CÁC TRIỆU CHỨNG VÀ BỆNH TÂM THẦN DO SỬ DỤNG MA TÚY

 

(Trung tâm Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa biên soạn)

Viện Hàn Lâm Khoa Học Pháp năm 1999 định nghĩa: ma túy là những chất tác động tâm thần mà người lạm dụng sẽ gây ra cho mình sự lệ thuộc.

Tình trạng lệ thuộc ma túy đòi hỏi sử dụng ma túy đều đặn như một phương thức sống. Người lệ thuộc sẽ bị những biến đổi về khí sắccảm xúc cũng như nhận thức do những tổn thương trong não. Những tổn thương này có thể tồn tại rất lâu hoặc vĩnh viễn sau khi ngưng sử dụng.

Sự rối loạn trên bắt nguồn từ nhiều lý do khác nhau: bản thân, gia đình, xã hội, tâm lý. Sử dụng, lạm dụng rồi lệ thuộc ma túy dẫn đến tình trạng nghiện là triệu chứng cuối cùng hoàn tất quá trình rối loạn trên. Do vậy việc điều trị phục hồi nghiện ma túy bao gồm rất nhiều lĩnh vực y tế, tâm lý.

Người nghiện bị lệ thuộc tâm lý và lệ thuộc cơ thể đối với ma túy. Nếu thiếu sẽ thèm muốn, đòi hỏi phải tái sử dụng để cảm thấy thoải mái.

Khi được cung cấp đủ ma túy con nghiện ở trạng thái ngất ngây hoặc kích thích mạnh mẽgiảm bớt đau đớn thân xác cũng như tinh thần, cảm giác khoẻ mạnh yêu đời.

Bởi tính chất ép buộc sử dụng ma túy, cuộc sống người nghiện suốt đời loanh quanh trong việc sử dụng nó. Đó là phương thức tồn tại của người nghiện.

Một phương thức sống như vậy sẽ làm xáo trộn và đảo lộn nhiều giá trị cá nhân cũng như xã hội cùng những chức năng tâm sinh lý.

Càng sử dụng ma túy lâu bao nhiêu hoặc sử dụng sớm bao nhiêu thì hậu quả càng nhiều và nặng nề bấy nhiêu. Mặt khác, những tác động của ma túy trên bộ não có thể gây ra những tổn thương tạm thời hoặc vĩnh viễn làm cho người nghiện suy giảm khả năng xử lý thông tin, xử lý những kinh nghiệm cũng như khả năng hiểu biết của đối tượng trong việc hướng đến một cuộc sống lành mạnh.

Như vậy, việc lạm dụng và lệ thuộc ma túy là một hội chứng trong một bối cảnh đa phương diện.

Xét về mặt hành vi, người nghiện đã phát triển những cách ứng xử không thích nghi hoặc những thói quen xấu. Chính những hành vi ấy ngăn cản đối tượng hoà nhịp với cộng đồng, mất đi lòng tự trọng, tinh thần trách nhiệm, không còn khả năng hiểu biết những hậu quả do hành vi của mình gây ra. Người nghiện ma túy không còn đủ nhận thức để sống một cách trong sạch, cũng như kỹ năng làm việc để sống bình ổn trong một xã hội trật tự. Nói chung, về mặt tinh thầnsức khoẻ, nghề nghiệpgia đình, xã hội,… có thể suy sụp đến một mức làm sự điều trị phục hồi cho đối tượng trở thành khó khăn.


Sau khi cai, nếu những nhân tố tác động thúc đẩy đối tượng tìm đến ma túy vẫn chưa được giải quyết, hầu hết những người nghiện sẽ tái nghiện.

 

Ngoài trạng thái lạm dụng và lệ thuộc, các hội chứng lâm sàng liên quan đến các chất ma túy có thể gây các phản ứng tâm lý và rối loạn tâm trí thực thể sau:

I-   CÁC PHẢN ỨNG TÂM LÝ:

Các hậu quả tâm lý của các chất ma túy phụ thuộc vào nhiều yếu tố quyết định phức tạp trong đó có cả các nhân tố dược lý và tâm lý:

– Các nhân tố dược lý tùy thuộc chất ma túy, liều lượng với phương thức sử dụng, với độ dung nạp, với các tương tác.

– Mức độ tác hại gồm nhiều yếu tố như: phối hợp nhiều chất ma túy với nhau, ảnh hưởng tính chất sinh lý của từng cá nhân, tác động bởi bối cảnh xã hội, phương thức dùng ma túy, nhân cách của chủ thể và trạng thái lâm sàng, các mong ước và tác động của xã hội trong việc phòng chống ma túy thông qua nhiều phương cách khác nhau.

II- CÁC RỐI LOẠN TÂM TRÍ THỰC TỔN:

Trong DSM – III mục phân loại các rối loạn này gồm những hội chứng tâm trí thực tổn khác nhau gây ra do hậu quả trực tiếp của nhiều chất ma túy trên hệ thần kinh trung ương. Đây là trạng thái nhiễm độc, lẫn các phản ứng loạn tâm thần trực tiếp do dùng ma túy.

1- TRẠNG THÁI NHIỄM ĐỘC:

Mô tả trạng thái này như một rối loạn tâm trí bị gây ra do mới sử dụng ma túy, thể hiện qua các hành vi như hung dữ, thay đổi phán đoán, biến loạn hoạt động xã hội, và bằng hội chứng đặc hiệu thông thường nhất là các rối loạn về tri giác, về chú ý và sự tỉnh thức, về tư duy nhận đoán và vận động.

2- LÚ LẪN TÂM TRÍ:

Hội chứng lú lẫn hay mê sảng của DSM – III thể hiện bằng các rối loạn chú ý và tư duy nặng hơn trong trạng thái nhiễm độc, biểu hiện bằng các rối loạn tỉnh thức, rối loạn tư duy, mất định hướng thời gian, không gian và các rối loạn tri giác. Các triệu chứng trên liên quan với dùng quá liều các chất ma túy.

3- CÁC PHẢN ỨNG LOẠN TÂM THẦN:

Các phản ứng này thể hiện tính hoang tưởng hay ảo giác trong trạng thái tỉnh thức bình thường. Thời gian các phản ứng này thường ngắn từ vài giờ đến vài ngày. Phản ứng loạn tâm thần có thể kịch phát do dùng các chất kích thích, các chất gây ảo giác  cần sa.

4- HỘI CHỨNG HỒI TƯỞNG (SYNDROME DE REVISISCENCE):

Trong DSM – III – R gọi là rối loạn tri giác sau ảo giácđặc trưng cho hội chứng này là khi không dùng ma túy thì cảm thấy một hay nhiều triệu chứng đã xảy ra trong trạng thái nhiễm độc trước đây (Flashback).

