Phạm tội do “ngáo đá”: Xử phạt như thế nào?

(Chinhphu.vn) – Từ lúc ma túy đá xuất hiện ở Việt Nam, đã có nhiều vụ thảm án mà hung thủ thực hiện trong cơn cuồng loạn. Người bị “ngáo đá” có các biểu hiện gần như giống với bệnh tâm thần phân liệt nhưng mức độ nguy hiểm hơn. “Ngáo đá” gây hoang tưởng tâm thần nhưng có phải là tình tiết giảm nhẹ khi xử án?

 

Đối tượng "ngáo đá" cầm kéo khống chế người yêu. Ảnh minh họa

Ma túy đá có chứa chất dạng Methamphetamine hoặc Amphetamine được tổng hợp từ các hóa chất. Ngoài tác dụng gây “phê” như heroin, thuốc lắc, ma túy đá còn khiến người sử dụng sẽ trở nên hung hãn, tinh thần hưng phấn, thần kinh bị rối loạn, mất khả năng làm chủ hành vi.

Từ lúc ma túy đá xuất hiện ở Việt Nam, đã có nhiều vụ thảm án mà hung thủ thực hiện trong cơn cuồng loạn, như trường hợp một ca sĩ ở Hưng Yên lên cơn “ngáo đá” đã giết người yêu chỉ vì nghĩ cô này là quỷ. Hay nam thanh niên tại Mỹ Đức (Hà Nội) dùng dao đâm trọng thương bố mẹ và em trai, sau đó tự tử.

Vậy người “ngáo đá” có được hiểu là mất năng lực hành vi dân sự? Và những kẻ phạm tội do tình trạng "ngáo đá" sẽ bị xử phạt như thế nào?

Xử như thường  

Theo ý kiến của chuyên gia, dưới góc độ luật pháp, “ngáo đá” có thể khiến người sử dụng ma túy gây các tội ác trong tình trạng loạn thần nặng nhưng không phải là tình tiết giảm nhẹ. Pháp luật đã có quy định về trường hợp người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc các chất kích thích mạnh khác vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự và “ngáo đá” cũng không ngoại lệ.

TS. Ngô Văn Vinh, Viện trưởng Viện Giám định Pháp y tâm thần Trung ương cho rằng, người  “ngáo đá” có triệu chứng của tâm thần dưới góc độ khoa học. Nhưng dưới góc độ pháp luật, “ngáo đá” chính là hậu quả của hành vi sử dụng ma túy gây ảo giác. Một khi đã xác định đây chính là hậu quả của hành vi sử dụng ma túy gây ảo giác thì phải giám định rất kỹ để đánh giá được việc sử dụng ra sao, mức độ ảnh hưởng thần kinh đến đâu.

Luật sư Lê Văn Đài, Văn phòng luật sư Khánh Hưng, Đoàn luật sư Hà Nội cho biết, ở góc độ y học, sau khi sử dụng Methamphetamine, người “ngáo đá” có triệu chứng của người mắc bệnh tâm thần, tách rời khỏi thực tại (ảo tưởng) hoặc ảo giác. 

Còn ở góc độ pháp lý, người bị “ngáo đá” là hậu quả của hành vi chủ động, không vô thức khi bắt đầu sử dụng chất ma túy (là một loại chất kích thích mạnh), do đó, pháp luật hiện hành không coi họ là người mắc bệnh tâm thần và không có cơ sở đề nghị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

Pháp luật chưa có quy định riêng biệt đối với người phạm tội trong tình trạng bị kích thích do nghiện ma túy, do “ngáo đá”, nhưng ở Điều 14 Bộ luật Hình sự đã có quy định chung là người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

Trường hợp người “ngáo đá” phạm tội thì cũng tương tự người phạm tội trong tình trạng say rượu hoặc chất kích thích mạnh khác, đều phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm đã gây ra.

Hoàng Anh

Bắt quả tang ‘ông Tây’ trồng cần sa trong nhà để ‘xài dần’

http://doctinnhanh.net

Tại nhà Pierce Alan Grant, công an thu giữ được 800g cần sa khô và một số công cụ để trồng, chế biến, sử dụng cần sa. 

vung tau nguoi dan ong quoc tich my trong can sa trong nha de su dung
Cần sa được trồng ngay trong nhà ông Pierce Alan Grant. Ảnh: Pháp luật Việt Nam

Ngày 18/1, Công an Tp. Vũng Tàu cho biết, đã phát hiện vụ trồng cần sa trong một căn nhà ở P.2, Tp. Vũng Tàu do người nước ngoài thực hiện.

Theo Thanh niên, công an đã tiến hành kiểm tra nhà số 3/6 Ngô Văn Huyền (P.2, Tp.Vũng Tàu), phát hiện Pierce Alan Grant trồng cây cần sa trong căn nhà này.

Pierce Alan Grant khai nhận đã sử dụng căn nhà nói trên để trồng cây cần sa, chế biến và sử dụng trong suốt thời gian qua.

Tại hiện trường, cơ quan Công an thu giữ 800 gr cần sa khô và một số công cụ để chế biến, sử dụng cần sa.

Một cán bộ công an cho biết trên Pháp luật Việt Nam, cần sa là loại cây chứa tiền chất ma túy. Cần sa chứa độc tính và gây nghiện rất cao không thua kém gì so với heroin, khi sử dụng sẽ có những ảo giác, làm sai lệch về thần kinh.

Hôm Mai (Tổng hợp)

 

Tín dụng đối với người bán dâm hoàn lương: Còn nhiều khó khăn

Quyết định số 29/2014/QĐ-TTg ngày 26/04/2014 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với hộ gia đình và người nhiễm HIV, người sau cai nghiện ma túy, người điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, người bán dâm hoàn lương mang nhiều ý nghĩa thiết thực nhưng đến nay việc triển khai quyết định này hiện đang gặp nhiều khó khăn, đặc biệt đối với nhóm phụ nữ mại dâm hoàn lương.

Quyết định 29 của Thủ tướng Chính phủ mang nhiều ý nghĩa, thể hiện quan điểm mới, chính sách mới của nhà nước ta với nhóm người này. Trước kia chúng ta tập trung quản lý, xử lý hành chính, nhưng bây giờ coi họ là nhóm yếu thế dễ bị tổn thương, cần hỗ trợ giúp đỡ.

Quyết định cũng là một lời đáp với quốc tế, thể hiện sự vào cuộc của Việt Nam trong công tác hỗ trợ người nhiễm HIV; người nghiện ma tuý; người bán dâm… trong bối cảnh tài trợ quốc tế giảm dần. Đồng thời, đáp ứng những kêu gọi của Liên Hợp Quốc trong công tác này.

Ý nghĩa thiết thực nhất là đối với chính bản thân nhóm người này. Đây là những nhóm người gặp nhiều khó khăn trong hoà nhập cộng đồng. Nhiều người còn mang trong mình bệnh tật, sức khỏe yếu. Được vay vốn sản xuất, họ đỡ mặc cảm, dễ dàng hơn để hoà nhập. Nếu không có công ăn việc làm ổn định, họ không có chi phí để nâng cao sức khoẻ, ổn định cuộc sống dễ dẫn đến tái phạm, tái nghiện..

Việc hỗ trợ vốn hiệu quả cũng sẽ giảm được một phần chi phí y tế của Nhà nước nếu sức khoẻ của họ yếu đi.

Về mặt xã hội, nếu những nhóm người này có công ăn việc làm ổn định, không tái phạm thì an ninh trật tự được ổn định, nhà nước có thể “rảnh tay” để phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá và nâng cao cuộc sống người dân.

Bên cạnh đó, quyết định cũng là một cú huých giúp xã hội giảm kỳ thị, phân biệt đối xử và gần gũi với nhóm người này hơn để tạo điều kiện, giúp đỡ họ ngày càng mạnh mẽ hơn.

Những khó khăn không nhỏ

Quyết định ý nghĩa như vậy, nhưng công tác triển khai hiện đang gặp nhiều khó khăn. Đến nay, mới có rất ít người nhận được sự hỗ trợ từ quyết định này.

Ông Lê Văn Quý, Phó Chi cục trưởng, Chi cục Phòng, chống tệ nạn xã hội TPHCM, một trong 15 địa phương thực hiện thí điểm Quyết định 29 cho biết, quy định phải chứng minh hoàn lương mới được vay vốn đã gây khó khăn trong việc tiếp cận của các chị em.

“Những người mại dâm hoàn lương muốn hưởng chế độ vay vốn tín dụng thì họ phải về địa phương chứng nhận đã đi bán dâm nhưng nay đã hoàn lương. Có ai lại đi về địa phương để xác nhận điều này. Không chỉ riêng TPHCM, tôi tin nhiều địa phương khác cũng khó thực hiện quyết định này”, ông Lê Văn Quý nói.

Về vấn đề này, ông Phùng Quang Thức, Chi cục trưởng Chi cục Phòng, chống tệ nạn xã hội Hà Nội cũng cho rằng, rào cản lớn nhất khi thực hiện Quyết định 29 là hồ sơ vay vốn phải có chứng nhận của địa phương, phải cam kết từ bỏ hành nghề.

“Giữa kỳ thị xã hội, giữa việc người ta công khai danh tính để chọn được một sự hỗ trợ của nhà nước so với việc người ta tiếp tục đi làm để kiếm tiền trang trải cuộc sống hàng ngày thì cái nào dễ hơn người ta làm”, ông Phùng Quang Thức nói.

