên quốc gia bị truy quét, triệt phá mạnh nhưng bằng nhiều con đường, ma tuý vẫn thẩm lậu khá nhiều vào nước ta và hệ thống, mạng lưới bán lẻ ly ti ở khắp nơi vẫn chưa bị xóa bỏ cơ bản, vẫn là nguồn cung cấp ma túy dồi dào cho dân nghiện. Điều nguy hiểm hơn là sự xuất hiện ngày càng nhiều ở một số địa phương, đặc biệt ở các thành phố lớn, các loại ma túy tổng hợp dạng kích thích (ATS, Estasy)… với mức độ độc hại rất cao, lại dễ vận chuyển, dễ bán lẻ trao tay, sử dụng bằng đường uống như các loại tân dược thông thường hoặc các dụng cụ hút hít đơn giản đang là nguy cơ làm gia tăng nhanh chóng số người nghiện ở nước ta, đặc biệt trong lứa tuổi trẻ. Gần đây, giới ăn chơi nhiều tiền trong thanh niên đang sử dụng loại ma túy mới được gọi là hàng “đá” (một dạng của Methammetamine) với cách hút, hít bằng các dụng cụ dễ tự chế. Đây là loại ma tuý hết sức nguy hiểm tới thần kinh và sức khỏe con người. Ma túy là kẻ đồng hành với tội phạm, bệnh tật và đại dịch HIV/AIDS. Khoảng trên 60% trong số trên 272.000 người nhiễm HIV/AIDS được phát hiện cho tới nay còn sống bị lây truyền do qua con đường tiêm chích ma túy.

        3. MỘT CUỘC CHIẾN GAY GO VÀ PHỨC TẠP:

        Trước sự lây lan, phát triển nhanh chóng tệ nạn ma túy, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, đường lối và chính sách kịp thời, kiên quyết về phòng, chống và kiểm soát ma túy. Nghị quyết 06/CP ngày 29/1/1993 được mở đầu như hiệu lệnh cho một cuộc chiến mới với ma túy được chính thức phát động. Đồng thời Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng cũng ban hành nhiều Chỉ thị về lãnh đạo, chỉ đạo cuộc đấu tranh ngăn chặn sự lây lan, phát triển của tệ nạn ma túy, coi đó là một nhiệm vụ rất quan trọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội. Những nội dung công tác và cũng là nhiệm vụ chủ yếu được đặt ra là: Làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục trong quần chúng nhân dân về tác hại, hiểm họa cả trước mắt và lâu dài của tệ nạn ma túy, vềcác chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta và công tác phòng, chống tệ nạn ma túy để mọi người dân hiểu, đồng tình ủng hộ và tham gia cuộc đấu tranh chung; vận động, thuyết phục đồng bào miền núi không trồng cây thuốc phiện và chuyển sang trồng loại cây khác; tổ chức chữa bệnh, giáo dục, dạy nghề và tìm kiếm việc làm cho người nghiện ma túy; phát hiện và trừng trị nghiêm bọn tội phạm. Song song với sự ra đời các văn bản pháp luật, hệ thống tổ chức bộ máy từ cơ quan chỉ đạo, tham mưu giúp việc cho tới các cơ quan chuyên trách của các ngành chức năng được hình thành, củng cố. Công tác phòng, chống ma túy do Chính phủ phát động đã được sự hưởng ứng, tham gia tích cực của các Bộ, Ngành, Đoàn thể Trung ương, các địa phương và cơ sở cũng như của toàn dân và toàn xã hội.

        ​Tuy nhiên, ma túy tựa con quái vật khổng lồ chặt đứt vòi này, lại mọc vòi khác. Cũng như tệ nạn mại dâm, tệ buôn ma túy đem lại những món lợi lớn cho những kẻ ham tiền liều mạng. Với lãi suất thông thường từ 5-7 lần cho tới hàng chục lần nếu bán tận tay người nghiện (thậm chí nếu trung chuyển được sang một số quốc gia khác có thể lên tới hàng trăm lần) thì bọn tội phạm không trừ một thủ đoạn nào, một mưu mô, phương kế hiểm độc nào để thực hiện những hành vi phạm tội và trốn tránh pháp luật. Đường dây buôn bán, vận chuyển ma túy ngày càng trở nên có quy mô, tổ chức lớn, phức tạp, từ những đường dây xuyên quốc gia, liên tỉnh cho tới mạng lưới bán lẻ với hàng vạn chiếc vòi nhỏ vươn tới từng ngõ hẻm, trường học, vườn hoa, nơi sinh hoạt công cộng… tại các đô thị, thành phố lớn đến tận những làng quê heo hút, nghèo nàn. Cuộc đấu tranh với tệ nạn ma túy trên các lĩnh vực giảm cung giảm cầu đòi hỏi lòng quyết tâm, sự dũng cảm, tính kiên trì và linh hoạt của những người làm công tác phòng, chống tệ nạn ma túy, trước hết là những người hàng ngày đối mặt trực tiếp với tệ nạn này. Cuộc chiến với ma túy vẫn đang là một mặt trận nóng bỏng, đầy hiểm nguy và đổ máu, hy sinh.

      4. MỐI QUAN HỆ CUNG CẦU:

      Trong cuộc đấu tranh này, cung và cầu về ma túy có mối quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau. Nguồn cung bị chặt mạnh sẽ làm có tác động làm giảm cầu và ngược lại, giảm mạnh cầu có hiệu quả góp phần hạn chế cung. Một số địa phương tuy nghèo nhưng vì là vùng giáp biên hoặc nằm trên trục đường buôn bán, vận chuyển ma túy từ nước ngoài vào Việt Nam nên có số người nghiện khá cao như Điện Biên, Sơn La, Lao Cai, Nghệ An…Mặt khác tại những thành phố lớn hoặc nơi tập trung dân cư, khu công nghiệp, du lịch v.v do các tệ nạn xã hội lây lan, phát triển mạnh đã kéo theo tệ buôn bán, tổ chức sử dụng ma túy trên nhiều địa bàn, trong nhiều lứa tuổi, dẫn tới gia tăng tệ nghiện hút, chích ma túy, đặc biệt là thanh, thiếu niên. Không ít gia đình vừa có người nghiện ma túy vừa có người tham gia các tội phạm về buôn bán hoặc tổ chức sử dụng ma túy. Thực tế trên đòi hỏi trong cuộc đấu tranh, ngăn chặn tệ nạn ma túy, không thể thiên về mặt nào và cũng không thể chỉ một Bộ, ngành nào đảm nhiệm, mà phải là sự đồng tâm, hiệp lực của toàn dân, toàn xã hội trong cuộc đấu tranh đầy gian khó, phức tạp này. Nếu không, mọi sự nỗ lực, cố gắng của chúng ta sẽ chỉ là uổng công, vô nghĩa./.