Các triệu chứng này xảy ra đột ngột và thường chỉ kéo dài vài giây hay vài phút. Chúng có thể tái diễn ít hay nhiều lần trong ngày. Các triệu chứng này luôn kèm theo một phản ứng lo hãi, và có thể xuất hiện sau một lần dùng ma túy nhưng hay xảy ra sau khi dùng ma túy nhiều lần. Các triệu chứng nhiễm độc tái cấp diễn này được quan sát chủ yếu với các chất gây ảo giác, hiếm hơn nhưng còn gặp với cần sa. Các triệu chứng thường gặp nhất là các rối loạn tri giác và nhiều về thị giác.

III- LOẠN TÂM THẦN:

Việc dùng các chất ma túy thường gây hậu quả là một rối loạn tâm thần. Các mối liên hệ giữa sử dụng ma túy và các rối loạn tâm thần khá phức tạp.

Rối loạn tâm thần góp phần dẫn đến sử dụng ma túy, đồng thời có thể do cả hai yếu tố trên tác động lên nhau.

Sự phân biệt này khó xác định, một khi cùng xảy ra song song, việc sử dụng các chất ma túy và các rối loạn tâm thần sẽ tác động lẫn nhau thể hiện qua các biểu hiện và sự phát triển của chúng.

Phân biệt các rối loạn tâm thần tiên phát và thứ phát có thể dẫn đến các hành vi nghiện ngập và có thể ảnh hưởng đến các quyết định điều trị.

IV- TRẠNG THÁI TRẦM NHƯỢC:

Trầm nhược do rối loạn tâm thần có sự kết hợp do sử dụng các chất ma túy đã được nghiên cứu nhiều nhất. Lạm dụng ma túy kết hợp với trầm nhược thường gặp trong các quần thể của khoa lâm sàng. Lạm dụng rượu và ma túy luôn luôn kết hợp với các trầm nhược nặng.

Trong nghiên cứu Ryan và ctv (1987) về 92 ca trầm nhược nặng18% đối tượng có sử dụng thêm các chất ma tuý “dịu”, 4% ít nhất đã dùng các chất ma tuý, việc dùng rượu quá mức kết hợp với việc sử dụng ma tuý gây các trạng thái trầm nhược loạn tâm và các rối loạn nhân cách.

Trầm nhược luôn kết hợp với lạm dụng ma tuý.

Các trường hợp trầm nhược hình như luôn luôn dẫn đến nghiện ma túy. Trong nghiên cứu của Deykin và ctv (1987), lạm dụng ma túy và rượu hầu như bao giờ cũng theo sau trạng thái trầm nhược nặng.

Trong nghiên cứu của De Milio (1989) các triệu chứng trầm nhược khởi đầu trước khi lạm dụng ma tuý trong khoảng nửa số trường hợp.

Các điều tra dịch tễ học đã khẳng định tần suất các tiền sử trầm nhược của chứng nghiện ma túy: các nghiên cứu này đã nhận định các triệu chứng trầm nhược như một nhân tố nguy cơ ở giai đoạn mới dùng ma túy (Bukstein và ctv, 1989).

Trầm nhược và sử dụng ma túy ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Các triệu chứng trầm nhược có thể dẫn đến sử dụng ma tuý. Là tiên phát hoặc thứ phát, trạng thái trầm nhược có thể làm nặng thêm hay duy trì lạm dụng ma túy.

V- TỰ SÁT VÀ CÁC Ý ĐỊNH TỰ SÁT:

Lạm dụng ma tuý đựơc công nhận là nguy cơ hàng đầu của các hành vi tự sát của thanh thiếu niên. Trong số 1824 đối tượng được gởi tới chữa bệnh vì lạm dụng ma tuý, 40,7% có ý tưởng tự sát thường xuyên (Harrison và Hoffiman, 1987).

Sử dụng hay lạm dụng ma tuý hoặc rượu còn là một trong các yếu tố kết hợp chính của các ý định tự sát ở thanh thiếu niên theo các nghiên cứu của Christoffel và ctv (1990).

Đa số các công trình có sự lên quan giữa tự sát, trầm nhược và lạm dụng ma túy. Lạm dụng ma túy có thể làm trầm trọng thêm trầm nhược và làm cho dễ chuyển sang hành động tự sát do tác dụng dược lý làm giải ức chế tính xung động và hung tính.

Cuối cùng, việc dùng ma tuý, trầm nhược và tự sát có thể làm bộc lộ cùng một bệnh lý phát triển.

VI- CÁC RỐI LOẠN HÀNH VI:

– Ma tuý và rối loạn hành vi thường kết hợp với nhau. Các rối loạn hành vi thường gặp trong lạm dụng ma túy ở thanh thiếu niên: Rechrich và Gold (1986) thấy trong 41 đối tượng có 95% rối loạn hành vi liên quan đến sử dụng ma tuý. De Milio (1989) thấy 42% có rối loạn hành vi trong 57 thanh thiếu niên nằm viện vì ma túy.

Myers và Kemph (1990) khảo sát trên 14 thanh thiếu niên đã giết người (12 con trai và 2 con gái) tuổi từ 10 đến 17 (tuổi trung bình 15,2). Ở thời điểm chúng có hành vi giết người: 86% đã mắc một rối loạn hành vi.

Các nghiên cứu khác cho thấy mối tương quan giữa hành vi phạm pháp và sử dụng ma túy: Hundleby và ctv (1982) ghi nhận trên 100 thanh thiếu niên nam và 130 thanh thiếu niên nữ dùng ma tuý có hoạt động tình dục nhiều hơn, nhận thức về xã hội và học tập lệch lạc.

Các liên quan giữa rối loạn hành vi và dùng ma tuý rất phức tạp. Các rối loạn hành vi và sử dụng ma túy tác động lẫn nhau. Các rối loạn hành vi thường dẫn đến dùng ma túy.

Trong các nghiên cứu theo chiều dọc hậu cứu về các trẻ em hiếu động, đã nhận thấy rằng khuynh hướng chống đối xã hội thường dẫn đến các rối loạn liên quan đến việc sử dụng các chất ma túy.

Dùng ma tuý có thể dẫn đến các rối loạn hành vi: tác động của chất ma túy giải ức chế và làm tăng hung tính tạo điều kiện cho việc chuyển thành hành vi chống đối xã hội. Do lệ thuộc ma túy đối tượng gây nên những hành vi phạm pháp để tìm cho được chất ma túy: ăn cắp, buôn bán ma túy và làm gái điếm thường kết hợp (Tarr và Macklin, 1987).

Phạm pháp và lạm dụng ma túy đều liên quan đến các điều kiện xã hội, gia đình không êm ấm và các rối loạn xúc cảm. Thanh thiếu niên phạm pháp, nhất là khi chúng bị trầm nhược khai là sử dụng ma tuý hay các hoạt động bất hợp pháp để làm nhẹ nổi buồn chán và ưu phiền của họ.