Bên cạnh đó, các tổ chức tín dụng, ngân hàng chính sách xã hội cũng còn nhiều băn khoăn khi cho nhóm người bán dâm vay vì sợ rủi ro, khó thu hồi vốn.

Vì vậy việc tín dụng đối với người bán dâm hoàn lương còn nhiều khó khăn

Để luật đi vào cuộc sống

Theo ông Lê Văn Quý, để tạo điều kiện cho người bán dâm có thể tiếp cận nguồn vốn, cần xem xét lại các điều kiện cho vay vốn; các thủ tục cần thông thoáng để người bán dâm không “ngại” đi vay.

Ông Phùng Quang Thức thì cho rằng, để Quyết định 29 có hiệu quả, bên cạnh việc xem lại các vấn đề thủ tục hành chính, cũng cần sự phối hợp với các ban ngành và ngân hàng chính sách xã hội để tạo được cơ chế linh hoạt cho người bán dâm tiếp cận vốn nhưng vẫn quản lý được nguồn vốn, không để thất thoát kinh phí nhà nước.

Về vấn đề này, theo Thứ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội Nguyễn Trọng Đàm, trước hết cần tuyên truyền phổ biến cho chính bản thân chị em, những người hành nghề mại dâm biết đến chính sách, cách tiếp cận chính sách như nào. Tiếp đó phải thành lập một đội ngũ để có thể tư vấn, hỗ trợ, giúp họ giải quyết các thủ tục vay vốn.

“Các tổ chức tín chấp vay vốn như Ngân hàng chính sách xã hội cũng phải quan tâm, coi họ là một đối tượng chứ không nên đắn đo, e ngại việc không bảo toàn được vốn. Khi họ có nguyện vọng, xây dựng được phương án sử dụng vốn thì phải sẵn sàng đáp ứng vốn cho họ”, Thứ trưởng Nguyễn Trọng Đàm nói.

Để giảm rủi ro khi cho vay vốn, cần xem xét kỹ những người có nhu cầu, phương thức sản xuất thực sự. Đồng thời, kết nối với các tổ chức xã hôi, các nhóm đồng đẳng, tự lực, câu lạc bộ địa phương… quan tâm, giúp đỡ kịp thời để họ sản xuất, kinh doanh, buôn bán có hiệu quả, giảm rủi ro.

Một phụ nữ mại dâm được học nghề cắt tóc
Thiết nghĩ, chính sách đã “mở”, các địa phương cũng đã sẵn sàng triển khai nhưng nếu người bán dâm không dám đứng lên vay vốn thì quyết định cũng sẽ không mang lại hiệu quả thiết thực.

Chính vì vậy, những nhóm đối tượng này cần phải “dũng cảm” đứng lên vay vốn. Bên cạnh đó, những người có trách nhiệm tại UBND cấp xã và Ngân hàng chính sách xã hội phải có thái độ, ứng xử đúng mực, giữ gìn thông tin, thực sự quan tâm đến những người này, giúp họ đỡ mặc cảm. Quan trọng hơn cả là tuyên truyền để giảm kỳ thị trong xã hội.

Theo Quyết định 29/2014/TTg, từ ngày 15/6/2014, người bán dâm hoàn lương, hộ gia đình và người nhiễm HIV, người sau cai nghiện ma túy, người điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế (đối tượng), sẽ được hỗ trợ tín dụng để sản xuất, kinh doanh. mức cho vay căn cứ vào nhu cầu vay và khả năng trả nợ của từng cá nhân, hộ gia đình. Người, hộ gia đình được vay không phải thế chấp. Mức vay không vượt quá các mức sau: Cá nhân, mức cho vay tối đa 20 triệu đồng; Hộ gia đình, mức cho vay tối đa là 30 triệu đồng.

15 thành phố thực hiện thí điểm bao gồm: Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Hoà Bình, Hà Nội, Hải Phòng, Thanh Hoá, Nghệ An, Đà Nẵng, Quảng Nam, Đắk Lắk, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Hậu Giang, Bạc Liêu.

Nhật Thy
theo iengchuong

Mở rộng cai nghiện cho các đối tượng tự nguyện

Trong thời gian tới các sở, ban, ngành chức năng của tỉnh Ninh Bình cần tiếp tục tăng cường công tác đấu tranh, phòng, chống ma tuý, đồng thời nghiên cứu mở rộng cai nghiện cho các đối tượng tự nguyện.
Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Khắc Định, ủy viên Thường trực ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS, ma túy, mại dâm đã đề nghị như trên tại buổi làm việc giữa Đoàn công tác của ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS, ma túy, mại dâm với UBND tỉnh Ninh Bình về tình hình thực hiện công tác phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm và HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh, ngày 22/10, tại Hà Tĩnh.

Tăng cường công tác tuyên truyền phòng, chống HIV và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm
Phó Chủ nhiệm Nguyễn Khắc Định yêu cầu, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thuyết phục, đi vào từng nhà, vận động từng đối tượng với những hình thức tuyên truyền phù hợp, thông qua các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội và những người đang điều trị nghiện bằng thuốc Methadone.

Trong thời gian qua, tình hình tội phạm ma tuý trên địa bàn tỉnh vẫn diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Tính đến tháng 9/2015, toàn tỉnh có 2.331 người nghiện có hồ sơ quản lý, lũy tích người nhiễm HIV/AIDS là trên 3.600 người, trong đó có 2.600 trường hợp nhiễm HIV/AIDS còn sống, tỷ lệ nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư là 0,27%.

Trước tình hình đó, Ninh Bình đã thường xuyên mở các đợt cao điểm tuyên truyền về phòng, chống ma tuý, mại dâm và phòng, chống HIV/AIDS; tăng cường đấu tranh trấn áp tội phạm về ma tuý.

Bên cạnh đó, tỉnh tập trung thực hiện công tác chữa trị cai nghiện, phục hồi cho người nghiện ma tuý được thực hiện tại Trung tâm Chữa bệnh, giáo dục lao động xã hội, tại gia đình và cộng đồng. Trong 9 tháng đầu năm, tỉnh đã tổ chức cai nghiện tại gia đình và cộng đồng cho 137 người nghiện. Toàn tỉnh hiện có 6 cơ sở điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone, đang điều trị cho 555 bệnh nhân.

Để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống AIDS, ma túy, cai nghiện phục hồi trong thời gian tới, Ninh Bình kiến nghị Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương tiếp tục hỗ trợ kinh phí để duy trì hoạt động phòng, chống AIDS và phòng, chống ma túy trong giai đoạn 2016 – 2020, đặc biệt cấp miễn phí thuốc Methadone cho bệnh nhân. Cùng với đó, xem xét lại quy trình, thủ tục lập hồ sơ đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Nghị định 221 của Chính phủ.

Tại buổi làm việc, các đại biểu đã thảo luận làm rõ hơn những kết quả đạt được của Ninh Bình trong công tác phòng, chống AIDS, ma túy, mại dâm thời gian qua, đồng thời chỉ rõ những khó khăn, tồn tại, hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Văn Dung khẳng định, trong thời gian tới Ninh Bình sẽ nghiên cứu và tổ chức thực hiện tốt công tác phòng, chống HIV và phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm. Về việc nâng cấp Trung tâm Chữa bệnh, Giáo dục Lao động Xã hội thành trung tâm đa chức năng trong công tác cai nghiện ma túy, chữa bệnh, dạy nghề và giải quyết việc làm, tỉnh sẽ phấn đấu hoàn thành xong trong năm 2015, cố gắng khống chế, giảm và đẩy lùi tệ nạn ma túy trên địa bàn tỉnh.

Trước đó, Đoàn công tác của Uy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm đã có buổi khảo sát tại Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh và Trung tâm Chữa bệnh giáo dục lao động xã hội Ninh Bình.
Hồng Minh

Tài liệu tuyên truyền luật phòng, chống ma túy năm 2014

Trong thời gian qua, Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm chỉ đạo triển khai thực hiện có hiệu quả nhiều mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp về phòng chống tệ nạn ma túy. Với sự nỗ lực của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, sự tham gia tích cực của các tổ chức chính trị – xã hội, đoàn thể, các tổ chức quốc tế và sự đồng thuận của nhân dân cả nước, công tác phòng chống ma túy đã có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, kết quả đạt được còn chưa thực sự bền vững, tội phạm và tệ nạn ma túy vẫn chưa giảm nhiều; công tác quản lý cai nghiện, quản lý sau cai nghiện, giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết.