Phạm tội do “ngáo đá”: Xử phạt như thế nào?

(Chinhphu.vn) – Từ lúc ma túy đá xuất hiện ở Việt Nam, đã có nhiều vụ thảm án mà hung thủ thực hiện trong cơn cuồng loạn. Người bị “ngáo đá” có các biểu hiện gần như giống với bệnh tâm thần phân liệt nhưng mức độ nguy hiểm hơn. “Ngáo đá” gây hoang tưởng tâm thần nhưng có phải là tình tiết giảm nhẹ khi xử án?

 

Đối tượng "ngáo đá" cầm kéo khống chế người yêu. Ảnh minh họa

Ma túy đá có chứa chất dạng Methamphetamine hoặc Amphetamine được tổng hợp từ các hóa chất. Ngoài tác dụng gây “phê” như heroin, thuốc lắc, ma túy đá còn khiến người sử dụng sẽ trở nên hung hãn, tinh thần hưng phấn, thần kinh bị rối loạn, mất khả năng làm chủ hành vi.

Từ lúc ma túy đá xuất hiện ở Việt Nam, đã có nhiều vụ thảm án mà hung thủ thực hiện trong cơn cuồng loạn, như trường hợp một ca sĩ ở Hưng Yên lên cơn “ngáo đá” đã giết người yêu chỉ vì nghĩ cô này là quỷ. Hay nam thanh niên tại Mỹ Đức (Hà Nội) dùng dao đâm trọng thương bố mẹ và em trai, sau đó tự tử.

Vậy người “ngáo đá” có được hiểu là mất năng lực hành vi dân sự? Và những kẻ phạm tội do tình trạng "ngáo đá" sẽ bị xử phạt như thế nào?

Xử như thường  

Theo ý kiến của chuyên gia, dưới góc độ luật pháp, “ngáo đá” có thể khiến người sử dụng ma túy gây các tội ác trong tình trạng loạn thần nặng nhưng không phải là tình tiết giảm nhẹ. Pháp luật đã có quy định về trường hợp người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc các chất kích thích mạnh khác vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự và “ngáo đá” cũng không ngoại lệ.

TS. Ngô Văn Vinh, Viện trưởng Viện Giám định Pháp y tâm thần Trung ương cho rằng, người  “ngáo đá” có triệu chứng của tâm thần dưới góc độ khoa học. Nhưng dưới góc độ pháp luật, “ngáo đá” chính là hậu quả của hành vi sử dụng ma túy gây ảo giác. Một khi đã xác định đây chính là hậu quả của hành vi sử dụng ma túy gây ảo giác thì phải giám định rất kỹ để đánh giá được việc sử dụng ra sao, mức độ ảnh hưởng thần kinh đến đâu.

Luật sư Lê Văn Đài, Văn phòng luật sư Khánh Hưng, Đoàn luật sư Hà Nội cho biết, ở góc độ y học, sau khi sử dụng Methamphetamine, người “ngáo đá” có triệu chứng của người mắc bệnh tâm thần, tách rời khỏi thực tại (ảo tưởng) hoặc ảo giác. 

Còn ở góc độ pháp lý, người bị “ngáo đá” là hậu quả của hành vi chủ động, không vô thức khi bắt đầu sử dụng chất ma túy (là một loại chất kích thích mạnh), do đó, pháp luật hiện hành không coi họ là người mắc bệnh tâm thần và không có cơ sở đề nghị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

Pháp luật chưa có quy định riêng biệt đối với người phạm tội trong tình trạng bị kích thích do nghiện ma túy, do “ngáo đá”, nhưng ở Điều 14 Bộ luật Hình sự đã có quy định chung là người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

Trường hợp người “ngáo đá” phạm tội thì cũng tương tự người phạm tội trong tình trạng say rượu hoặc chất kích thích mạnh khác, đều phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm đã gây ra.

Hoàng Anh

Bắt quả tang ‘ông Tây’ trồng cần sa trong nhà để ‘xài dần’

http://doctinnhanh.net

Tại nhà Pierce Alan Grant, công an thu giữ được 800g cần sa khô và một số công cụ để trồng, chế biến, sử dụng cần sa. 

vung tau nguoi dan ong quoc tich my trong can sa trong nha de su dung
Cần sa được trồng ngay trong nhà ông Pierce Alan Grant. Ảnh: Pháp luật Việt Nam

Ngày 18/1, Công an Tp. Vũng Tàu cho biết, đã phát hiện vụ trồng cần sa trong một căn nhà ở P.2, Tp. Vũng Tàu do người nước ngoài thực hiện.

Theo Thanh niên, công an đã tiến hành kiểm tra nhà số 3/6 Ngô Văn Huyền (P.2, Tp.Vũng Tàu), phát hiện Pierce Alan Grant trồng cây cần sa trong căn nhà này.

Pierce Alan Grant khai nhận đã sử dụng căn nhà nói trên để trồng cây cần sa, chế biến và sử dụng trong suốt thời gian qua.

Tại hiện trường, cơ quan Công an thu giữ 800 gr cần sa khô và một số công cụ để chế biến, sử dụng cần sa.

Một cán bộ công an cho biết trên Pháp luật Việt Nam, cần sa là loại cây chứa tiền chất ma túy. Cần sa chứa độc tính và gây nghiện rất cao không thua kém gì so với heroin, khi sử dụng sẽ có những ảo giác, làm sai lệch về thần kinh.

Hôm Mai (Tổng hợp)

 

Xét nghiệm cocaine chính xác 99% chỉ mất vài giây – bước đột phá chưa từng có về phòng chống ma túy

Xét nghiệm cocaine chính xác 99% chỉ mất vài giây – bước đột phá chưa từng có về phòng chống ma túy

Với độ chính xác 99%, phương pháp xét nghiệm ma túy này được đánh giá là một bước đột phá chưa từng có.

Mới đây, các chuyên gia Hà Lan đã công bố một phương pháp được xem là "đột phá chưa từng có" trong lĩnh vực xét nghiệm tàn dư chất kích thích, cả về độ chính xác, sự thuận tiện, và đặc biệt là tốc độ xét nghiệm.

Biết rằng hiện tại, việc xét nghiệm ma túy được thực hiện qua 4 phương pháp chính: xét nghiệm nước tiểu, máu, nước bọt và tóc. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu tại ĐH Surrey (Hà Lan) chỉ cần xét đến vân tay là biết được trước đó người này có dùng cocaine hay không.

Xét nghiệm cocaine chính xác 99% chỉ mất vài giây - bước đột phá chưa từng có về phòng chống ma túy - Ảnh 1.