Trong nghiên cứu của Farrow French (1990), khảo sát trên 89 thanh thiếu niên phạm pháp khai có dùng ma túy trong đó 74% trường hợp là để làm giảm các cảm nghĩ buồn chán và ưu phiền, 39% để quên các vấn đề của họ, 42% để được yên tĩnh, 65% để được thích thú và 45% vì nhiều bạn của họ dùng ma túy.

VII- CÁC RỐI LOẠN TẬP TRUNG:

Các rối loạn tập trung mang tính hiếu động có tiền sử dùng ma tuý thường xảy ra ở tuổi thanh thiếu niên: De Milio (1989) thấy trong 14% các trường hợp này, có rối loạn tập trung và hiếu động. Rối loạn tập trung cũng có thể là di chứng của sử dụng ma túy.

Trong 114 thanh thiếu niên phạm pháp, Halikas và ctv (1990) nhận thấy lạm dụng ma túy có trên 67%, trong đó không rối loạn tập trung 19% trường hợp, các rối loạn hành vi đa hung bạo trong 61% trường hợp.

VIII- CÁC RỐI LOẠN NHÂN CÁCH:

Lạm dụng ma túy liên quan đến một số rối loạn nhân cách.

Các rối loạn nhân cách bệnh lý và nghiện ma túy liên hệ và tác động với nhau. Các rối loạn nhân cách dễ dẫn đến sử dụng ma túy:

–         Các rối loạn về cảm xúc của trạng thái ranh giới.

–         Các cảm nghĩ trống rỗng và buồn phiền.

–         Tính xung động.

Ngược lại, việc dùng ma túy làm nặng thêm các rối loạn về tâm lý, về quan hệ và sinh học biểu hiện rõ nét nhân cách bệnh lý.

         IX- CÁC BIỂU HIỆN LO HÃI:

 Một nghiên cứu dịch tễ học của NIMH trên thanh niên (Christie và ctv…1988) cho thấy người có tiền sử rối loạn lo hãi mà tuổi khổi phát trung bình là 15, dẫn đến các nguy cơ lạm dụng hay lệ thuộc ma túy tăng gấp đôi với thanh niên không có tiền sử rối loạn lo hãi.

 Trong nghiên cứu của Johnston và O'Malley, 41% học sinh trung học đã giải thích dùng ma túy do nhu cầu giảm căng thẳng

          X. CÁC RỐI LOẠN ĂN UỐNG:

Lạm dụng ma túy và rượu còn gặp ở người háu ăn, người chán ăn và còn ở một mức độ thấp hơn trên những người chán ăn hạn chế (Garner và ctv,…1985). Kille và ctv.(1987) so sánh 57 thanh thiếu niên háu ăn, 59 thanh thiếu niên ăn kiêng dùng các biện pháp nôn, nhuận trường hay lợi tiểu đễ kiểm tra trọng lượng của họ và 444 thanh thiếu niên không có rối loạn hành vi ăn uống: Kết quả cho đối với 3 nhóm người: nhóm 1: háu ăn, nhóm 2: chán ăn, nhóm 3: ăn hạn chế say rượu ít nhất 1 lần mỗi tháng tỷ lệ lần lượt là 25, 21 và 17%, say rượu nhiều lần mỗi tháng là 10, 23 và 7% trường hợp, sử dụng mà ăn ít nhất mỗi tháng là 16, 9 và 10% trường hợp và ít nhất 1 lần mỗi tuần là 14, 12 và 6% trường hợp.

Dùng ma túy và các trạng thái say có tần suất vẫn cao hơn tần suất của nhóm chứng không trầm nhược có các rối loạn hành vi ăn uống.

 XI. CÁC RỐI LOẠN NHÂN CÁCH:

Lạm dụng ma túy liên quan đến một số rối loạn nhân cách (Crumley, 1990). Trong  số 57 thanh thiếu niên nghiện ma túy do De Milio khảo sát (1989), 16% cho thấy những nét rõ rệt về rối loạn nhân cách một cách rõ rệt, nhân cách phân liệt 2 ca, nhân cách ái kỷ 2 ca, nhân cách kiểu phân liệt 1 ca.

Các rối loạn nhân cách bệnh lý và nghiện ma túy liên hệ và tác động với nhau. Các rối loạn nhân cách dễ dẫn đến sử dụng ma túy:

  • Các rối loạn về cảm xúc của trạng thái ranh giới
  • Các cảm nghĩ trống rỗng và buồn phiền
  • Tính xung động

​Ngược lại, việc dùng ma túy là nặng thêm các rối loạn về tâm lý, về quan hệ và sinh học biểu hiện rõ nét nhân cách bệnh lý.

XII. CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN:

Các chất gây ảo giác, amphetamin, cocain, cần sa, phesncyclidin có thể gây các triệu chứng loạn tâm thần. Loạn tâm thần do amphetamin có thể gây các triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt ở thanh thiếu niên (Angrist, 1983).

Ngược lại bệnh tâm thần phân liệt của thanh thiếu niên có thể bộc lộ và nặng lên do ma túy.

Một số ma túy được xem như có thể gây ra không nững các bệnh tâm thần phản ứng ngắn hay các rối loạn dạng phân liệt mà cả bệnh tâm thần phân liệt thực sự:dùng lâu dài các chất amphetamin có thể gây ra một số bệnh tâm thần phân liệt (Me – Lellam và ctv.1979), LSD xuất hiện đúng hơn như một nhân tố thúc đẩy (Vardy và Kay, 1983)

IX- TỶ LỆ CHẾT:

Việc sử dụng có thể gây chết người, các biến chứng cơ thể và một ảnh hưởng tiêu cực trên đời sống tâm lý và quan hệ cũng như trên sự thích ứng xã hội.

Trong khi tỷ lệ chết của các nước công nghiệp hoá giảm, thì tỷ lệ chết lại tăng ở thanh thiếu niên và thanh niên: các tai nạn giao thông, các tai nạn khác, tự sát và giết người do ma túy là nguyên nhân gây tỷ lệ chết cao. Các tai nạn giao thông chiếm 70% nguyên nhân chết của những người 16 – 19 tuổi trong Cộng Đồng Châu Au: Rượu và các chất ma túy là những nguyên nhân chủ yếu.

Trong một nghiên cứu nam giới từ 15 -34 tuổi, chết do tai nạn giao thôngrượu được phát hiện trong 75% trường hợp, cần sa 37% và cocain 11%; trong đó kết hợp rượu và cần sa 85% trường hợp (Williams, 1985). Tác hại của ma túy ngoài các tai nạn và tự sát, nguy cơ lây nhiễm HIV/ AIDS qua tiêm chích tĩnh mạch các chất ma túy và quan hệ tình dục bừa bãi cũng là một vấn đề rất đáng quan tâm.

X-  TÁC HẠI CỦA CÁC LOẠI MA TÚYXin xem mục MA TÚY VÀ CÁC CHẤT GÂY NGHIỆN trên trang Web này của Trung tâm.