Trong thời gian qua, Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm chỉ đạo triển khai thực hiện có hiệu quả nhiều mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp về phòng chống tệ nạn ma túy. Với sự nỗ lực của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương, sự tham gia tích cực của các tổ chức chính trị – xã hội, đoàn thể, các tổ chức quốc tế và sự đồng thuận của nhân dân cả nước, công tác phòng chống ma túy đã có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, kết quả đạt được còn chưa thực sự bền vững, tội phạm và tệ nạn ma túy vẫn chưa giảm nhiều; công tác quản lý cai nghiện, quản lý sau cai nghiện, giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết.
Đặc biệt tình hình buôn bán, vận chuyển, tàn trữ trái phép các chất ma túy diễn ra phức tạp trên cả 03 tuyến: đường biển, đường hàng không và biên giới. Do đó Việt Nam đã trở thành một trong những điểm trung chuyển ma túy đi các nước trên thế giới. Theo số liệu của Ủy ban quốc gia về phòng, chống ma túy năm 2013 phát hiện điều tra 21.188 vụ, bắt 32.332 đối tượng phạm tội buôn bán, vận chuyển các chất ma túy, thu giữ 940 kg heroin, 117 kg thuốc phiện, 323.772 viên ma túy tổng hợp. Năm 2013 cả nước có 181.396 người nghiện ma túy tăng 9.396 người so với năm 2012. Trong các loại ma túy thì heroin là loại ma túy bị lạm dụng chủ yếu, chiếm 75%. Ngoài ra tình hình sử dụng ma túy đá (methaphetamine) đang có chiều hướng gia tăng nhanh trong lứa tuổi thanh, thiếu niên.
Năm 2014, tội phạm ma túy tiếp tục diễn biến phức tạp, hoạt động manh động, manh tính chất ngày càng nghiêm trọng, quy mô ngày càng lớn, hoạt động xuyên quốc gia, có yếu tố nước ngoài. Các lực lượng chức năng đã phát hiện 5 tuyến ma túy từ Tam giác Vàng về Việt Nam theo đường Điện Biên, Sơn La, Nghệ An, Hà Tĩnh. Xu hướng mua bán và sử dụng ma túy đá diễn ra ngày càng phổ biển ở các thành phố lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến thanh niên, giới trẻ, kéo theo số lượng tụ điểm phức tạp tăng nhanh. Tội phạm sẵn sàng sử dụng vũ khí nóng để chống trả lực lượng chức năng khi bị phát hiện bắt giữ. Theo số liệu của Ban chỉ đạo 138 Chính phủ trong 06 tháng đầu năm, các lực lượng chức năng bắt giữ 9.214 vụ, bắt 13.873 đối tượng phạm tội về ma túy, thu giữ 246,039 kg heroine. Điển hình là vào ngày 19/7/2014 tại chảo lửa Thung Cuông xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Công an tỉnh Sơn La đã tổ chức vây bắt một nhóm gồm 25 đối tượng là người Lào đang vận chuyển trái phép chất ma túy vào Việt Nam. Sau hơn 1h đồng hồ hiệp đồng chiến đấu ta bắt được 03 đối tượng, diệt 02 tên, thu 108 bánh heroine, 02 khẩu súng AK, 02 súng cạc bia, 01 súng ngắn và hơn 70 viên đạn. Trong cuộc vây bắt, Thượng úy Lường Phát Chiêu, Trung đội trưởng Cảnh sát cơ động – Công an tỉnh Sơn La đã hy sinh, 01 đ/c cán bộ phòng PC47- Công an tỉnh Sơn La bị thương nặng.

Riêng tại Bình Thuận, theo số liệu thống kê chưa đầy đủ năm 2013 đã có 1.972 người nghiện có hồ sơ, tăng 729 người so với năm 2012. Đã có 9/10 huyện, thị xã, thành phố với 63/127 xã, phường, thị trấn có người nghiện ma túy. Năm 2013 lực lượng Công an toàn tỉnh đã đấu tranh, triệt phá 171 vụ, bắt 386 đối tượng, thu giữ 11,25 gam ma túy đá, 131,973 gam heroin, 502,9 kg cần sa khô. Trong 06 tháng đầu 2014, theo số liệu của Công an tỉnh thì tội phạm về trật tự xã hội tuy được kiềm chế và giảm về số vụ nhưng thủ đoạn của một số loại tội phạm thể hiện tính chuyên nghiệp, tinh vi và có sự chuẩn bị từ trước, toàn tỉnh xảy ra 190 vụ làm chết 13 người, bị thương 39 người so với cùng kỳ năm 2013 giảm 56 vụ (190/246, 22,8%); trong dó, trọng án xảy ra 32 vụ, giảm 05 vụ (32/37) gồm: giết người 11 vụ, giảm 01 vụ; cướp tài sản 12 vụ, giảm 02 vụ; cố ý gây thương tích dẫn đến chết người 01 vụ; hiếp dân 05 vụ; hiếp dâm trẻ em 03 vụ; thường án xảy ra 158 vụ, giảm 51 vụ (158/209). Tội phạm ma túy tiếp tục phức tạp, tập trung ở địa bàn Tuy Phong, Bắc Bình, Lagi, Phan Thiết, Đức Linh…xuất hiện nhiều đường dây ma túy tổng hợp ở các tỉnh giáp ranh đưa vào Bình Thuận để tiêu thụ; tình trạng trồng cây cần sa và mua bán các chế phẩm từ cây cần sa tiếp tục tái diễn ở một số xã vùng cao thuộc địa bàn Hàm Thuận Bắc, Tánh Linh. Trong 06 tháng đầu năm, cơ quan Công an đã phát hiện 81 vụ/184 đối tượng (tăng 08 vụ) tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép các chất ma túy. Tổng số người nghiện 1.616 người (giảm 385 người so với cuối năm 2013);