Cụ thể, các chuyên gia cho rằng khi sử dụng cocaine, vân tay của mỗi người sẽ hình thành một số hóa chất chỉ thị, gồm benzoylecgonine hoặc methylecgonine. Những hóa chất này sẽ lưu lại trong một khoảng thời gian khá dài, dù bạn có rửa tay hay không.

Họ sẽ sử dụng một loại giấy sắc ký (chromatography – giấy chỉ thị màu dùng trong phân tích hóa chất) đặc biệt. Dấu vân tay khi đặt vào đây sẽ được phân tách các hợp chất bên trong, tác động cùng một số hóa chất để đưa ra được kết quả chính xác.

Trong nghiên cứu, nhóm đã thử xét nghiệm 239 mẫu vân tay. Và kết quả thực sự đáng giật mình, khi tỉ lệ xét nghiệm đúng lên tới 99%. Dù chưa hoàn hảo, nhưng rõ ràng đây là một thành tựu thực sự ấn tượng.

Xét nghiệm cocaine chính xác 99% chỉ mất vài giây - bước đột phá chưa từng có về phòng chống ma túy - Ảnh 2.

Tiến sĩ Melanie Bailey – tác giả của nghiên cứu cho biết trong các thử nghiệm, cần khoảng 4 phút để biết một người có sử dụng cocaine hay không. Tuy nhiên, Bailey tin rằng con số sẽ giảm xuống rất đáng kể trong tương lai, thậm chí chúng ta chỉ mất vài giây thôi.

"Đây thực sự là một bước đột phá, khi mang đến một phương pháp xét nghiệm không xâm lấn lại cực kỳ nhanh chóng cho lĩnh vực phòng chống ma túy. Chúng tôi hiện đang cải tiến nó, để đem lại kết quả trong vòng 30s thôi." – Bailey cho biết.

 

Theo giới chuyên gia nhận định, phương pháp lần này được đánh giá rất tích cực nhờ vào tốc độ, tính vệ sinh, và độ chính xác rất cao. Hơn nữa, kết quả không thể bị làm giả, và trong tương lai chắc chắn đây sẽ là một công cụ hỗ trợ rất tốt cho giới cảnh sát.

Được biết, tại Anh và xứ Wales có khoảng 2,7 triệu người (tuổi từ 16 – 59) sử dụng ma túy (số liệu năm 2015 và 2016), tương đương với việc cứ 12 người trưởng thành lại có 1 người là con nghiện. Bên cạnh đó, có khoảng 8.500 người mỗi năm nhập viện vì các chứng bệnh tâm thần liên quan đến ma túy, và có khoảng 2.500 người chết vì sử dụng ma túy quá liều.

Những quy tắc bạn buộc phải thực hiện để không bị nghiện mạng xã hội

 

Nghiện mạng xã hội thật sự đáng sợ, nhưng chỉ cần thực hiện những quy tắc này, bạn sẽ không rơi quá sâu vào chiếc bẫy mạng xã hội.

Bạn cảm thấy không thể cưỡng lại nhu cầu lướt Facebook, Instagram trong giờ làm việc, bạn cảm thấy bứt rứt, bất an trong người khi lỡ may quên điện thoại ở nhà, bạn như ngồi trên đống lửa trong lớp học khi buộc phải bỏ dở ván game…?

Nếu đang có những cảm giác trên thì có lẽ bạn đang tiến rất gần tới cánh cửa mang tên "nghiện" mạng xã hội rồi đó.

Thế nhưng nếu như chúng ta nhận thấy mình vẫn đang trong tầm kiểm soát được, nghĩa là chưa bị "nghiện mạng xã hội quá nặng" đến mức tâm thần thì liệu có thể "tự chữa" được không? 

Bác sĩ La Đức Cương – Giám đốc bệnh viện Tâm thần TW 1 cho rằng, "bạn hoàn toàn có thể tự cai nhưng phải RẤT KIÊN TRÌ". Bởi nghiện mạng xã hội, game online cũng đáng sợ như nghiện ma túy vậy.

Bạn cần phải có quyết tâm rất cao thì mới có thể dứt bỏ, kiểm soát được sự đam mê của mình để tránh không bị sa đà, tụt dốc, trước khi chính thức bước vào cánh cổng bệnh viện để điều trị vấn đề rối loạn tâm lý.

Bác sĩ Cương cũng gợi ý cho bạn 1 số cách để có thể "tự thoát khỏi cơn nghiện mạng xã hội". 

Ở phía bản thân:

Những quy tắc bạn buộc phải thực hiện để không bị nghiện mạng xã hội - Ảnh 1.

Khi vừa ăn vừa dùng điện thoại lên mạng sẽ làm phân tán khả năng chú ý, ảnh hưởng đến sự ngon miệng. Đồng thời, thói quen này ảnh hưởng đến sự tiết axit dạ dày và tiết enzyme, khiến cho thức ăn không thể tiêu hóa hoàn toàn.

Những quy tắc bạn buộc phải thực hiện để không bị nghiện mạng xã hội - Ảnh 2.

Ngồi chơi điện tử liên tục sẽ làm hại đến thị lực mắt, đồng thời nếu ngồi sai tư thế, nằm chơi… sẽ còn gây ảnh hưởng lớn đến cột sống nữa.

Những quy tắc bạn buộc phải thực hiện để không bị nghiện mạng xã hội - Ảnh 3.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra việc cứ ngồi lì 1 góc để chơi điện tử, sử dụng máy tính, vào mạng xã hội khiến cơ thể khóc thét. Do đó, cứ 1 tiếng bạn hãy đứng lên giải lao 5 phút, bạn có thể đi lại hoặc nhìn ra xa để mắt đỡ bị mỏi hơn.

Những quy tắc bạn buộc phải thực hiện để không bị nghiện mạng xã hội - Ảnh 4.

Để chế độ tự động đăng nhập Facebook sẽ khiến tần suất vào mạng tăng hơn mà thôi!

Những quy tắc bạn buộc phải thực hiện để không bị nghiện mạng xã hội - Ảnh 5.

Việc điện thoại bạn cứ rung ầm ầm tin báo từ hàng chục group, comment… sẽ khiến bạn khó lòng dứt ra được. Vì thế, hãy tắt thông báo để có được sự tập trung làm việc nào!

Những quy tắc bạn buộc phải thực hiện để không bị nghiện mạng xã hội - Ảnh 6.

Các nhà tâm lý học và nghiên cứu về sức khỏe đã chứng minh rằng việc hòa mình vào thiên nhiên sẽ giúp cải thiện trí nhớ ngắn hạn, giảm stress, chống lại cảm giác chán nản và lo lắng…

Những quy tắc bạn buộc phải thực hiện để không bị nghiện mạng xã hội - Ảnh 7.