KẾT LUẬN:

Sử dụng các chất ma túy dẫn đến nhiều nguy cơ: tăng liều lượng và chuyển sang các chất ma túy mạnh hơnrối loạn phát triển, thất bại trong hoà nhập xã hội, các tổn thương thể chất, tinh thần và dẫn đến cái chết. Nếu đối tượng bị gạt ra bên lề xã hội do sử dụng ma túy thì nguy cơ tổn thương về thể chất dẫn đến cái chết có thể xảy ra sớm, do bệnh tật và thiếu sự chăm sóc.

 

MA TÚY – HIỂM HỌA CỦA SỨC KHỎE CON NGƯỜI

TRẦN VIỆT TRUNG

Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Trợ giúp

cộng đồng phòng, chống HIV/AIDS

 

Ma túy đang hàng ngày hủy hoại biết bao tâm hồn, giết chết nhiều nhân mạng và hơn thế nữa, phá vỡ cuộc sống bình yên của hàng vạn gia đình và đe dọa an ninh trật tự xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới. Đồng minh ma quỷ của ma túy là bệnh tật và HIV/AIDS. Ngày 26/6 hàng năm là ngày Liên Hợp Quốc lấy làm ngày Quốc tế phòng, chống ma túy và đối với nước ta là ngày Toàn dân phòng, chống ma túy. Nhân ngày 26/6/2013, chúng tôi xin giới thiệu bài viết của ông Trần Việt Trung-nguyên Phó cục trưởng Cục Phòng, chống Tệ nạn xã hội, hiện là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Trợ giúp cộng đồng phòng, chống HIV/AIDS thuộc Hội Phòng, chống HIV/AIDS Việt Nam.

 

        Đứng  trước  hiểm họa to lớn mang tính toàn cầu của tệ nạn ma túy đối với từng quốc gia nói riêng và cả nhân loại nói chung, cách đây trên 26 năm, bắt đầu từ năm 1987, Liên Hợp Quốc đã ra Nghị quyết lấy ngày 26 tháng 6 làm ngày Quốc tế phòng chống ma túy và từ đó, nhân ngày này hàng năm, Liên Hợp Quốc đưa ra các thông điệp với các chủ đề khác nhau, mang ý nghĩa như một lời kêu gọi các quốc gia trên thế giới cần tập trung các hoạt động phòng chống, kiểm soát ma túy theo định hướng về một vấn đề bức xúc, cấp thiết trong từng thời kỳ.

        Hưởng ứng ngày Quốc tế phòng chống ma túy của Liên Hợp Quốc, từ năm 2001, Chính phủ Việt Nam đã quyết định lấy ngày 26/6 hàng năm là ngày “Toàn dân phòng chống ma túy”. Như vậy, song song với việc hưởng ứng thông điệp và chủ đề phòng chống, kiểm soát ma túy của Liên Hợp Quốc, hàng năm Chính phủ phát động những tháng cao điểm phòng chống ma túy với nhiều hoạt động trên các lĩnh vực công tác phòng chống, kiểm soát ma túy, trong đó có chỉ đạo trọng tâm theo từng chủ đề của Liên Hợp Quốc đưa ra hàng năm.

       Gần đây, việc xuất hiện các chất mới có tác dụng tâm thần (tên tiếng Anh viết tắt là NPS), có đặc tính dược lý và tác dụng tương tự như các loại chất đã được biết đến trước đó nhưng nằm ngoài danh mục các chất bị kiểm soát theo Công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc và được mua bán một cách hợp pháp tại nhiều quốc gia đã gây nhiều khó khăn cho các cơ quan chức năng. Do đó, năm nay Liên Hợp Quốc đưa ra Thông điệp nhân ngày 26/6 kêu gọi cộng đồng quốc tế hãy xây dựng một cuộc sống lành mạnh, đề cao việc rèn luyện sức khỏe để tránh xa ma túy: “Hãy bằng sức khỏe của bạn “thăng hoa” trong cuộc sống, không cần ma túy” (Tên gốc tiếng Anh: “Make health your “new high” in life, not drugs”).

 

      1. SỰ TRỞ LẠI CỦA MỘT LOẠI TỆ NẠN:

       Cho tới nay, không ai khẳng định được cây thuốc phiện (còn gọi là cây Anh túc) được đưa vào trồng ở Việt Nam bằng cách nào và từ bao giờ. Tuy nhiên, ta thấy trong các văn bản của Nhà Nguyễn để lại về các điều Luật và Hình phạt thì đã có nhiều nội dung liên quan tới những hành vi buôn bán và sử dụng thuốc phiện. Phải chăng vào cuối thế kỷ XIX, tương tự nhà Thanh bên Trung Quốc khi chịu khuất phục Đế quốc Anh sau hai cuộc Chiến tranh nha phiến Lần thứ nhất (năm 1840) và Lần thứ hai (năm 1855) đã phải để cho thuốc phiện tràn lan ở Trung Quốc thì ở Việt Nam, Triều đình nhà Nguyễn phải cay đắng chấp nhận dã tâm của thực dân Pháp cho trồng và sử dụng thuốc phiện ở miền Bắc nước ta sau khi Bắc Kỳ trở thành thuộc địa của chúng. Với việc cho trồng, sử dụng tự do thuốc phiện ở nước ta, thực dân Pháp nhằm 2 mục đích: phục vụ bọn quan lại thực dân phong kiến cùng đội quân viễn chinh của chúng và đầu độc dân ta bằng ma túy cả về sức khỏe và tinh thần. Chúng định dùng ma túy làm tê liệt lòng yêu nước và ý chí đấu tranh giành độc lập tự do của dân tộc Việt Nam. Nhưng chúng đã lầm, thời Pháp thuộc, người dùng thuốc phiện chỉ tập trung ở một vài thành phố lớn, trong hàng ngũ quan lại hoặc công chức, trí thức làm việc cho Pháp. Còn với đại đa số nhân dân ta, đó là trò chơi hoàn toàn xa lạ.