Qua tổng kết công tác phòng, chống ma tội phạm 06 tháng đầu năm 2014 tại Hà Nội đã rút ra một trong những nguyên nhân hàng đầu làm cho số người nghiện ma túy tăng đột biến trong thời gian qua là do thiếu hiểu biết và tác hại của các loại ma túy. Để chủ động phòng ngừa tệ nạn ma túy mọi người dân cần hiểu rõ tác hại của ma túy như sau:
Ma túy phá hoại sức khỏe của người sử dụng, dễ mắc các bệnh về tim mạch, thần kinh, thận, viêm gan siêu vi B,C, nhiễm HIV/AIDS; thể xác gầy còm, ốm yếu, rối loạn sinh lý, thần kinh bất ổn, giảm trí nhớ, lười lao động. Khi dùng ma túy, người nghiện bị kích thích, gây ảo giác, làm cho hành vi của họ bị lệch chuẩn, mất nhân cách và dễ vi phạm pháp luật. Khi không có tiền hút chích, người nghiện sẵn sàng làm bất cứ việc gì, kể cả giết người, cướp tài sản để thỏa mãn cơn nghiện; tiêm chích ma túy dễ dẫn đến lây nhiễm HIV/AIDS (chiếm khoảng 75%). Ma túy là nguyên nhân dễ làm phá vỡ hạnh phúc gia đình, làm kiệt quệ kinh tế và tạo gánh nặng cho gia đình.
Tệ nạn ma túy còn làm băng hoại đạo đức, lối sống, thuần phong mỹ tục, làm suy thoái giống nòi, là nguyên nhân sâu xa của hàng loạt tội phạm nguy hiểm (qua nghiên cứu tình hình tội phạm thì 70% phạm tội hình sự có liên quan đến ma túy). Tính trung bình mỗi năm số người nghiện ở nước ta (hơn 181 nghìn người) tiêu tốn khoảng 3,5 nghìn tỉ đồng, có hàng nghìn người bị chết hoặc tàn phế vĩnh viễn do ma túy, hàng trăm nghìn người bị lây nhiễm HIV/AIDS do tiêm chích ma túy.
Ma túy gây tác hại nhiều mặt về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và trở thành thảm họa chung của cả nhân loại. Ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; làm gia tăng tội phạm, bạo lực, tệ nạn tham nhũng.
Những nguyên nhân dẫn đến tội phạm và người nghiện ma túy ngày càng gia tăng đó là:
Về nguyên nhân chủ quan: mang tính chất quyết định dẫn tới nghiện ma túy là do người sử dụng ma túy thiếu hiểu biết về tác hại của ma túy nên bị kẻ xấu lôi kéo, dụ dỗ dùng thử ma túy cho dù chỉ thử một lần nhưng vẫn bị nghiện ma túy. Sau đó vì sỉ diện cá nhân, vì danh dự gia đình, dòng tộc mà bưng bít, giấu kín nhưng đã “đâm lao thì phải theo lao” từ nghiện nhẹ đến nghiện nặng.
Thiếu hiểu biết về ma túy cộng với tính hiếu kỳ, tò mò, thích chơi trội thể hiện mình ở các nhà hàng, vũ trường để được mệnh danh là những đại gia sành điệu ăn chơi dẫn tới tự nguyện sử dụng ma túy rồi trở thành người nghiện. Ngoài mâu thẫn gia đình (bố mẹ ly dị, ly thân) làm cho con cái buồn chán, bỏ học, bỏ nhà đi bụi đời hình thành các băng nhóm sống lang thang trộm cắp, móc túi…bị kẻ xấu lôi kéo vào hút chích ma túy và lợi dụng những đối tượng này vào con đường vận chuyển trái phép các chất ma túy.
Về nguyên nhân khách quan: mặt trái cơ chế thị trường luôn là mảnh đất cho các loại tệ nạn xã hội phát triển, đặc biệt là tệ nạn ma túy, đã tác động vào tầng lớp thanh, thiếu niên lối sống thực dụng, thích ăn chơi, hưởng thụ nhưng không chịu lao động; đồng thời trong xã hội khoảng cách giàu nghèo ngày càng phân hóa sâu sắc, một số gia đình giàu lên rất nhanh dẫn tới con cái có điều kiện ăn chơi, đua đòi; một số thanh thiếu niên không có điều kiện về tài chính đáp ứng nhu cầu ăn chơi, đua đòi sinh ra trộm cắp, cướp giật, nhất là khi đã nghiện ma túy thì nhu cầu trên càng cao hơn dẫn tới hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng như giết người, cướp tài sản để có tiền ăn chơi cho bằng bạn, bằng bè.
Đặc biệt, ý thức giáo dục, quan tâm con cái của một số gia đình bị buôn lỏng. Vì cuộc sống mưu sinh một số bậc cha mẹ mãi mê làm ăn kiếm sống mà quên đi giáo dục, uốn nắn con cái trong quan hệ tiếp xúc bạn bè và khuyên bảo tránh xa các loại ma túy nên một số thanh thiếu niên đã rơi vào cảnh nghiện ngập nhưng bố mẹ vẫn không hề hay biết. Chỉ đến khi con mình phạm tội bị bắt giam mới biết, lúc đó đã quá muộn.
Ngoài ra, công tác quản lý, giúp đỡ người nghiện ma túy, những người sau cai nghiện còn bộc lộ nhiều sơ hở, thiếu sót như: các đoàn thể chính trị kể cả nhà trường không kiểm soát, phát hiện kịp thời người có biểu hiện nghiện ma túy để có biện pháp cai nghiện kịp thời. Những người sau cai nghiện trở về địa phương vẫn còn bị xa lánh, phân biệt, đối xử làm cho họ thấy mặc cảm, nảy sinh tư tưởng chán đời thiếu niềm tin, thiếu việc làm lại lao vào sử dụng ma túy. Công tác tuyên truyền phổ biến Luật phòng, chống ma túy của các đoàn thể chính trị đã được tăng cường, tuy nhiên còn thiếu sự phối hợp, chưa có sự phân công cụ thể dẫn tới tình trạng công tác tuyên truyền chưa được thường xuyên.
Để làm tốt công tác tuyên truyền Luật phòng, chống ma túy góp phần làm giảm số lượng người nghiên ma túy ở địa phương mỗi người dân cần nâng cao nhận thức về tác hại của các loại ma túy, đề cao tinh thần cảnh giác trước các thủ đoạn của tội phạm ma túy như:
– Kích thích tính tò mò, khuyến mãi dùng thử rồi nghiện
– Lôi kéo ăn chơi, sành điệu của một số gia đình khá giả về kinh tế
– Sử dụng người nghiện lôi kéo, dụ dỗ người khác cùng nghiện với những chiêu trò thưởng hậu hĩnh, giả tạo.
– Lợi dụng hoàn cảnh gia đình khó khăn kiếm tiền để mưu sinh cuộc sống mà lợi dụng họ vào buôn bán, vận chuyển ma túy trái pháp luật.
Các đoàn thể chính trị cần tổ chức tuyên truyền sâu rộng cho quần chúng nhân dân hiểu rõ những hành vi mà Luật phòng, chống ma túy nghiêm cấm:
– Nghiêm cấm trồng cây có chứa chất ma túy. (như cây cần sa, cây côca, cây thuốc phiện…)
– Nghiêm cấm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, bảo quản, mua bán, phân phối, giám định, xử lý, trao đổi, xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, nghiên cứu trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần.
– Sử dụng, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, xúi dục, cưỡng bức, lôi kéo, chứa chấp, hỗ trợ việc sử dụng trái phép chất ma túy.
– Sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất, sử dụng trái phép chất ma túy.
– Hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội ma túy mà có.
– Chống lại hoặc cản trở việc cai nghiện ma túy.
– Trả thù hoặc cản trở người có trách nhiệm hoặc người tham gia phòng, chống ma túy: là hành vi của người bị xử lý về những vi phạm về ma túy nhằm gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản…hoặc gây khó khăn trở ngại cho người có trách nhiệm hoặc người tham gia phòng, chống những sai phạm về ma túy.
– Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp để vi phạm pháp luật về phòng, chống ma túy.
– Các hành vi trái phép khác về ma túy như: Lạm dụng việc quản lý sử dụng chất ma túy trong lĩnh vực y tế, công nghiệp để vi phạm pháp luật; bao che cho hành vi chống cai nghiện ma túy, có hành vi làm cho người sau cai nghiện tái sử dụng ma túy; bao che các tội phạm về ma túy.
Tùy theo từng trường hợp cụ thể, từng hành vi, tác hại, hậu quả xảy ra do hành vi vi phạm vào một trong các điều cấm nêu trên để xử lý.
Gia đình là tế bào của xã hội có vai trò quan trọng, quyết định trong công tác phòng, chống ma túy, do đó mỗi gia đình cần tích cực:
– Giáo dục thành viên trong gia đình, thân nhân về tác hại của ma túy và thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống ma túy; quản lý chặt chẽ, ngăn chặn thành viên trong gia đình tham gia tệ nạn ma túy.
– Thực hiện đúng chỉ định của thầy thuốc về sử dụng thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần để chữa bệnh.
– Đấu tranh với các hành vi trái phép về ma túy của thân nhân và của người khác.
– Tham gia, hỗ trợ hoạt động cai nghiện ma túy tại các cơ sở cai nghiện và tại cộng đồng; theo dõi, giúp đỡ người đã cai nghiện ma túy hòa nhập cộng đồng, phòng, chống tái nghiện.
– Phát hiện, cung cấp nhanh chống các thông tin về tệ nạn ma túy cho cơ quan Công an hoặc cơ quan khác có thẩm quyền.
– Phát hiện, báo cáo kịp thời cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền việc trồng cây có chứa chất ma túy; tham gia triệt phá cây có chứa chất ma túy do chính quyền địa phương tổ chức.
Riêng người nghiện ma túy và gia đình có người nghiện ma túy có trách nhiệm:
– Tự khai báo về tình trạng nghiện ma túy của mình với cơ quan, tổ chức nơi làm việc hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, trị trấn nơi cơ trú và tự đăng ký hình thức cai nghiện ma túy;
– Tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về cai nghiện ma túy.
– Khai báo với UBND cấp xã về người nghiện ma túy trong gia đình mình, tình trạng nghiện và đăng ký hình thức cai nghiện cho người đó.
– Động viên, giúp đỡ và quản lý người nghiện ma túy cai nghiện tại gia đình, cai nghiện ma túy tại cộng đồng theo sự hướng dẫn giám sát của cán bộ y tế và UBND cấp xã.
– Theo dõi, giám sát, phòng ngừa, ngăn chặn người nghiện sử dụng trái phép chất ma túy hoặc có hành vi gây mất trật tự an toàn xã hội.
– Hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền đưa người nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện và đóng góp kinh phí cai nghiện theo quy định của pháp luật.
Để tăng cường công tác quản lý nhà nước về phòng, chống ma túy, trách nhiệm của UBND xã, phường, thị trấn cần tổ chức cho người nghiện ma túy, gia đình người nghiện ma túy khai báo về tình trạng nghiện ma túy và đăng ký hình thức cai nghiện.
Đối với cơ quan, tổ chức trong phòng chống ma túy.
– Phát hiện, cung cấp nhanh các thông tin về tệ nạn ma túy cho cơ quan Công an hoặc cơ quan khác có thẩm quyền. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xem xét, giải quyết kịp thời những thông tin, tố giác về tệ nạn ma túy.
– Phát hiện, báo cáo kịp thời cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền việc trồng cây có chứa chất ma túy; tham gia triệt phá cây có chứa chất ma túy do chính quyền địa phương tổ chức.
– Tại các vùng phải xóa bỏ cây có chứa chất ma túy, các cơ quan nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của nhà nước về phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp để thay thế việc trồng cây có chứa chất ma túy; quy hoạch cơ cấu nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và thị trường phù hợp để nhân dân chuyển hướng sản xuất có hiệu quả.
– Các cơ quan thông tin, tuyên truyền có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân tổ chức tuyên truyền, giáo dục để nhân dân nhận thức rõ về tác hại của ma túy; chủ trương, chính sách, pháp luật, biện pháp của nhà nước về phòng, chống ma túy.
Đối với Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức khác trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm trong phòng chống ma túy.
– Tổ chức và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tuyên truyền, giáo dục nhân dân kiến thức pháp luật về phòng, chống ma túy; xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, văn minh.
– Phòng ngừa, ngăn chặn người của tổ chức mình và mọi công dân tham gia tệ nạn ma túy.
– Giám sát hoạt động phòng, chống ma túy ở cơ quan, nhà trường, các cơ sở giáo dục khác và địa bàn dân cư.
– Phối hợp với chính quyền các cấp, các cơ quan có thẩm quyền để vận động cai nghiện ma túy; tham gia giáo dục, dạy nghề, tìm việc làm và giúp đỡ người đã cai nghiện ma túy hòa nhập cộng đồng, phòng, chống tái nghiện.
Trách nhiệm của nhà trường và các cơ sở giáo dục trong phòng, chống ma túy.
– Tổ chức chương trình giáo dục về phòng, chống ma túy, giáo dục pháp luật về phòng, chống ma túy và lối sống lành mạnh cho học sinh, sinh viên, học viên; quản lý chặt chẽ học sinh, sinh viên, học viên tham gia tệ nạn ma túy.
– Phối hợp với gia đình, cơ quan, tổ chức và chính quyền địa phương để quản lý, giáo dục học sinh, sinh viên, học viên về phòng, chống ma túy.

– Phối hợp với cơ quan y tế và chính quyền địa phương tổ chức xét nghiệm khi cần thiết để phát hiện học sinh, sinh viên, học viên nghiện ma túy./.

Phòng PV28 – Công an tỉnh

LUẬT PHÒNG, CHỐNG MA TUÝ

QUỐC HỘI
______

Luật số: 23/2000/QH10

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

_______________

LUẬT
PHÒNG, CHỐNG MA TUÝ

Tệ nạn ma tuý là hiểm hoạ lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia.