Nghiên cứu của Mỹ đã chỉ ra mối liên hệ giữa việc sử dụng nhiều sóng điện thoại và cơ thể con người. Dù còn khá nhiều tranh cãi trong vấn đề sóng điện thoai có gây u não hay không nhưng việc bạn để điện thoại gần giường cũng được các bác sĩ khuyến cáo là không nên.

Những quy tắc bạn buộc phải thực hiện để không bị nghiện mạng xã hội - Ảnh 8.

Những quy tắc bạn buộc phải thực hiện để không bị nghiện mạng xã hội - Ảnh 9.

Càng để nhiều app điện thoại càng khiến cho bạn dễ mủi lòng, sa đà vào các trò chơi điện tử hơn mà thôi.

Những quy tắc bạn buộc phải thực hiện để không bị nghiện mạng xã hội - Ảnh 10.

Hầu hết những con nghiện mạng xã hội lang thang trên mạng là không có mục đích, họ "vô thức" online như 1 thói quen khó bỏ, mỗi khi cảm thấy nhàm chán, buồn chân tay. Thế nên việc cài đặt phần mềm quản lý thời gian sử dụng mạng, sử dụng mật khẩu dài trước khi đăng nhập sẽ khiến bạn nghĩ lại vài giây trước khi đăng nhập mạng xã hội.

Ở phía người thân:

Những quy tắc bạn buộc phải thực hiện để không bị nghiện mạng xã hội - Ảnh 11.

Theo bác sĩ Cương, tạo 1 phản xạ nghe là điều cực kỳ cần thiết. Khi người chơi quá đắm chìm trong thế giới ảo, họ sẽ không còn muốn để ý gì đến thế giới xung quanh nữa. Những lời bạn nói, điều bạn làm… sẽ bị "bỏ ngoài tai". Vì thế, bạn càng nói nhiều sẽ chỉ khiến người chơi muốn chống đối hơn mà thôi. 

Do đó, cách tốt hơn cả là nói 1 vài câu ngắn gọn, đơn giản, đi thẳng vào vấn đề như " chơi game có hại lắm!", và phải nói lặp đi lặp lại một vài ngày đến 1 tuần, có điều kiện lúc nào thì nói lúc đó. Sau 1 – 2 tuần, bạn lại đổi câu khác nói nhưng vẫn giữ tiêu chí ngắn gọn, đơn giản, thẳng vấn đề.

Điều này sẽ vô tình tạo 1 phản xạ nghe cho người nghiện game, mạng xã hội, để bất chợt 1 lúc tỉnh táo trong ngày, họ sẽ nhận ra nó có hại như thế nào. 

Những quy tắc bạn buộc phải thực hiện để không bị nghiện mạng xã hội - Ảnh 12.

Việc mắng mỏ, cưỡng chế, cách li mạng… sẽ chỉ khiến cho "con nghiện" mạng trở nên hung dữ, chống đối hơn mà thôi. 

Vì thế, thay vì tạo áp lực thì những buổi chia sẻ, nói chuyện sẽ dần giúp đối tượng hiểu và trở về thực tại. 

Bác sĩ Cương nhấn mạnh rằng, "việc có thể "cai nghiện online" thành công không quá khó, nhưng nó dựa nhiều vào sự quyết tâm, kiên trì của bạn cũng như người thân, bạn bè xung quanh.

Thời gian "cai" này có thể kéo dài 1 tháng – 3 tháng – 6 tháng hay cả năm tuỳ theo mức độ của từng người."

Với sự phát triển như vũ bão của công nghệ, mạng xã hội, số lượng bệnh nhân nhập viện tâm thần do nghiện mạng xã hội tập trung ở các bạn trẻ ngày 1 gia tăng. 

Nhưng thay vì đợi một hậu quả xảy ra, những người dùng mạng xã hội cần phải tạo ra một thói quen lành mạnh cho chính mình. 

Giành nhận thuốc cắt cơn nghiện, ‘đại náo’ điểm phát thuốc

Giành nhận thuốc cắt cơn nghiện, 'đại náo' điểm phát thuốc

Không chịu xếp hàng chờ đến lượt nhận thuốc cắt cơn nghiện, Nguyễn Hoàng Giang chen lên giành nhận thuốc, rồi đập vỡ kiếng phòng phát thuốc khiến một dược sĩ bị thương.

Trưa 29.8, Công an TP.Tân An (Long An) cho biết đang làm rõ hành vi gây rối, đập phá, làm hư hỏng tài sản, gây thương tích cho người khác của Nguyễn Hoàng Giang (37 tuổi, ngụ xã Bình Quới, H.Châu Thành, Long An) để 

Khoảng 7 giờ cùng ngày (29.8), Giang cùng một số người khác đến Cơ sở điều trị Methadone thuộc Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Long An (P.3, TP.Tân An) chờ nhận thuốc Methadone cắt cơn nghiện.

Xếp hàng sau nhiều người, Giang tự ý tách hàng, đến thẳng ngay cửa phòng phát thuốc đòi “ưu tiên” nhận thuốc. Sau khi xảy ra cự cãi với những người xếp hàng trước, Giang bất ngờ vung tay đấm mạnh nhiều cái khiến tấm kiếng ngăn ở phòng cấp phát thuốc vỡ tung. Nhiều mảnh kiếng văng trúng mặt, mắt, tay và ngực một dược sĩ đang phát thuốc. Giang còn định lao vào tấn công dược sĩ này nhưng bị giữ lại.

Giành nhận thuốc cắt cơn nghiện, 'đại náo' điểm phát thuốc - ảnh 1

 

TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG VÀ CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA: TIÊN PHONG NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG KHOA HỌC MỚI TRONG ĐIỀU TRỊ NGHIỆN

Trung tâm Điều dưỡng và Cai nghiện ma túy Thanh Đa (TP. Hồ Chí Minh) là một cơ sở cai nghiện tự nguyện được thành lập từ năm 1999. Từ nhiều năm nay, Trung tâm đã mời nhiều nhà khoa học là giáo sư, tiến sĩ về y học, tâm lý, xã hội học tham gia Hội đồng khoa học, làm cố vấn. Trung tâm luôn cập nhật các tài liệu khoa học mới của Việt Nam và quốc tế để nghiên cứu, chọn lọc, áp dụng cho công tác cai nghiện phục hồi và xây dựng nhiều bộ tài liệu về y học trị liệu, tâm lý trị liệu, giáo dục trị liệu, phòng chống tái nghiện, xử lý khủng hoảng đối với người nghiện ma túy…

Bs Nguyễn Hữu Khánh Duy, Giám đốc Trung tâm Điều dưỡng và Cai nghiện ma túy Thanh Đa. Ảnh: T.Vân

Từng là một bác sĩ quân y, một sĩ quan an ninh trải nghiệm trên nhiều vị trí công tác khác nhau, bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy – Giám đốc Trung tâm đã nghiên cứu phác đồ điều trị và đã soạn thảo hàng ngàn trang tài liệu về cai nghiện – phục hồi, góp phần cùng trung ương và địa phương củng cố hệ thống lý luận cho công tác cai nghiện, để mang lại kết quả điều trị tốt nhất. Dành hết tâm huyết cho công việc, Bs Nguyễn Hữu Khánh Duy đã tạo dựng cho Trung tâm Điều dưỡng và Cai nghiện Ma túy Thanh Đa ngày càng vững mạnh, một mái ấm thân thương với tất cả những ai lỡ sa ngã, lầm đường lạc lối.