      Sau Cách mạng tháng 8/1945, Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cấm trồng , buôn bán và sử dụng ma túy ngoài mục đích y tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi việc xóa bỏ tệ nạn ma túy là một trong những nhiệm vụ cấp bách trước tiên của Nhà nước Việt Nam non trẻ. Người đã ra Lời kêu gọi: “Tôi đề nghị đồng bào tuyệt đối cấm hút thuốc phiện”. Sau Hiệp định hòa bình Giơ-ne-vơ (7/1954) miền Bắc bước vào con đường xây dựng Chủ nghĩa Xã hội, tiếp tục chủ trương kiên quyết xóa bỏ tệ nghiện ma túy ở nước ta. Cho tới đầu thập kỷ 80 (giai đoạn 1984-1985), tệ trồng và sử dụng thuốc phiện ở miền Bắc nước ta đã giải quyết được cơ bản và có thể nói hầu như đã bị xóa bỏ. Chỉ còn rải rác một số tỉnh miền núi cao phía Bắc trồng với sản lượng không đáng kể và chủ yếu là người già dân tộc thiểu số hút theo thói quen lâu đời khó bỏ. Ở miền Nam, dưới chế độ thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ, tệ nạn ma túy bùng phát với phạm vi, quy mô lớn để phục vụ cho mưu đồ làm giàu cá nhân của những tướng lĩnh ngụy quân, chóp bu ngụy quyền Sài Gòn. Họ chuyển ma túy bằng tàu xe, quân đội, thậm chí lợi dụng chuyên cơ buôn bán ma túy từ Tam giác Vàng về Việt Nam. Sau ngày giải phóng miền Nam, chế độ cũ đã để lại hơn 170.000 người nghiện hút, chích ma túy (xì ke) cùng với những vấn đề phức tạp nhiều mặt về kinh tế-xã hội đất nước. Một lần nữa, chúng ta lại bắt tay vào giải quyết những hậu quả của chiến tranh, trong đó có một công việc nặng nề là chữa trị, giáo dục và cai nghiện cho những người nghiện ma túy ở phía Nam. Với sự nỗ lực của toàn dân, toàn xã hội, chúng ta đã cải tạo, hoàn lương hơn 100.000 người nghiện, đưa họ trở lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc như các công dân khác trong xã hội. Kết quả, đầu những năm 80, theo số liệu của các cơ quan chức năng, cả nước chỉ còn khoảng 30.000 – 40.000 người nghiện ma túy.

        Vào cuối những năm 80, do nhiều nguyên nhân khác nhau, tệ nạn xã hội nói chung, tệ nghiện ma túy nói riêng lại hồi sinh, nảy nở và phát triển mau chóng. Sự mở cửa và những mặt trái của kinh tế thị trường đã tác động tiêu cực tới một số lĩnh vực đời sống kinh tế – xã hội của đất nước. Nạn tái trồng cây thuốc phiện ở một số tỉnh miền núi phía Bắc kéo theo tệ nghiện ma túy đã phục hồi và lây lan nhanh chóng nhiều nơi và trong các tầng lớp dân cư, đặc biệt trong lứa tuổi thanh thiếu niên.

    2. SỰ GIA TĂNG SỐ LƯỢNG NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY.

       Trong thời kỳ những năm 2000 – 2008, sự gia tăng nhanh chóng số lượng người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý do nhiều nguyên nhân. Bên cạnh một số người nghiện mới gia tăng, phần lớn là số người nghiện cũ nay mới được phát hiện hoặc tự khai báo và đăng ký các hình thức cai nghiện. Số liệu gia tăng người nghiện của thành phố Hồ Chí Minh là một biểu hiện rõ nét: vào cuối năm 2000 có 15.000 người nghiện có hồ sơ quản lý, đến tháng 12/2008 đã có hơn 32.000 người nghiện được cai tập trung tại 17 cơ sở cai nghiện của thành phố. Tại tỉnh Sơn La, một địa phương nghèo của miền núi phía Bắc, năm2000 mới có khoảng 4.000 người nghiện có hồ sơ quản lý thì tới năm 2008 đã phát hiện trên 16.000 người nghiện và nếu kể cả số nghi nghiện thì con số trên lên tới 23.000 người! Tình hình ở nhiều địa phương khác cũng tương tự như vậy. Những năm gần đây, mặc dù chúng ta đạt được nhiều thành tích, kết quả đáng mừng trong các hoạt động ngăn chặn và triệt phá các đường dây buôn bán, vận chuyển và ổ nhóm tổ chức sử dụng ma túy, trong công tác cai nghiện và giải quyết các vấn đề sau cai nghiện nhưng tình hình tệ nạn ma túy vẫn diễn biến phức tạp, số người nghiện giảm không đáng kể, thậm chí có nhiều địa bàn, nhiều địa phương số người nghiện còn gia tăng nhanh chóng. Tính đến ngày 31/12/2012, số người nghiện có hồ sơ quản lý của cả nước là 171.000 người, giảm so với năm 2007 (178.000 người) nhưng lại tăng so với năm 2010 (132.000 người)

        Thời gian qua, mặc dù các đường dây, ổ nhóm buôn bán, vận chuyển ma túy lớn ở trong nước và cả xuyên quốc gia bị truy quét, triệt phá mạnh nhưng bằng nhiều con đường, ma tuý vẫn thẩm lậu khá nhiều vào nước ta và hệ thống, mạng lưới bán lẻ ly ti ở khắp nơi vẫn chưa bị xóa bỏ cơ bản, vẫn là nguồn cung cấp ma túy dồi dào cho dân nghiện. Điều nguy hiểm hơn là sự xuất hiện ngày càng nhiều ở một số địa phương, đặc biệt ở các thành phố lớn, các loại ma túy tổng hợp dạng kích thích (ATS, Estasy)… với mức độ độc hại rất cao, lại dễ vận chuyển, dễ bán lẻ trao tay, sử dụng bằng đường uống như các loại tân dược thông thường hoặc các dụng cụ hút hít đơn giản đang là nguy cơ làm gia tăng nhanh chóng số người nghiện ở nước ta, đặc biệt trong lứa tuổi trẻ. Gần đây, giới ăn chơi nhiều tiền trong thanh niên đang sử dụng loại ma túy mới được gọi là hàng “đá” (một dạng của Methammetamine) với cách hút, hít bằng các dụng cụ dễ tự chế. Đây là loại ma tuý hết sức nguy hiểm tới thần kinh và sức khỏe con người. Ma túy là kẻ đồng hành với tội phạm, bệnh tật và đại dịch HIV/AIDS. Khoảng trên 60% trong số trên 272.000 người nhiễm HIV/AIDS được phát hiện cho tới nay còn sống bị lây truyền do qua con đường tiêm chích ma túy.

        3. MỘT CUỘC CHIẾN GAY GO VÀ PHỨC TẠP:

        Trước sự lây lan, phát triển nhanh chóng tệ nạn ma túy, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, đường lối và chính sách kịp thời, kiên quyết về phòng, chống và kiểm soát ma túy. Nghị quyết 06/CP ngày 29/1/1993 được mở đầu như hiệu lệnh cho một cuộc chiến mới với ma túy được chính thức phát động. Đồng thời Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng cũng ban hành nhiều Chỉ thị về lãnh đạo, chỉ đạo cuộc đấu tranh ngăn chặn sự lây lan, phát triển của tệ nạn ma túy, coi đó là một nhiệm vụ rất quan trọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội. Những nội dung công tác và cũng là nhiệm vụ chủ yếu được đặt ra là: Làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục trong quần chúng nhân dân về tác hại, hiểm họa cả trước mắt và lâu dài của tệ nạn ma túy, vềcác chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta và công tác phòng, chống tệ nạn ma túy để mọi người dân hiểu, đồng tình ủng hộ và tham gia cuộc đấu tranh chung; vận động, thuyết phục đồng bào miền núi không trồng cây thuốc phiện và chuyển sang trồng loại cây khác; tổ chức chữa bệnh, giáo dục, dạy nghề và tìm kiếm việc làm cho người nghiện ma túy; phát hiện và trừng trị nghiêm bọn tội phạm. Song song với sự ra đời các văn bản pháp luật, hệ thống tổ chức bộ máy từ cơ quan chỉ đạo, tham mưu giúp việc cho tới các cơ quan chuyên trách của các ngành chức năng được hình thành, củng cố. Công tác phòng, chống ma túy do Chính phủ phát động đã được sự hưởng ứng, tham gia tích cực của các Bộ, Ngành, Đoàn thể Trung ương, các địa phương và cơ sở cũng như của toàn dân và toàn xã hội.