Để phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh có hiệu quả với tệ nạn ma tuý;

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;

Luật này quy định về phòng, chống ma tuý.

CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1

Luật này quy định về phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống tệ nạn ma tuý; kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma tuý; trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống ma tuý.

Điều 2

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Chất ma tuý là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành.

2. Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng.

3. Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng.

4. Tiền chất là các hoá chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế, sản xuất chất ma tuý, được quy định trong danh mục do Chính phủ ban hành.

5. Thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần là các loại thuốc chữa bệnh được quy định trong các danh mục do Bộ Y tế ban hành, có chứa các chất quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

6. Cây có chứa chất ma tuý bao gồm cây thuốc phiện (cây anh túc), cây cô ca, cây cần sa hoặc cây khác có chứa chất ma tuý do Chính phủ quy định.

7. Phòng, chống ma tuý là phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống tệ nạn ma tuý và kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma tuý.

8. Tệ nạn ma tuý là tình trạng nghiện ma tuý, tội phạm về ma tuý và các hành vi trái phép khác về ma tuý.

9. Các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma tuý bao gồm các hoạt động nghiên cứu, giám định, sản xuất, vận chuyển, bảo quản, tàng trữ, mua bán, phân phối, sử dụng, xử lý, trao đổi, nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh các chất quy định tại các khoản 1, 4 và 5 Điều này, được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định của pháp luật.

10. Kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma tuý là việc cho phép, theo dõi, kiểm tra, giám sát các hoạt động quy định tại khoản 9 Điều này và phòng ngừa, ngăn chặn việc lợi dụng các hoạt động đó vào mục đích khác.

11. Người nghiện ma tuý là người sử dụng chất ma tuý, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào các chất này.

Điều 3

Nghiêm cấm các hành vi sau đây:

1. Trồng cây có chứa chất ma tuý;

2. Sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, bảo quản, mua bán, phân phối, giám định, xử lý, trao đổi, xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, nghiên cứu trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần;

3. Sử dụng, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý; xúi giục, cưỡng bức, lôi kéo, chứa chấp, hỗ trợ việc sử dụng trái phép chất ma tuý;

4. Sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất, sử dụng trái phép chất ma tuý;

5. Hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội về ma tuý mà có;

6. Chống lại hoặc cản trở việc cai nghiện ma tuý;

7. Trả thù hoặc cản trở người có trách nhiệm hoặc người tham gia phòng, chống ma tuý;

8. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp để vi phạm pháp luật về phòng, chống ma tuý;

9. Các hành vi trái phép khác về ma tuý.

Điều 4

1. Phòng, chống ma tuý là trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức và của toàn xã hội.

2. Nhà nước có chính sách khuyến khích, bảo vệ cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức tham gia phòng, chống tệ nạn ma tuý; tổ chức đấu tranh chống các tội phạm về ma tuý và sử dụng đồng bộ các biện pháp kinh tế, pháp luật, văn hoá, xã hội, nghiệp vụ để tuyên truyền, vận động nhân dân, cán bộ, công chức và cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang nhân dân tham gia phòng, chống tệ nạn ma tuý; kết hợp phòng, chống tệ nạn ma tuý với phòng, chống các loại tội phạm, HIV/AIDS và các tệ nạn xã hội khác.

Điều 5

1. Nhà nước Việt Nam thực hiện các điều ước quốc tế về phòng, chống ma tuý và các điều ước quốc tế khác có liên quan mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và các bên cùng có lợi; hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế, tổ chức, cá nhân nước ngoài trong hoạt động phòng, chống ma tuý.

2. Cá nhân, tổ chức nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú, đi lại trên lãnh thổ Việt Nam có trách nhiệm tuân thủ các quy định của Luật này và các quy định khác của pháp lu��t Việt Nam về phòng, chống ma tuý.

CHƯƠNG II
TRÁCH NHIỆM PHÒNG, CHỐNG MA TUÝ

Điều 6

Cá nhân, gia đình có trách nhiệm:

1. Giáo dục thành viên trong gia đình, thân nhân về tác hại của ma tuý và thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống ma tuý; quản lý chặt chẽ, ngăn chặn thành viên trong gia đình tham gia tệ nạn ma tuý;

2. Thực hiện đúng chỉ định của thầy thuốc về sử dụng thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần để chữa bệnh;

3. Đấu tranh với các hành vi trái phép về ma tuý của thân nhân và của người khác;

4. Tham gia, hỗ trợ hoạt động cai nghiện ma tuý tại các cơ sở cai nghiện và tại cộng đồng; theo dõi, giúp đỡ người đã cai nghiện ma tuý hoà nhập cộng đồng; phòng, chống tái nghiện.

Điều 7

Cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm phát hiện, cung cấp nhanh chóng các thông tin về tệ nạn ma tuý cho cơ quan công an hoặc cơ quan khác có thẩm quyền. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xem xét, giải quyết kịp thời những thông tin, tố giác về tệ nạn ma tuý.

Điều 8

1. Cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm phát hiện, báo cáo kịp thời cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền việc trồng cây có chứa chất ma tuý; tham gia triệt phá cây có chứa chất ma tuý do chính quyền địa phương tổ chức.

2. Tại các vùng phải xoá bỏ cây có chứa chất ma tuý, các cơ quan nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của Nhà nước về phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp để thay thế việc trồng cây có chứa chất ma tuý; quy hoạch cơ cấu nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và thị trường phù hợp để nhân dân chuyển hướng sản xuất có hiệu quả.

Điều 9

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức khác trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:

1. Tổ chức và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tuyên truyền, giáo dục nhân dân kiến thức, pháp luật về phòng, chống ma tuý; xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, văn minh;

2. Phòng ngừa, ngăn chặn người của tổ chức mình và mọi công dân tham gia tệ nạn ma tuý;

3. Giám sát hoạt động phòng, chống ma tuý ở cơ quan, nhà trường, các cơ sở giáo dục khác và địa bàn dân cư;

4. Phối hợp với chính quyền các cấp, các cơ quan có thẩm quyền để vận động cai nghiện ma tuý; tham gia giáo dục, dạy nghề, tìm việc làm và giúp đỡ người đã cai nghiện ma tuý hoà nhập cộng đồng; phòng, chống tái nghiện.

Điều 10

Nhà trường và các cơ sở giáo dục khác có trách nhiệm:

1. Tổ chức thực hiện chương trình giáo dục về phòng, chống ma tuý; giáo dục pháp luật về phòng, chống ma tuý và lối sống lành mạnh cho học sinh, sinh viên, học viên; quản lý chặt chẽ, ngăn chặn học sinh, sinh viên, học viên tham gia tệ nạn ma tuý;

2. Phối hợp với gia đình, cơ quan, tổ chức và chính quyền địa phương để quản lý, giáo dục học sinh, sinh viên, học viên về phòng, chống ma tuý;

3. Phối hợp với cơ quan y tế và chính quyền địa phương tổ chức xét nghiệm khi cần thiết để phát hiện học sinh, sinh viên, học viên nghiện ma tuý.

Điều 11

Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức phòng, chống ma tuý ở cơ quan, đơn vị mình; phòng ngừa, ngăn chặn cán bộ, công chức và cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang nhân dân tham gia tệ nạn ma tuý; tuyên truyền, động viên cán bộ, công chức và cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang nhân dân và nhân dân phát hiện, tố giác, đấu tranh với tệ nạn ma tuý.

Điều 12

Các cơ quan thông tin, tuyên truyền có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân tổ chức tuyên truyền, giáo dục để nhân dân nhận thức rõ về tác hại của ma tuý; chủ trương, chính sách, pháp luật, biện pháp của Nhà nước về phòng, chống ma tuý.

Điều 13

1. Cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma tuý thuộc Công an nhân dân được tiến hành một số hoạt động sau đây:

A) Chủ trì phối hợp với các cơ quan hữu quan thực hiện các hoạt động ngăn chặn, đấu tranh chống các tội phạm về ma tuý tại các địa bàn biên giới và nội địa;

B) Áp dụng các biện pháp nghiệp vụ trinh sát cần thiết để phát hiện tội phạm về ma tuý;

C) Trưng cầu giám định mẫu vật, mẫu phẩm sinh học cần thiết để phát hiện tội phạm về ma tuý;

D) Yêu cầu cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu, tình hình tài chính và tài khoản tại ngân hàng khi có căn cứ cho rằng có hành vi quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 8 Điều 3 của Luật này;

Đ) Yêu cầu cơ quan bưu điện mở bưu kiện, bưu phẩm để kiểm tra khi có căn cứ cho rằng trong bưu kiện, bưu phẩm đó có chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần;

E) áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người tố giác, người làm chứng và người bị hại trong các vụ án về ma tuý.

2. Cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm d và đ khoản 1 Điều này khi được cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma tuý yêu cầu có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu đó.

3. Chính phủ quy định cụ thể về điều kiện, thủ tục, thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma tuý trong việc thực hiện các hoạt động quy định tại khoản 1 Điều này.

Điều 14

1. Cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức tham gia các hoạt động phòng, chống ma tuý được Nhà nước bảo vệ và giữ bí mật.

2. Trường hợp cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức do tham gia phòng, chống ma tuý mà bị thiệt hại về tài sản thì được Nhà nước đền bù; trường hợp cá nhân bị thương tích, tổn hại về sức khoẻ hoặc bị thiệt hại về tính mạng thì bản thân hoặc gia đình được hưởng chế độ, chính sách đặc biệt theo quy định của Chính phủ.