Năm 2002, Trung tâm đã đưa phác đồ điều trị cắt cơn bằng Clonidine kết hợp với thuốc giải lo âu, an thần và giảm đau vào điều trị. Liều lượng thuốc Clonidine sử dụng giảm chỉ còn 1/3 so với liều điều trị cho phép, liều thuốc giảm lo âu, an thần, giảm đau sử dụng chỉ bằng 1/2 so với liều cho phép nên sử dụng hết sức an toàn. Phác đồ này đã được nhiều nước trên thế giới sử dụng. Nhưng tại Việt Nam chưa có trung tâm nào điều trị bằng thuốc này.

Năm 2009, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Viết Nghị – nguyên Viện trưởng Viện Sức khỏe tâm thần Trung ương – Chủ tịch Hội Tâm thần học Việt Nam vào thăm Trung tâm Thanh Đa và nhận thấy phác đồ điều trị cắt cơn bằng Clonidine có kết quả rất tốt. Hội chứng cai nhẹ, số hội chứng cai ít. Ông đã mời lãnh đạo Trung tâm ra Hà Nội báo cáo trước Hội đồng khoa học Bệnh viện Bạch Mai và Cục Khám chữa bệnh – Bộ Y tế. Bộ Y tế đồng ý cho Viện Sức khỏe tâm thần thực hiện đề tài “Nghiên cứu áp dụng Clonidine trong điều trị cắt cơn nghiện các chất dạng thuốc phiện”. Viện Sức khỏe tâm thần sau đó đã mở nhiều lớp tập huấn cho cán bộ y tế làm công tác cai nghiện toàn quốc. Qua 15 năm điều trị, đã cắt cơn cho hơn 10.000 trường hợp, không có trường hợp nào xảy ra tai biến, hội chứng cai nhẹ.

Các học viên học nghề tại Trung tâm. Ảnh Trung tâm cung cấp.


Vào những năm 2004, Trung tâm bắt đầu nhận những học viên nghiện ma túy tổng hợp. Bác sĩ Duy cho biết, qua tài liệu của nhiều nước, Trung tâm đánh giá, ma túy loại này sẽ phát triển nhanh ở nước ta nên đã lập kế hoạch điều trị. Khi đó vẫn chưa có tài liệu trong nước về loại ma túy này, các y, bác sĩ Trung tâm phải trích dịch, nghiên cứu hàng nghìn trang tài liệu nước ngoài để áp dụng cho bệnh nhân.

“Ngày đó ít gặp trường hợp người nghiện ma túy tổng hợp bị bệnh tâm thần, nhưng càng ngày chúng tôi càng gặp nhiều bệnh nặng hơn. Bệnh nhân bị kích động, hoang tưởng, ảo thanh, ảo giác, tâm thần phân liệt…, có nhiều trường hợp chúng tôi bị đánh, bị đe dọa, nhưng nhờ thế, chúng tôi rút ra được những cách tự vệ, không còn lo ngại khi nhận những học viên nghiện ma túy tổng hợp. Từ năm 2004 đến nay, chúng tôi đã đã điều trị cho hơn 3.000 lượt học viên nghiện ma túy tổng hợp”, Giám đốc Trung tâm Thanh Đa cho biết.

Năm 2006, nhận thấy việc chống tái nghiện nhóm các chất dạng thuốc phiện bằng Naltrexone là phù hợp với điều kiện của học viên cai nghiện, Trung tâm Thanh Đa đã triển khai Khoa Chống tái nghiện. Bs Duy chia sẻ: Nhận thấy dù sử dụng thuốc Methadone hoặc Naltrexone cũng chỉ là những thuốc hỗ trợ chống tái nghiện, vấn đề chính là phải gọt giũa, điều chỉnh, phục hồi được nhận thức-hành vi-nhân cách, cũng như trang bị bản lĩnh và kỹ năng sống cho học viên, Trung tâm đã đưa công tác tư vấn, tâm lý, trị liệu, giáo dục trị liệu lên làm nòng cốt.  Khoa Chống tái nghiện có gần hơn 20 cử nhân xã hội học, tâm lý xã hội, trong đó có 2 tiến sĩ và 1 thạc sĩ.

Tại Trung tâm, người nghiện được bố trí sinh hoạt điều độ, ăn uống đúng giờ quy định.Ảnh Trung tâm cung cấp.


Kết quả điều trị rất đáng khích lệ, do khi uống thuốc Natrexone, học viên không còn thèm, nhớ và tìm kiếm heroin. Số học viên thành công cao, nhất là số học viên uống thuốc hơn 1 năm, 50% các học viênđiều trị ngoại trú đã có việc làm ổn định. Khoa Chống tái nghiện đã được nhiều đoàn khách trong nước và nước ngoài đến thăm và trao đổi kinh nghiệm điều trị.

Theo Bs Nguyễn Hữu Khánh Duy: “Phải giành giật để cứu từng con người” (lời của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt) đã trở thành mục tiêu, phương châm của Trung tâm trong việc điều trị cai nghiện ma túycho học viên. Gần 20 năm qua, hơn 18 ngàn lượt người đã được Trung tâm cai nghiện với chất lượng không ngừng được cải tiến và nâng cao, đưa họ trở về tái hòa nhập cộng đồng. Để đạt được kết quả như trên, Trung tâm không ngừng cải tiến phương pháp điều trị, giữ mối liên lạc với hàng ngàn học viên đã hồi gia và thân nhân của họ để nắm bắt thông tin, tư vấn, hỗ trợ.