        ​Tuy nhiên, ma túy tựa con quái vật khổng lồ chặt đứt vòi này, lại mọc vòi khác. Cũng như tệ nạn mại dâm, tệ buôn ma túy đem lại những món lợi lớn cho những kẻ ham tiền liều mạng. Với lãi suất thông thường từ 5-7 lần cho tới hàng chục lần nếu bán tận tay người nghiện (thậm chí nếu trung chuyển được sang một số quốc gia khác có thể lên tới hàng trăm lần) thì bọn tội phạm không trừ một thủ đoạn nào, một mưu mô, phương kế hiểm độc nào để thực hiện những hành vi phạm tội và trốn tránh pháp luật. Đường dây buôn bán, vận chuyển ma túy ngày càng trở nên có quy mô, tổ chức lớn, phức tạp, từ những đường dây xuyên quốc gia, liên tỉnh cho tới mạng lưới bán lẻ với hàng vạn chiếc vòi nhỏ vươn tới từng ngõ hẻm, trường học, vườn hoa, nơi sinh hoạt công cộng… tại các đô thị, thành phố lớn đến tận những làng quê heo hút, nghèo nàn. Cuộc đấu tranh với tệ nạn ma túy trên các lĩnh vực giảm cung giảm cầu đòi hỏi lòng quyết tâm, sự dũng cảm, tính kiên trì và linh hoạt của những người làm công tác phòng, chống tệ nạn ma túy, trước hết là những người hàng ngày đối mặt trực tiếp với tệ nạn này. Cuộc chiến với ma túy vẫn đang là một mặt trận nóng bỏng, đầy hiểm nguy và đổ máu, hy sinh.

      4. MỐI QUAN HỆ CUNG CẦU:

      Trong cuộc đấu tranh này, cung và cầu về ma túy có mối quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau. Nguồn cung bị chặt mạnh sẽ làm có tác động làm giảm cầu và ngược lại, giảm mạnh cầu có hiệu quả góp phần hạn chế cung. Một số địa phương tuy nghèo nhưng vì là vùng giáp biên hoặc nằm trên trục đường buôn bán, vận chuyển ma túy từ nước ngoài vào Việt Nam nên có số người nghiện khá cao như Điện Biên, Sơn La, Lao Cai, Nghệ An…Mặt khác tại những thành phố lớn hoặc nơi tập trung dân cư, khu công nghiệp, du lịch v.v do các tệ nạn xã hội lây lan, phát triển mạnh đã kéo theo tệ buôn bán, tổ chức sử dụng ma túy trên nhiều địa bàn, trong nhiều lứa tuổi, dẫn tới gia tăng tệ nghiện hút, chích ma túy, đặc biệt là thanh, thiếu niên. Không ít gia đình vừa có người nghiện ma túy vừa có người tham gia các tội phạm về buôn bán hoặc tổ chức sử dụng ma túy. Thực tế trên đòi hỏi trong cuộc đấu tranh, ngăn chặn tệ nạn ma túy, không thể thiên về mặt nào và cũng không thể chỉ một Bộ, ngành nào đảm nhiệm, mà phải là sự đồng tâm, hiệp lực của toàn dân, toàn xã hội trong cuộc đấu tranh đầy gian khó, phức tạp này. Nếu không, mọi sự nỗ lực, cố gắng của chúng ta sẽ chỉ là uổng công, vô nghĩa./.

Phạm tội do “ngáo đá”: Xử phạt như thế nào?

(Chinhphu.vn) – Từ lúc ma túy đá xuất hiện ở Việt Nam, đã có nhiều vụ thảm án mà hung thủ thực hiện trong cơn cuồng loạn. Người bị “ngáo đá” có các biểu hiện gần như giống với bệnh tâm thần phân liệt nhưng mức độ nguy hiểm hơn. “Ngáo đá” gây hoang tưởng tâm thần nhưng có phải là tình tiết giảm nhẹ khi xử án?

 

Đối tượng "ngáo đá" cầm kéo khống chế người yêu. Ảnh minh họa

Ma túy đá có chứa chất dạng Methamphetamine hoặc Amphetamine được tổng hợp từ các hóa chất. Ngoài tác dụng gây “phê” như heroin, thuốc lắc, ma túy đá còn khiến người sử dụng sẽ trở nên hung hãn, tinh thần hưng phấn, thần kinh bị rối loạn, mất khả năng làm chủ hành vi.

Từ lúc ma túy đá xuất hiện ở Việt Nam, đã có nhiều vụ thảm án mà hung thủ thực hiện trong cơn cuồng loạn, như trường hợp một ca sĩ ở Hưng Yên lên cơn “ngáo đá” đã giết người yêu chỉ vì nghĩ cô này là quỷ. Hay nam thanh niên tại Mỹ Đức (Hà Nội) dùng dao đâm trọng thương bố mẹ và em trai, sau đó tự tử.

Vậy người “ngáo đá” có được hiểu là mất năng lực hành vi dân sự? Và những kẻ phạm tội do tình trạng "ngáo đá" sẽ bị xử phạt như thế nào?

Xử như thường  

Theo ý kiến của chuyên gia, dưới góc độ luật pháp, “ngáo đá” có thể khiến người sử dụng ma túy gây các tội ác trong tình trạng loạn thần nặng nhưng không phải là tình tiết giảm nhẹ. Pháp luật đã có quy định về trường hợp người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc các chất kích thích mạnh khác vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự và “ngáo đá” cũng không ngoại lệ.

TS. Ngô Văn Vinh, Viện trưởng Viện Giám định Pháp y tâm thần Trung ương cho rằng, người  “ngáo đá” có triệu chứng của tâm thần dưới góc độ khoa học. Nhưng dưới góc độ pháp luật, “ngáo đá” chính là hậu quả của hành vi sử dụng ma túy gây ảo giác. Một khi đã xác định đây chính là hậu quả của hành vi sử dụng ma túy gây ảo giác thì phải giám định rất kỹ để đánh giá được việc sử dụng ra sao, mức độ ảnh hưởng thần kinh đến đâu.