3. Cơ quan công an, hải quan, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển, viện kiểm sát, toà án và chính quyền các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này.

CHƯƠNG III
KIỂM SOÁT CÁC HOẠT ĐỘNG HỢP PHÁP LIÊN QUAN ĐẾN MA TUÝ

Điều 15

Việc nghiên cứu, giám định, sản xuất, vận chuyển, bảo quản, tàng trữ, mua bán, phân phối, sử dụng, xử lý, trao đổi, nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh lãnh thổ Việt Nam chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần phải được quản lý chặt chẽ theo quy định của pháp luật.

Điều 16

1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức được vận chuyển chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần phải đóng gói, niêm phong theo quy định của cơ quan có thẩm quyền, chịu trách nhiệm về số lượng, chất lượng hàng của mình và có biện pháp bảo vệ an toàn, không để bị thất thoát.

2. Việc vận chuyển các chất quy định tại khoản 1 Điều này của cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Điều 17

Việc tồn trữ, bảo quản, kê đơn và bán thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần để chữa bệnh tại các cơ sở y tế phải thực hiện theo quy định của Bộ Y tế.

Điều 18

Cá nhân, cơ quan, tổ chức tiến hành các hoạt động quy định tại các điều 15, 16 và 17 của Luật này phải lập hồ sơ về các hoạt động đó theo quy định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và thông báo cho các cơ quan có liên quan khi có yêu cầu để phối hợp quản lý, kiểm soát chặt chẽ.

Điều 19

Chỉ cơ quan, tổ chức có đủ điều kiện do Chính phủ quy định mới được phép nhập khẩu, xuất khẩu chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần.

Điều 20

1. Các trường hợp vận chuyển quá cảnh lãnh thổ Việt Nam chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần phải có giấy phép quá cảnh của Bộ trưởng Bộ Công an Việt Nam. Tổ chức cần vận chuyển quá cảnh phải gửi đơn và hồ sơ xin phép quá cảnh kèm theo giấy phép của nước xuất khẩu và nước nhập khẩu đến Bộ Công an Việt Nam để làm thủ tục.

Giấy phép quá cảnh được gửi cho tổ chức xin phép, hải quan cửa khẩu nơi có hàng quá cảnh đi qua và các cơ quan khác có liên quan. Giấy phép quá cảnh có giá trị một lần trong thời hạn được ghi trong giấy phép.

2. Việc vận chuyển quá cảnh các chất quy định tại khoản 1 Điều này phải theo đúng hành trình đã ghi trong giấy phép quá cảnh. Tổ chức vận chuyển quá cảnh phải làm thủ tục, chịu sự kiểm soát của cơ quan hải quan và các cơ quan khác có thẩm quyền của Việt Nam.

Điều 21

Mọi trường hợp vận chuyển chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần vào, ra hoặc qua lãnh thổ Việt Nam mà không có giấy phép nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh lãnh thổ Việt Nam hoặc không tuân thủ các quy định khác của pháp luật Việt Nam về vận chuyển, nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh thì đều bị coi là vận chuyển trái phép.

Điều 22

Việc giao, nhận, vận chuyển, tàng trữ, bảo quản, sử dụng, nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần vì mục đích quốc phòng, an ninh thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Điều 23

1. Việc mang theo một số lượng hạn chế thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần dự phòng cho việc sơ cứu, cấp cứu trong cuộc hành trình hoặc du lịch quốc tế trên tàu thuỷ, tàu bay, tàu hoả, ô tô hoặc các phương tiện vận tải khác không bị coi là mang hàng xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh lãnh thổ Việt Nam.

Người chỉ huy hoặc điều khiển phương tiện vận tải có trách nhiệm làm thủ tục khai báo với cơ quan hải quan của Việt Nam, giải trình về số lượng thuốc đã sử dụng và áp dụng các biện pháp an toàn thích hợp để ngăn chặn việc sử dụng không đúng mục đích hoặc vận chuyển trái phép các thuốc đó. Khi cần thiết, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam được tiến hành kiểm tra, kiểm soát trên các phương tiện vận tải đó.

2. Việc mang theo thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần để chữa bệnh của cá nhân khi nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh lãnh thổ Việt Nam được thực hiện theo quy định của Bộ Y tế Việt Nam và phải chịu sự kiểm soát của các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.

Điều 24

1. Chất ma tuý, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần bị thu giữ trong các vụ án hình sự phải tiêu huỷ, trừ trường hợp chất ma tuý, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần được sử dụng trong các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma tuý bị chiếm đoạt được trả lại cho chủ sở hữu.

2. Việc xử lý thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần kém chất lượng hoặc quá hạn sử dụng thực hiện theo quy định của Bộ Y tế.

3. Việc xử lý chất ma tuý, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này và tiền chất thực hiện theo quy định của Chính phủ.

CHƯƠNG IV
CAI NGHIỆN MA TUÝ

Điều 25

Nhà nước có chính sách khuyến khích việc tự nguyện cai nghiện ma tuý; áp dụng chế độ cai nghiện đối với người nghiện ma tuý; tổ chức các cơ sở cai nghiện ma tuý bắt buộc và khuyến khích cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức thực hiện các hình thức cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài hỗ trợ các hoạt động cai nghiện ma tuý.

Điều 26

1. Người nghiện ma tuý có trách nhiệm:

A) Tự khai báo về tình trạng nghiện ma tuý của mình với cơ quan, tổ chức nơi làm việc hoặc chính quyền cơ sở nơi cư trú và tự đăng ký hình thức cai nghiện;

B) Tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về cai nghiện ma túy.

2. Gia đình có người nghiện ma tuý có trách nhiệm:

A) Báo cho chính quyền cơ sở về người nghiện ma tuý trong gia đình mình và tình trạng nghiện của người đó;

B) Giúp người nghiện ma tuý cai nghiện tại gia đình theo sự hướng dẫn, giám sát của cán bộ y tế và chính quyền cơ sở;

C) Theo dõi, giám sát, phòng ngừa, ngăn chặn người nghiện sử dụng trái phép chất ma tuý hoặc có hành vi gây mất trật tự, an toàn xã hội;

D) Hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền đưa người nghiện ma tuý vào cơ sở cai nghiện và đóng góp kinh phí cai nghiện theo quy định của pháp luật.

Điều 27

Các hình thức cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng được áp dụng đối với tất cả người nghiện ma tuý. Các cơ quan, tổ chức ở địa phương có trách nhiệm hỗ trợ, kiểm tra, giám sát hoạt động cai nghiện tại gia đình và cộng đồng.

Chính phủ quy định cụ thể về tổ chức cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng.

Điều 28

1. Người nghiện ma tuý từ đủ 18 tuổi trở lên đã được cai nghiện tại gia đình, cộng đồng hoặc đã được giáo dục nhiều lần tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc không có nơi cư trú nhất định phải được đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

2. Việc đưa người nghiện ma tuý vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được thực hiện theo quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Thời hạn cai nghiện ma tuý tại cơ sở cai nghiện bắt buộc từ một năm đến hai năm.

3. Người nghiện ma tuý tự nguyện làm đơn xin cai nghiện thì được nhận vào cai nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc và không bị coi là bị xử lý vi phạm hành chính.

4. Tổ chức và hoạt động của cơ sở cai nghiện bắt buộc, chế độ cai nghiện bắt buộc, thủ tục đưa người nghiện ma tuý quy định tại khoản 1 Điều này vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Điều 29

1. Người nghiện ma tuý từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đã được cai nghiện tại gia đình, cộng đồng hoặc đã được giáo dục nhiều lần tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc không có nơi cư trú nhất định thì được đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc dành riêng cho họ.

2. Người nghiện ma tuý từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi tự nguyện hoặc được gia đình làm đơn xin cai nghiện thì được nhận vào cai nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc dành riêng cho họ.

3. Việc cai nghiện ma tuý đối với người nghiện ma tuý quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không coi là việc xử lý vi phạm hành chính.

4. Tổ chức và hoạt động của cơ sở cai nghiện bắt buộc, thẩm quyền, thời gian, chế độ cai nghiện, thủ tục đưa người nghiện ma tuý quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Chính phủ quy định.

Điều 30

Trong thời gian cai nghiện bắt buộc, người nghiện ma tuý có trách nhiệm:

1. Tuân thủ nội quy và chịu sự quản lý, giáo dục của cơ sở cai nghiện bắt buộc;

2. Lao động, học tập, chữa bệnh để cai nghiện và góp phần đảm bảo đời sống trong thời gian cai nghiện.

Điều 31

Nhà nước áp dụng phương pháp cai nghiện thích hợp đối với người nghiện ma tuý là người bị tạm giam, phạm nhân, trại viên của cơ sở giáo dục, học sinh của trường giáo dưỡng. Cơ quan quản lý các cơ sở này phối hợp chặt chẽ với cơ quan y tế địa phương để thực hiện quy định này.

Điều 32

1. Trong cơ sở cai nghiện, những người nghiện ma tuý sau đây phải được bố trí vào các khu vực tách riêng với những người nghiện ma tuý khác để quản lý và chữa bệnh:

A) Người chưa thành niên;

B) Phụ nữ;

C) Người có bệnh truyền nhiễm nguy hiểm;

D) Người đã cai nghiện nhiều lần hoặc có hành vi gây rối trật tự.