Theo Bs Nguyễn Hữu Khánh Duy, để công tác cai nghiện đạt kết quả, trước hết, cần xem công tác tư vấn, tâm lý trị liệu, giáo dục trị liệu là chủ yếu – thuốc điều trị chỉ mang tính chất hỗ trợ. Đồng thời, điều trị tổng hợp, kết hợp chặt chẽ giữa các biện pháp tâm lý – xã hội với công tác quản lý trên nền tảng cộng đồng trị liệu. Kết hợp chặt chẽ giữa Trung tâm-học viên và gia đình. Ngoài ra, cần sự quyết tâm cao của các cán bộ Trung tâm và sự hỗ trợ của chính quyền, các tổ chức trong và ngoài nước.

Nhật Anh (GĐ&TE)

BÁC SĨ NGUYỄN HỮU KHÁNH DUY: NHÀ TÌNH BÁO VÀ CÁI NGHIỆP CHỐNG MA TÚY

BÁC SĨ NGUYỄN HỮU KHÁNH DUY: NHÀ TÌNH BÁO VÀ CÁI NGHIỆP CHỐNG MA TÚY

 

Mái tóc bạc trắng, nụ cười đôn hậu và giọng nói hiền từ, bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy gần như dành cả tình thương yêu và trí tuệ của mình để theo đuổi sự nghiệp chống ma túy, giành giật từng mạng sống trước lưỡi hái của tử thần.

[BizSTORY] Bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy: Nhà tình báo và cái nghiệp chống ma túy

Bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy, Giám đốc Công ty điều dưỡng & cai nghiện ma túy Thanh Đa.

Là đơn vị  cai nghiện tự nguyện đầu tiên của cả nước còn duy trì hoạt động đến nay, sau 17 năm hoạt động, công ty điều dưỡng  & cai nghiện ma túy Thanh Đa đã điều trị cho hơn 18.000 học viên, tỷ lệ nhập viện mỗi năm một tăng trong khi tỷ lệ tái nhập đều giảm.

Đằng sau con số đó là biết bao nhọc nhằn, cơ cực, dũng cảm vượt qua rào cản của cơ chế chính sách để tìm ra những phương pháp khoa học tiến bộ nhất, hàng ngày phải đối diện với những tình huống đầy cam go như trong cuộc chiến mà chỉ có tình yêu thương mới cảm hóa được tâm hồn, rồi phải cân đối giữa kinh doanh và tình người…

Nói về công việc đầy thử thách của mình, bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy chia sẻ: “Đây là ngành kinh doanh hết sức đặc biệt, người ta tính lãi bằng đô la, chúng tôi tính lãi bằng con người”.

Ít ai biết ông chính là cụm phó Cụm điệp báo A 10 thuộc cơ quan an ninh T4, cụm điệp báo với những chiến công làm lũng đoạn chính trường VNCH, xoay chuyển dư luận báo chí quốc tế có lợi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, thúc đẩy Dương Văn Minh đầu hàng và kêu gọi binh lính VNCH buông súng…tránh một cuộc đổ máu vô ích, bảo vệ Sài Gòn còn nguyên vẹn, và nhiều điệp vụ hoàn hảo khác được lịch sử ghi nhận

Trong lịch sử chiến tranh nhân loại, các trận đánh kết thúc cuộc chiến thường để lại cảnh hoang tàn, hủy diệt, nhất là khi diễn ra ở các thành phố lớn, nhưng công cuộc giải phóng Sài Gòn, kết thúc chiến tranh đã không diễn ra như vậy?

Nói về điều này, CIA cho rằng “trùm tình báo” Trần Quốc Hương, tức anh Mười Hương, người chỉ huy mạng lưới an ninh T4 đã tiên liệu và góp phần chuẩn bị “hậu sự” cho VNCH từ trước 1972, để khi giải phóng Sài Gòn không có đổ máu và thành phố còn nguyên vẹn.

Tháng 9/1972, anh Mười Hương đã tìm một số anh em trong nhóm phong trào ở miền Trung để đi vào nhóm Dương Văn Minh và triển khai các công tác vận động chính trị, hay nói cách khác là hoạt động tình báo chính trị. Hoạt động này nhằm tạo thế và lực lớn mạnh cho số đối lập chịu ảnh hưởng của cách mạng và khi có đủ điều kiện có thể thay thế được Nguyễn Văn Thiệu, tạo thuận lợi cho sự nghiệp thống nhất đất nước.

Cụm A 10 đã xây dựng được các “lõm chính trị” trong thành phố, có hạt nhân lãnh đạo, có lực lượng quần chúng cảm tình với cách mạng và có thể lợi dụng được bộ máy hành chính của địch để phục vụ yêu cầu của ta. Ngoài ra, cụm còn có nhiệm vụ xây dựng cơ sở tấn công chính trị, phân hóa hàng ngũ địch, thu thập tin tức âm mưu, ý đồ, thủ đoạn của địch. Trong vai trò cụm phó Cụm điệp báo A 10, tôi đã tổ chức xây dựng được nhiều cơ sở nòng cốt như đồng chí Huỳnh Bá Thành( Ba Trung), lúc bấy giờ là Giám đốc kỹ thuật kiêm thư ký tòa soạn báo Điện Tín, cơ quan ngôn luận chính thức của nhóm Dương Văn Minh. Thông qua đồng chí Thành, cụm đã xây dựng được một mạng lưới ngoại vi làm nòng cốt cho hoạt động của cụm, tác động mạnh trực tiếp vào Dương Văn Minh.

Tôi đã chỉ đạo đồng chí Huỳnh Bá thành sử dụng báo Điện Tín hướng dẫn, vận động dư luận quần chúng theo ý đồ có lợi cho cách mạng. Phân hóa hàng ngũ địch, tổ chức lôi kéo các lực lượng tiến bộ, hòa bình, dân tộc, tập hợp thành lực lượng chống đối Nguyễn Văn Thiệu, lôi kéo các báo khác viết theo khuynh hướng của ta.

Một số dân biểu, nghị sĩ, nhân sĩ, ký giả được ta xây dựng như giáo sư Lý Chánh Trung, dân biểu Lý Quý Chung, Hồ Ngọc Nhuận, ký giả Minh Đỗ, phóng viên nhóm Dương Văn Minh như Phan Xuân Huy, Nguyễn Văn Hồng( Cung Văn), Trương Lộc, Huỳnh Bá Tòng đã trở thành cơ sở ngoại vi của ta.

Ngoài ra, tôi đã tác động, gây áp lực buộc Nguyễn Văn Thiệu từ chức, Dương Văn Minh đầu hàng. Cụ thể, tháng 3 năm 1975, sau khi tờ Điện Tín bị Thiệu đóng cửa, lãnh đạo chỉ đạo tôi yêu cầu đồng chí Huỳnh Bá Thành tìm cách ở hẳn trong dinh Hoa Lan của tướng Dương Văn Minh.

Cụm A 10 phải bằng mọi cách tấn công chính trị, tác động để Dương Văn Minh thay Nguyễn Văn Thiệu rồi tìm cách giao chính quyền cho cách mạng để đỡ đổ máu.