Luật sư Lê Văn Đài, Văn phòng luật sư Khánh Hưng, Đoàn luật sư Hà Nội cho biết, ở góc độ y học, sau khi sử dụng Methamphetamine, người “ngáo đá” có triệu chứng của người mắc bệnh tâm thần, tách rời khỏi thực tại (ảo tưởng) hoặc ảo giác. 

Còn ở góc độ pháp lý, người bị “ngáo đá” là hậu quả của hành vi chủ động, không vô thức khi bắt đầu sử dụng chất ma túy (là một loại chất kích thích mạnh), do đó, pháp luật hiện hành không coi họ là người mắc bệnh tâm thần và không có cơ sở đề nghị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

Pháp luật chưa có quy định riêng biệt đối với người phạm tội trong tình trạng bị kích thích do nghiện ma túy, do “ngáo đá”, nhưng ở Điều 14 Bộ luật Hình sự đã có quy định chung là người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

Trường hợp người “ngáo đá” phạm tội thì cũng tương tự người phạm tội trong tình trạng say rượu hoặc chất kích thích mạnh khác, đều phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm đã gây ra.

Hoàng Anh

Phương pháp mới: Cai nghiện ma túy không dùng thuốc

zing.vn

Phương pháp mới: Cai nghiện ma túy không dùng thuốc

 

Người nghiện không phải đến trại tập trung, không cần dùng thuốc. Mỗi ngày cần bỏ ra 2h đồng hồ cùng các chuyên gia tâm lý thực hiện những bài tập. Sau 3 tháng họ có thể cai.

Đây là phương pháp chống tại nghiên trên cơ sở  xóa bỏ sự lệ thuộc vào ma túy bằng ngôn ngữ tình cảm do Trung tâm Nghiên cứu và Hỗ trợ tâm lý cho người nghiện ma túy (PDS) công bố.

Cai nghiện sau 10 năm chìm đắm trong khói thuốc

Phương pháp này dựa trên nền tảng lý thuyết về hệ thống chức năng được phát triển bởi P.K. Anokhin; các phương pháp khơi gợi ngôn ngữ tình cảm của các nhà khoa học như I.M, Schenov, P.V, Pavlov… 

Ông Lê Trung Tuấn, chủ tịch hội đồng sáng lập trung tâm cho biết: Phương pháp nhằm ngăn chặn sự hình thành tất cả những động cơ tiềm ẩn, thúc đẩy hành vi sử dụng ma túy, trong đó căng thẳng tâm lý là động cơ chủ yếu. 

Theo đó, nó tập trung vào giai đoạn chống tái nghiện, với tỷ lệ cai nghiện bước đầu thành công là 60%. Đây là phương pháp điều trị ngoại trú, không dùng thuốc, tác động đến tâm lý tạo cho người nghiện niềm tin nghiện ma túy hoàn toàn chữa được. 

Phuong phap moi: Cai nghien ma tuy khong dung thuoc hinh anh 1

Là một trong số những người cai nghiện thành công bằng phương pháp này, anh Lương Minh Tuấn (sinh năm 1977) kể lại, anh bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2001 khi bắt đầu bước chân vào trường ĐH Luật. Trong suốt thời gian nghiện, anh đã rất nhiều lần đi cai ở các trung tâm và cũng tự mua thuốc về cai tại nhà nhưng tất cả các hình thức cai nghiện đều trở nên vô nghĩa.

“Chỉ cần bước ra khỏi trung tâm, trở về nhà, vào nhà vệ sinh là tôi lại lên cơn thèm thuốc.  Trong hơn 10 năm nghiện, không nhớ bao lần đi cai, tôi chỉ biết thời gian cách ly với thuốc lâu nhất chỉ từ 10- 15 ngày, rồi lại tái sử dụng”, anh Tuấn nói. 

Chiếc gương trong nhà tắm – nơi anh Tuấn thường đứng trước gương, soi mình và hưởng thụ cảm giác phê sau mỗi lần hút, chích mang lại – chính là lý do khiến anh tái nghiện. 

Sau khi tìm đến Trung tâm PDS, anh Tuấn đã được các chuyên gia hướng dẫn tập luyện. Những buổi chuyện trò, những bài test tâm lý đã giúp anh cân bằng tâm lý, thoát ra khỏi nỗi ám ảnh của bản thân, cũng là tác nhân gây tái nghiện.

Chuyên gia nói gì?

Có mặt tại buổi hội thảo,Thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Nguyễn Trọng Đàm cho rằng, phương pháp này xuất phát từ cơ sở khoa học quốc tế, không dùng thuốc. Tuy nhiên, kết quả thực tế đến đâu còn phải chờ xem xét, công nhận của nhà khoa học. 

“ Qua các bài trình bày chúng tôi chưa rõ lắm về khía cạnh họat động thực tiễn của việc đưa phương pháp này vào như thế nào? Nói gì với người nghiện, ai nói, nói ở đâu, thời điểm nào, nói trong bao lâu thì người nghiện có thể có chuyển biến… 

Vì thế, tôi đề nghị Trung tâm cố gắng nghiên cứu thêm, đăng ký đề tài với cơ quan khoa học để được công nhận bằng hội đồng khoa học; từ đó mới có cơ sở để áp dụng”, thứ trưởng Đàm nhấn mạnh.

Đồng tình với quan điểm này, đại diện Cục Cảnh sát Điều tra Tội phạm Ma túy (Bộ Công An) cho rằng, đã từng đọc một tài liệu của Nga trong đó nêu rõ muốn cai nghiện chỉ có “ khoét não”-  điều này cho thấy việc cai nghiện ma túy không hề dễ dàng. “Trên thực tế việc cai nghiện tại cộng đồng, gia đình không hiệu quả – 100% tái nghiện. 

Còn vào trung tâm cai nghiện thì như biến tướng của trại tù. Đặc biệt, người nghiện nói nhẹ không nghe, động viên cũng khó suy chuyển chỉ có dùng bạo lực cưỡng ép thì mới thay đổi hành vi. Vì thế, khi nghe về phương pháp này, tôi thấy rất hay. Tuy nhiên vẫn cần có những nghiên cứu, những dẫn chứng cụ thể hơn nữa” – vị đại diện nhấn mạnh.