2. Cơ sở cai nghiện ma tuý có trách nhiệm thực hiện đúng phương pháp cai nghiện đã được cơ quan có thẩm quyền duyệt; tổ chức lao động, học tập, chữa bệnh cho người cai nghiện ma tuý.

3. Người đứng đầu cơ sở cai nghiện ma tuý được quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật để quản lý chặt chẽ, giáo dục, chữa bệnh cho người cai nghiện và yêu cầu chính quyền địa phương, lực lượng vũ trang nhân dân giúp đỡ khi cần thiết.

Chính quyền địa phương, lực lượng vũ trang nhân dân có trách nhiệm phối hợp thực hiện các biện pháp bảo vệ cơ sở cai nghiện ma tuý và hỗ trợ cán bộ, công chức, nhân viên tại các cơ sở này khi có yêu cầu.

4. Cơ sở cai nghiện ma tuý phải tôn trọng danh dự, nhân phẩm, tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người cai nghiện ma tuý.

Điều 33

Người đã cai nghiện ma tuý được chính quyền cơ sở, gia đình và các tổ chức tiếp nhận, tạo điều kiện học nghề, tìm việc làm, vay vốn, tham gia các hoạt động xã hội để hoà nhập cộng đồng.

Cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm hỗ trợ chính quyền cơ sở trong việc quản lý, giáo dục, giám sát, phòng, chống tái nghiện cho người đã cai nghiện ma tuý.

Điều 34

Uỷ ban nhân dân các cấp nơi có người nghiện ma tuý có trách nhiệm lập kế hoạch tổ chức cai nghiện và phòng, chống tái nghiện ma tuý tại địa phương; chỉ đạo cơ quan lao động – thương binh và xã hội chủ trì phối hợp với cơ quan công an, y tế, giáo dục và đào tạo cùng cấp và các cơ quan, tổ chức có liên quan tổ chức cai nghiện ma tuý, quản lý, giáo dục người nghiện ma tuý và người đã cai nghiện ma tuý; hỗ trợ, tạo điều kiện cho người đã cai nghiện ma tuý hoà nhập cộng đồng.

Điều 35

1. Kinh phí để xây dựng cơ sở vật chất, tổ chức cai nghiện bắt buộc và thực hiện các hoạt động quy định tại Điều 31 và Điều 34 của Luật này gồm:

A) Ngân sách nhà nước;

B) Đóng góp của người cai nghiện và gia đình họ;

C) Các nguồn tài trợ của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước.

2. Người nghiện ma tuý, vợ hoặc chồng của người nghiện ma tuý, cha, mẹ của người chưa thành niên nghiện ma tuý có trách nhiệm đóng góp kinh phí cai nghiện theo quy định của Chính phủ; trường hợp có hoàn cảnh khó khăn thì được xét giảm hoặc miễn đóng góp kinh phí cai nghiện.

3. Cơ sở cai nghiện ma tuý được tiếp nhận các khoản đóng góp, tài trợ của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài để cai nghiện cho người nghiện ma tuý và phải quản lý, sử dụng các khoản đóng góp, tài trợ đó theo quy định của pháp luật.

CHƯƠNG V
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG, CHỐNG MA TUÝ

Điều 36

Nội dung quản lý nhà nước về phòng, chống ma tuý bao gồm:

1. Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chủ trương, chính sách, kế hoạch về phòng, chống ma tuý;

2. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống ma tuý;

3. Tổ chức bộ máy, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về phòng, chống ma tuý;

4. Ban hành, sửa đổi, bổ sung, công bố danh mục chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần;

5. Cấp, thu hồi giấy phép hoạt động hợp pháp liên quan đến ma tuý;

6. Quyết định thành lập, giải thể cơ sở cai nghiện ma tuý bắt buộc; cấp, thu hồi giấy phép hoạt động của các cơ sở khác về cai nghiện ma tuý; tổ chức và quản lý việc cai nghiện ma tuý và hoà nhập cộng đồng cho người đã cai nghiện ma tuý;

7. Tổ chức đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma tuý;

8. Thực hiện thống kê nhà nước về phòng, chống ma tuý;

9. Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ về phòng, chống ma tuý;

10. Tổ chức tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống ma tuý;

11. Hợp tác quốc tế về phòng, chống ma tuý;

12. Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống ma tuý.

Điều 37

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về phòng, chống ma tuý.

2. Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ chủ trì phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện việc thống nhất quản lý nhà nước về phòng, chống ma tuý.

3. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện và phối hợp với các cơ quan hữu quan trong phòng, chống ma tuý.

4. Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống ma tuý tại địa phương; chỉ đạo việc tuyên truyền, giáo dục, tổ chức phòng, chống ma tuý tại địa phương; quản lý việc cai nghiện ma tuý và hoà nhập cộng đồng cho người đã cai nghiện ma tuý.

Điều 38

1. Bộ Công an có trách nhiệm:

A) Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chủ trương, chính sách, kế hoạch phòng, chống tội phạm về ma tuý; tổng hợp kết quả thực hiện kế hoạch phòng, chống ma tuý của các bộ, ngành trình Chính phủ;

B) Chủ trì phối hợp với các cơ quan nhà nước hữu quan trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma tuý; tổ chức tiếp nhận và xử lý thông tin về tội phạm ma tuý;

C) Ban hành và tổ chức thực hiện quy chế quản lý chất ma tuý và tiền chất phục vụ đấu tranh chống tội phạm về ma tuý;

D) Tổ chức lực lượng điều tra các tội phạm về ma tuý, hướng dẫn các cơ quan khác tiến hành điều tra ban đầu các tội phạm này theo quy định của pháp luật;

Đ) Tổ chức công tác giám định chất ma tuý và tiền chất;

E) Tổ chức bộ máy, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác điều tra, đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma tuý, giám định chất ma tuý và tiền chất;

G) Thực hiện thống kê nhà nước về phòng, chống ma tuý; quản lý thông tin về các tội phạm về ma tuý;

H) Phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chỉ đạo việc lập hồ sơ và tổ chức đưa người nghiện ma tuý vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, giữ gìn an ninh, trật tự tại các cơ sở cai nghiện, kiểm tra hoạt động cai nghiện ma tuý tại cộng đồng và trong các cơ sở cai nghiện;

I) Thực hiện hợp tác quốc tế về phòng, chống tội phạm về ma tuý.

2. Bộ trưởng Bộ Công an cấp, thu hồi giấy phép quá cảnh lãnh thổ Việt Nam chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần; cấp, thu hồi giấy phép nhập khẩu, xuất khẩu chất ma tuý sử dụng trong lĩnh vực đấu tranh chống tội phạm.

Điều 39

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có trách nhiệm:

1. Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chủ trương, chính sách, kế hoạch tổ chức cai nghiện ma tuý; chỉ đạo tổ chức cai nghiện ma tuý và giải quyết các vấn đề xã hội sau cai nghiện;

2. Tổ chức bộ máy, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác cai nghiện ma tuý và giải quyết các vấn đề xã hội sau cai nghiện;

3. Chủ trì phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan và chính quyền địa phương xây dựng, hướng dẫn hoạt động của các cơ sở cai nghiện ma tuý; dạy nghề, tạo việc làm, tư vấn, hỗ trợ, tạo điều kiện vật chất và tinh thần để giúp đỡ người đã cai nghiện ma tuý hoà nhập cộng đồng; phòng, chống tái nghiện;

4. Thống kê, đánh giá tình hình cai nghiện ma tuý và giải quyết các vấn đề xã hội sau cai nghiện;

5. Hướng dẫn, chỉ đạo việc thành lập, giải thể cơ sở cai nghiện ma tuý bắt buộc; cấp, thu hồi giấy phép hoạt động của các cơ sở khác về cai nghiện ma tuý;

6. Thực hiện hợp tác quốc tế về cai nghiện ma tuý và giải quyết các vấn đề xã hội sau cai nghiện.

Điều 40

1. Bộ Y tế có trách nhiệm:

A) Ban hành danh mục, quy chế quản lý thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, tiền chất sử dụng trong lĩnh vực y tế và tổ chức thực hiện quy chế đó; ban hành và chủ trì phối hợp với các cơ quan hữu quan tổ chức thực hiện quy chế quản lý chất ma tuý sử dụng trong lĩnh vực y tế, phân tích, kiểm nghiệm và nghiên cứu khoa học;

B) Quy định việc nghiên cứu thuốc và phương pháp cai nghiện ma tuý; cấp, thu hồi giấy phép lưu hành thuốc, phương pháp cai nghiện ma tuý; hỗ trợ về người, chuyên môn kỹ thuật y tế để cai nghiện ma tuý;

C) Thực hiện hợp tác quốc tế về kiểm soát thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, tiền chất sử dụng trong lĩnh vực y tế, phân tích, kiểm nghiệm và nghiên cứu khoa học.

2. Bộ trưởng Bộ Y tế cấp, thu hồi giấy phép nhập khẩu, xuất khẩu thuốc cai nghiện ma tuý, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, chất ma tuý, tiền chất sử dụng trong lĩnh vực y tế, phân tích, kiểm nghiệm và nghiên cứu khoa học.

Điều 41

1. Bộ Công nghiệp có trách nhiệm:

A) Ban hành danh mục, quy chế quản lý tiền chất sử dụng trong lĩnh vực công nghiệp và tổ chức thực hiện quy chế đó;

B) Thực hiện hợp tác quốc tế về kiểm soát tiền chất sử dụng trong lĩnh vực công nghiệp.