Trong những ngày kế cận chiến thắng, đồng chí Huỳnh Bá Thành đã góp phần tác động trực tiếp đến Dương Văn Minh để ra tuyên bố án binh bất động trước khi tuyên bố đầu hàng vô điều kiện vào trưa ngày 30/4/1975 lịch sử và chỉ đạo cơ sở Phan Xuân Huy( con rể Dương Văn Minh) ngăn chặn không phá cầu Sài Gòn

Với những thành tích, khen thưởng dày đặc, những tưởng ông sẽ hưởng an nhàn khi tuổi đã già, vì sao ông lại chọn con đường chông gai, khi đứng ra thành lập công ty điều dưỡng & cai nghiện ma túy Thanh Đa bằng đồng vốn và kiến thức của chính mình?

Sau giải phóng làm việc tại trại giam Chí Hòa, mỗi ngày bắt về cả trăm con người bị nghiện ma túy, mình phải cắt cơn, điều trị.

Khi nói chuyện tâm tình với các em bị nghiện, thấy người nào cũng có tâm tư đáng buồn, mình lại thấy thương.

Khi làm hội thẩm tại tòa án nhân dân TP HCM, tôi cũng tiếp xúc với rất nhiều đối tượng nghiện ma túy, chứng kiến sự tàn phá ghê gớm của ma túy đối với con người.

Ma túy tàn phá sức khỏe, băng hoại đạo đức, biến dạng nhân cách, để lại hậu quả vô cùng nặng nề không chỉ bản thân người nghiện mà con gia đình và xã hội.

Với kiến thức về ngành y, khi hiểu thêm chuyện lây lan của ma túy, những thủ đoạn của bọn buôn bán ma túy… tôi thấy mình cần  có trách nhiệm làm một việc gì đó để chống lại ma túy, cứu những con người đã lỡ sa chân vào con đường cùng này.

Khoa cắt cơn trong các bệnh viện chỉ cai được 10-15 ngày thì về, nên phần lớn là thất bại, làm thế nào ông có thể tìm ra các phương pháp khoa học để mang lại hiệu quả cao cho phác đồ điều trị cắt cơn?

Khi lập trung tâm này tôi cũng chỉ được học phác đồ cắt cơn cai nghiện đơn giản thôi. Những ngày đầu dùng phác đồ của Bộ Y tế không tác dụng, bệnh nhân về nhà và hầu hết đều tái nghiện. Không những thế còn rất nhiều phản ứng phụ, bệnh nhân thường bị “sảng thuốc”, “xuyên tường- bắt bướm” và dễ bị kích động, gây gổ đánh nhau. Nhiều anh em trong công ty chán nản, không muốn tiếp tục làm công việc này nữa

Tôi phải tự nghiên cứu, đọc sách báo nước ngoài để học hỏi, từ 2003 đến 2009 mới tìm ra phác đồ điều trị cắt cơn bằng Clonidine kết hợp thuốc giải lo âu, an thần và giảm đau vào điều trị. Liều lượng thuốc Clonidine sử dụng giảm chỉ còn 1/3 so với liều điều trị cho phép liều thuốc giảm lo âu, an thần. Giảm đau sử dụng chỉ bằng ½ so với liều cho phép nên sử dụng hết sức an toàn. Phác đồ này đã được nhiều nước trên thế giới sử dụng, nhưng tại Việt Nam chưa có trung tâm nào điều trị theo phương pháp này.

Hơn 5 năm, mệt mỏi lắm mới ra được công thức cắt cơn, ai cũng thấy hay nhưng chúng tôi toàn phải… áp dụng “lậu” không à. Vất vả hơn nữa là làm thế nào để Bộ Y tế chấp nhận đưa vào quy chế.

May mắn là Phó Giáo sư TS Trần Viết Nghị, nguyên viện trưởng Viện sức khỏe tâm thần trung ương, Chủ tịch hội Tâm thần học Việt Nam vào thăm Trung tâm Thanh Đa, quan sát 10 ngày thấy phác đồ điều trị cắt cơn bằng Clonidine có kết quả rất tốt, hội chứng cai nhẹ, số hội chứng cai ít, dùng nguyên liệu an toàn, sử dụng liều rất thấp…

Giáo sư Nghị đã mời tôi ra Hà Nội báo cáo trước hội đồng khoa học bệnh viện Bạch Mai và Cục khám chữa bệnh- Bộ Y Tế.

Tự bỏ tiền mua vé máy bay ra Hà Nội, sau buổi báo cáo của tôi, Bộ Y tế đã đồng ý cho Viện sức khỏe tâm thần thực hiện đề tài nghiên cứu “ Nghiên cứu áp dụng Clonidine trong điều trị cắt cơn nghiện các chất dạng thuốc phiện”.

Viện sức khỏe tâm thần sau đó đã mở nhiều lớp tập huấn cho cán bộ y tế làm công tác cai nghiện toàn quốc. Nhưng để Bộ Y tế ra một quyết định mới rất khó, mình không liều mạng thì không xong.

Đến bây giờ thì dường như họ quên rồi, nên chúng tôi vẫn phải … áp dụng lậu! Tai hại hơn là nhiều nơi vẫn cắt cơn tùm lum, rất ít nơi áp dụng theo phương pháp này

Người nghiện ma túy sợ nhất là… tái nghiện, trung tâm của ông có phương pháp nào hữu hiệu không?

Nhận thấy việc chống tái nghiện nhóm các chất dạng thuốc phiện bằng Naltrexone là phù hợp với điều kiện của học viên cai nghiện tại Thanh Đa nên chúng tôi triển khai khoa Chống tái nghiện.

Đưa 2 bác sĩ và 5 y sĩ tập huấn tại Hà Nội và Vũng Tàu, đầu tư hơn 300 triệu xây dựng khoa Chống tái nghiện, sau khi nghiên cứu, tôi nhận thấy dù sử dụng thuốc Methadone hoặc Naltrexone cũng chỉ là hỗ trợ chống tái nghiện, vấn đề chính là phải tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến nghiện ma túy, bắt nguồn từ tư tưởng, nhận thức mà ra. Giải quyết thế nào?

Không thể chỉ tập dưỡng sinh, cho đi lao động là xong, còn nhiều vấn đề khác. Nghiên cứu tài liệu trong ngoài nước, dịch sách báo, càng ngày tôi càng thấu ra cai nghiện là hậu quả từ nhận thức.

Phải tìm hiểu kỹ lý do đi vào ma túy của từng người là gì? Tâm trạng người bệnh ra sao? Nguy cơ, bảo vệ là gì? Khả năng họ yếu mặt gì?