2. Bộ trưởng Bộ Công nghiệp cấp, thu hồi giấy phép nhập khẩu, xuất khẩu tiền chất sử dụng trong các lĩnh vực sản xuất, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 40 của Luật này.

Điều 42

Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm ban hành và tổ chức thực hiện chương trình giáo dục phòng, chống ma tuý; xây dựng, tổ chức thực hiện các dự án giáo dục phòng, chống ma tuý trong nhà trường, các cơ sở giáo dục khác.

Điều 43

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban Dân tộc và Miền núi và các cơ quan, tổ chức hữu quan khác tuyên truyền, giáo dục, tổ chức xoá bỏ cây có chứa chất ma tuý; thực hiện chương trình trợ giúp chuyển hướng sản xuất có hiệu quả, ổn định đời sống của nhân dân.

Điều 44

1. Cơ quan hải quan, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với cơ quan công an và chính quyền địa phương để kiểm tra, kiểm soát, phát hiện và xử lý các hành vi mua bán, vận chuyển trái phép chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần qua biên giới theo quy định của pháp luật.

2. Các cơ quan quy định tại khoản 1 Điều này được phối hợp với các cơ quan hữu quan của nước khác theo các quy định tại Chương VI của Luật này để phát hiện, ngăn chặn các hành vi mua bán, vận chuyển trái phép chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần qua biên giới.

Điều 45

Các cơ quan quy định tại các điều từ Điều 37 đến Điều 44 của Luật này, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:

1. Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định về quản lý các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma tuý; phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh chống tệ nạn ma tuý; cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện; nghiên cứu khoa học, huấn luyện nghiệp vụ phòng, chống ma tuý;

2. Xử lý các vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật và yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố, điều tra các hành vi có dấu hiệu của tội phạm về ma tuý.

CHƯƠNG VI
HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ PHÒNG, CHỐNG MA TUÝ

Điều 46

Nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách hợp tác quốc tế đa phương và song phương trong lĩnh vực phòng, chống ma tuý trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia với các nước trong khu vực Đông Nam á và các nước khác trên thế giới; khuyến khích các tổ chức quốc tế, tổ chức, cá nhân nước ngoài hợp tác với các cơ quan, tổ chức của Việt Nam hỗ trợ lẫn nhau về cơ sở vật chất, tăng cường năng lực pháp luật, thông tin, công nghệ và đào tạo cho hoạt động phòng, chống ma tuý.

Điều 47

Trên cơ sở các quy định của Luật này và các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện các chương trình hợp tác về phòng, chống ma tuý với các cơ quan hữu quan của các nước, các tổ chức quốc tế, tổ chức, cá nhân nước ngoài.

Điều 48

Việc phối hợp giữa các cơ quan hữu quan của Việt Nam với nước có liên quan để giải quyết vụ việc cụ thể về ma tuý phải tuân theo các quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước có liên quan đã ký kết hoặc tham gia, hoặc theo thoả thuận trực tiếp giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước có liên quan.

Điều 49

1. Nhà nước Việt Nam dành ưu tiên cho nước ký kết điều ước quốc tế song phương với Việt Nam sự tương trợ tư pháp trong điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm về ma tuý.

2. Nhà nước Việt Nam có thể từ chối tương trợ tư pháp trong các trường hợp sau:

A) Yêu cầu tương trợ tư pháp không phù hợp với các điều ước quốc tế về phòng, chống ma tuý mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia và pháp luật Việt Nam;

B) Việc thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp gây tổn hại đến chủ quyền, an ninh quốc gia hoặc lợi ích quan trọng khác của Việt Nam.

Điều 50

Trong trường hợp Việt Nam và nước có liên quan không cùng tham gia điều ước quốc tế đa phương hoặc chưa ký với nhau điều ước quốc tế song phương thì các cơ quan tư pháp của Việt Nam trong khuôn khổ pháp luật và thực tiễn của mình, được thoả thuận trực tiếp với cơ quan tư pháp của nước có liên quan trong việc điều tra, truy tố, xét xử tội phạm về ma tuý.

Điều 51

Nhà nước Việt Nam thực hiện yêu cầu chuyển giao hàng hoá có kiểm soát trên cơ sở điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia để phát hiện và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội về ma tuý. Quyết định sử dụng biện pháp này được tiến hành theo thoả thuận giữa các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và của nước có liên quan.

CHƯƠNG VII
KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 52

Cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức có thành tích trong đấu tranh phòng, chống ma tuý thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật.

Điều 53

1. Mọi hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống ma tuý phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật; việc xử lý phải kiên quyết, công khai và thông báo cho cơ quan, tổ chức, chính quyền cơ sở nơi người vi phạm làm việc hoặc cư trú.

2. Người nào sử dụng tài sản, phương tiện của mình để chứa chấp hoặc tạo điều kiện cho các hoạt động trái phép về ma tuý; không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền về phòng, chống ma tuý; cản trở, chống đối, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của người tố giác, người làm chứng, người bị hại, người thi hành công vụ hoặc có hành vi khác vi phạm các quy định của Luật này thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

3. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm các quy định của Luật này trong khi thi hành nhiệm vụ về phòng, chống ma tuý thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Điều 54

Việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các vi phạm pháp luật về phòng, chống ma tuý được thực hiện theo quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo.

CHƯƠNG VIII
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 55

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 6 năm 2001.

Những quy định trước đây trái với Luật này đều bãi bỏ.

Điều 56

Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này.

_________________________________________________________________________________________________

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 09 tháng 12 năm 2000.

(more…)

Tổng kết công tác phòng chống HIV/AIDS, ma túy, mại dâm năm 2015

Văn phòng Chính phủ vừa có công văn gửi các Bộ, ngành thành viên Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm (UBQG); UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc tổng kết công tác năm 2015 và công tác thi đua khen thưởng 5 năm giai đoạn 2011-2015.

Theo đó, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, Chủ tịch UBQG, Văn phòng Chính phủ đề nghị các Bộ, ngành thành viên UBQG; UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương báo cáo kết quả công tác phòng, chống HIV/AIDS, phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm năm 2015 về cơ quan thường trực (Bộ Công an, Bộ Y tế, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội) và Văn phòng Chính phủ trước ngày 31/12/2015 để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Bộ Công an, Bộ Y tế, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội hướng dẫn, thống nhất với các cơ quan, địa phương thực hiện việc bình xét, đề xuất các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc, tiêu biểu trong công tác phòng, chống HIV/AIDS và phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm giai đoạn 2011-2015 trình Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen theo quy định.

Nhật Thy

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT PHÒNG, CHỐNG MA TÚY

1.     Người nghiện và gia đình người nghiện tự khai báo và đăng ký hình thức cai nghiện (bắt buộc, tự nguyện) với cơ quan, tổ chức nơi làm việc hoặc ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.

2.     Các hình thức cai nghiện:

– Có thể cai nghiện tự nguyệnở gia đình, tại cộng đồng hoặc tại các cơ sở cai nghiện tập trung do nhà nước quản lý hoặc cơ sở dân lập, tư nhân.

– Cai nghiện bắt buộcđược áp dụng tại cộng đồng hoặc tại các cơ sở cai nghiện tập trung nếu người nghiện trốn tránh không đăng kí hình thức cai nghiện.

3.     Thời hạn cai nghiện tại gia đình hoặc cộng đồng từ 06 đến 12 tháng, tại các cơ sở bắt buộc từ 01 đến 02 năm. Người đang cai nghiện bắt buộc tập trung tại cơ sở cai nghiện mà phạm tội thì sau khi chấp hành hình phạt xong phải tiếp tục cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện bắt buộc.

4.     Quản lý sau cai:

– Người nghiện ma túy sau khi chấp hành xong thời gian cai nghiện ma túy bắt buộctại cơ sở cai nghiện phải chịu sự quản l‎‎ý sau cai nghiện từ 01 năm đến 02 năm theo một trong hai hình thức sau đây:

+ Quản lý tại nơi cư trúdo Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện.

Quản lý tại cơ sở quản lý sau cai nghiệnđối với người có nguy cơ tái nghiện cao.

5.     Trách nhiệm của gia đình:

Tự giác khai báo về tình trạng nghiện ma túy và đăng ký hình thức cai nghiện, động viên giúp đỡ và quản lý người thân nghiện ma túy tại gia đình và cộng đồng theo sựhướng dẫn,giám sát của cán bộ y tế và ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn.

6.     Trách nhiệm của ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn:

Tổ chức quản lýtạo điều kiện cho người nghiện được cai nghiện tại gia đình và cộng đồng. Tổ chức quản lý, hướng dẫn, giúp đỡ người sau cai nghiện phòng, chống tái nghiện; hỗ trợ học nghề, tìm việc làm và tham gia các hoạt động xã hội để hòa nhập cộng đồng đối với người được quản lý tại nơi cư trú.

7.     Trách nhiệm của cơ quan công an:

Lập hồ sơ xử lý đối tượng vi phạm, thi hành quyết định đưa người nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh truy tìm đối tượng bỏ trốn, cưỡng chế đưa vào trung tâm cai nghiện.

8.     Trách nhiệm cơ sở chữa bệnh và cơ sở quản lý sau cai nghiện:

Tổ chức bộ máy, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác cai nghiện, quản lý sau nghiện và tổ chức quản lý dạy nghề và giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện tại các trung tâm.