Để từ đó gọt giũa, điều chỉnh, phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách, cũng như rèn luyện tư duy tích cực, kỹ năng sống, để khi gặp ma túy họ phải đối ứng ra sao…

Toàn bộ vấn đề này phải có thời gian lâu dài mới quen được, vì bệnh nhân tổn hại tế bào não, cần có thời gian để não bộ hồi phục dần.

Kết quả điều trị rất khích lệ, sau 8 năm triển khai khoa Chống tái nghiện, công ty đã điều trị cho hơn 1000 học viên, sau một năm điều trị, có hơn 75% số học viên chưa tái nghiện, không còn thèm nhớ và tìm kiếm heroin, 50% các cháu điều trị ngoại trú đã có việc làm.

Tiến sĩ Kenvin P. Muley, cố vấn điều trị nghiện thuộc chương trình hỗ trợ khẩn cấp của Tổng thống Hoa Kỳ tại Việt Nam đã đến thăm trung tâm và đưa nhiều đoàn khác đến nghiên cứu. Bà tiến sĩ Nora Doloses Volkow, Giám đốc Viện nghiên cứu ma túy quốc gia Hoa Kỳ cũng đến thăm và đánh giá cao hoạt động khoa Chống tái nghiện, và đã mời tôi qua Hoa Kỳ để báo cáo tham luận…

Theo tôi, cuối cùng giáo dục trị liệu vẫn là quan trọng nhất, kết hợp chặt chẽ các biện pháp tâm lý, xã hội quản lý trên nền tảng cộng đồng trị liệu, giữa trung tâm và học viên, gia đình… để điều trị

Ông có lời khuyên nào với các bậc cha mẹ, nhất là cha mẹ doanh nhân với con cái mình, để giúp con tránh xa cạm bẫy ma túy lúc nào cũng rình rập ngay trước cổng trường?

Đối tượng ma túy không chừa ai hết, người giàu cũng như người nghèo.

Theo tính toán của công an, để mua một tép ma túy 40 ngàn, các em phải bán cho 5 người khác. Con số nghiện ma túy tăng theo cấp số nhân.

Phụ huynh phải luôn theo sát con em mình, chú ý nhất ở các mối quan hệ. Nếu các cháu chơi với nhóm bạn không tốt thì rất dễ dẫn đến nguy cơ ma túy.

Theo sát kỹ sinh hoạt của con cái, nếu thấy rối loạn về sinh hoạt, ăn ngủ thất thường, chơi bời thất thường, bỏ học… phải đưa vào cai nghiện ngay. Đừng để kéo dài gây tổn thương não, điều trị rất mất thời gian.

Các em vào đây phần lớn là từ 18 tuổi đến 30 tuổi, lứa tuổi đẹp nhất của đời người, thời gian chữa rất lâu.

Phải hiểu nghiện ma túy là bệnh mãn tính, khó chữa, cai nghiện phải nhiều lần, nên đừng hỏi tái nghiện bao nhiêu phần trăm.

Cai nghiện tạm gọi là thành công khi trở lại cộng đồng sau 5 năm, mới về làm sao nói tái nghiện.

Chữa cai nghiện rất khó khăn, vì nó nằm trong đầu người ta mà. Sự ham muốn của nó rất khủng khiếp, nên bắt người nghiện chống đối điều này rất khó khăn.

Nhận vào mình trọng trách xã hội nặng nề, nhưng mọi chi phí đều phải tính toán như một công ty tư nhân, khó khăn thách thức về kinh doanh, về sự an toàn có là một áp lực nặng nề với riêng ông?

Tất cả các khoản chi đều phải tính vào chi phí, nhất là lương của nhân viên. Lương phải cao thì anh em mới theo đuổi nghề này. Cán bộ tư vấn ở đây đều có trình độ đại học, nhiều nhất là các em ở đại học Khoa học xã hội & Nhân văn.

Cơ số học viên khoảng 100, học viên nghiện ma túy lại thêm bệnh tâm thần nên điều trị rất gay go, thường xuyên quậy phá làm hư hỏng đồ đạc.

Tôi đã từng bị các em đe dọa đánh nhiều lần, có em còn cầm nguyên cái giá đựng bình nước đập vào người…Có em còn cầm miểng chai đòi cứa cổ bảo vệ…

Lúc nào ở đây cũng trong tình trạng căng thẳng như trong chiến tranh vậy.

Điều gì khiến anh theo đuổi đến cùng công việc nặng nhọc này, dù tuổi đã già, sức đã yếu?

Cái nghiệp thôi, mình phải dính vào. Giúp đời thì có nhiều cách giúp, nhưng cái nghiệp nên mình cứ phải ôm riết.

Nhiều bạn bè nói tôi khối gì cách kinh doanh nhẹ nhàng hơn, là bác sĩ lâu năm trong nghề, có phòng mạch riêng cũng sống khỏe re, việc gì ông phải cực thế này?

Ngày xưa làm tình báo vì con người, bây giờ chống ma túy cũng là để cứu người. Tôi nhờ có tính thiền trong người nên mới làm được công việc nặng nhọc này, bởi đối xử với các em phải bằng tất cả tình yêu thương, không được nổi nóng dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, phải ngoài mềm, trong cứng.

Các em tinh lắm, phải yêu thương thật lòng và dành hết thời gian cho các em, để các em cảm nhận được sự chăm sóc của mình, tâm phục khẩu phục,mới cảm hóa được con người.

Buổi sáng 6 giờ tôi tới trung tâm, 8 giờ tối mới về tới nhà. Mệt mỏi lắm, nhưng niềm vui của mình là sự trưởng thành của từng con người ở đây

Ông thấy mình được gì, mất gì?

Được hiểu biết thêm nhiều về xã hội, phương pháp điều trị, bản thân tôi đã nỗ lực nghiên cứu để xây dựng được Hệ thống lý luận cơ bản và chiến lược cai nghiện phục hồi, chống tái nghiện có hiệu quả, trong đó môi trường trị liệu kết hợp với cộng đồng trị liệu là mô hình riêng của công ty Thanh Đa.

Còn mất đi sự thanh thản, thoải mái. Đáng lý tuổi mình đến giờ là khỏe rồi, nhưng ngày nào vào đây cũng đối diện với những ca bệnh, luôn cảnh giác, đối phó, làm mình bận trí ghê lắm.

Nhưng điều tôi theo đuổi là nghĩ đến trách nhiệm xã hội, vì số người hiểu biết về ma túy rất ít, trong đó có mình..

Cuộc đời tôi tích lũy kinh nghiệm ma túy từ công tác an ninh, y tế, nghiên cứu … thời gian dài, chống ma túy là cái nghiệp rồi nên cứ thế mà đi.

KIM YẾN