TÁC HẠI CỦA MA TÚY THIÊN NHIÊN DẠNG KÍCH THÍCH – COCAINE

TÁC HẠI CỦA MA TÚY THIÊN NHIÊN DẠNG KÍCH THÍCH – COCAINE

Cocaine là một trong những chất gây nghiện bị lạm dụng phổ biến và nguy hiểm nhất ở các nước châu Mỹ và châu Âu. Ở Việt Nam hiện chưa phát hiện tình trạng buôn bán, lạm dụng cocaine, có thể do cocaine chưa thâm nhập vào thị trường Việt Nam vì lý do nào đó. Cocaine thường bị lạm dụng ở chế phẩm mạnh nhất của nó, freebase và crack (crack cocaine). Cocaine được chiết xuất từ cây coca có nguồn gốc từ Nam Mỹ, ở đó các cư dân đại phương thường nhai các lá và cành nhỏ để có được hiệu quả kích thích. Các alkaloid cocaine được chiết xuất đầu tiên vào năm 1860 và được sử dụng trong y học như là một chất gây tê cục bộ, chủ yếu trong phẩu thuật mắt, mũi và họng vì nó giúp gây tác dụng co mạch. Năm 1884 Sigmund Freud đã tiến hành nghiên cứu tác dụng dược lý chung của cocaine và coi nhó như một loại thuốc chông trầm cảm. Từ 1880-1890, cocaine được biết đến như loại thuốc chữa khỏi nhiều bệnh. Tuy nhiên vào năm 1914 cocaine đã được xếp vào loại các chất gây nghiện tiếp theo morphine và heroin, vì tác dụng gây hại và gây nghiện của nó.

A. Dịch tễ học

Ở Mỹ, khoảng 1,9 triệu người Mỹ, bao gồm 1,9% học sinh trung học phổ thông đã sử dụng cocaine trong tháng qua, tuy nhiên sử dụng cocaine hiện nay có chiều hướng thuyên giảm do nhận thức về nguy cơ liên quan đến sử dụng cocaine trong dân chúng tăng lên qua các chiến dịch truyền thông về cocaine và tác hại của nó. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây ở một mức độ nào đó lại gia tăng hiện tượng sử dụng crack, một dạng mạnh hơn cocaine rất nhiều. Sử dụng Crack phổ biến nhất ở lứa tuổi 18-25, do giá rẻ hơn cocaine 10 lần.

Ở Mỹ, năm 1991 có khoảng 12% dân số Mỹ đã sử dụng cocaine ít nhất 1 lần và 1,9% đã sử dụng crack ít nhất một lần, 0,5% đã sử dụng crack trong năm qua, 0,2% đã sử dụng crack trong tháng qua. Lứa tuổi sử dụng nhiều nhất từ 18-25 tuổi (18% đã sử dụng cocaine ít nhất 1 lần và 2% vẫn đang sử dụng cocaine; 3,8% đã sử dụng crack ít nhất một lần). Mặc dù sử dụng cocaine có tỷ lệ cao nhất ở nhóm người không có việc làm nhưng nó cũng được sử dụng ở nhóm người có học vấn và kinh tế xã hội cao. Tỉ lệ nam giới sử dụng cocaine cao hơn 2 lần so với nữ giới (NIDA, 1991).

Ở Pháp, tỉ lệ sử dụng cocaine ở lứa tuối 18-75 là 2% (EROPP 2002); ở lứa tưởi 17-18 là 2,3%, và sử dụng trong tháng qua là 0,9%. Tỉ lệ sử dụng crack ở lứa tuổi 17-18 là 0,9%, và sử dụng trong tháng qua là 0,3% (ESCAPAD 2003, OFDT).

B. Đặc điểm dược lý

Cocaine nhanh chóng được hấp thu và chuyển hóa bởi esterase huyêt thanh và ở gan. Thời gian kích thích của nó ngắn, từ 3-45 phút, phụ thuộc vào liều lượng và đường sử dụng.

Hệu quả dược động học đầu tiên của cocaine (liên quan tới hiệu quả trên hành vi của thuốc) do phong tỏa cạnh tranh việc thu hồi dopamine bởi hệ thống vận chuyển dopamine. Việc phong tỏa thu hồi dopamine làm tăng độ tập trung dopamine ở synapse và dẫn tới tăng hoạt tính của receptor D1 và D2, ngoài ra cocaine cũng gây ra ức chế thu hồi catecolamine, norepinephrine và serotonin. Hiệu quả trên hành vi thông qua hoạt tính này, gây tăng cường sự chú ý. Cocaine làm giảm lưu lượng máu não và sử dụng glucose ở não. Hiệu quả trên hành vi của cocaine hầu như ngay lập tức và kéo dài khoảng 30-60 phút, vì vây jcaanf thiết phải sử dụng lặp lại để duy trì hiệu quả nhiễm độc. Mặc dù hiệu quả của cocaine trên hành vi thì ngắn những chất chuyển hóa của nó có thể tồn tại trong máu và nước tiểu tới 10 ngày.

Cocaine là một chất gây nghiện mạnh, sự phụ thuộc về tâm thần có thể xảy ra sau 1 lần sử dụng bởi vì hiệu quả mạnh của nó có tác dụng củng cố dương tính trên hành vi. Khi sử dụng lặp lại, sự dung nạp và sự nhạy cảm tăng lên, mặc dù sự dung nạp và nhạy cảm hiển nhiên do nhiều yếu tố và không dễ dàng đoán trước. Có sự phụ thuộc về cơ thể, tuy nhiên hội chứng cai của cocaine nhẹ hơn so với hội chứng cai của các chất dạng thuốc phiện.

C. Biểu hiện lâm sàng

Cocaine thường được sử dụng qua đường hít trực tiếp, tiêm dưới da, tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm kết hợp với hút. Hít cocaine ít nguy hiểm hơn tiêm chích và hút cocaine. Mặc dù cocaine có thể được dùng qua đường uống những nó ít hiệu quả hơn các đường khác.

Crack là một chất cực kỳ mạnh, là chất tinh chế của cocaine. Nó được bán số lượng nhỏ và sẵn sàng để hút (thường được gọi là rock). Crack gât nghiện rất mạnh, thậm chí chỉ với 1 hoặc 2 lần sử dụng là đã gây thèm muốn mãnh liệt nên người nghiện thường sử dụng bạo lực để có tiền mua crack hút.

Biểu hiện lâm sàng có nhiều loại khác nhau (tham khảo trong phần tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm độc cocaine ở mục sau).

Các tác hại

Tác hại phổ biến do sử dụng cocaine đường mũi (hít trực tiếp) làm xung huyết niêm mạc mũi, cũng có thể viêm tấy nghiêm trọng, căng phồng lên, chảy máu, và loét niêm mạc mũi. Sử dụng lây ngày cocaine cũng có thể dẫn đến loét sâu do nhiễm khuẩn mũi. Việc sử dụng free-base (tên đường phố của cocaine chuyển từ dạng muối sang báe) và crack có thể gây tổn thương nghiêm trọng phế quản và phổi. Tiêm tĩnh mạch cocaine thường kết hợp với nhiễm khuẩn, tắc mạch, lây truyển viêm gan B, C và HIV. Các biến chứng thần kinh nhẹ như loạn trương lực cơ, tic và đau đầu kiểu migraine. Tuy nhiên biến chứng nặng do sử dụng cocaine là tác dộng trên mạch máu não, động kinh, tim mạch.

– Các tác dụng trên mạch máu não: bệnh mạch máu não phổ biến liên quan tới sử dụng cocaine là nhồi máu não không xuất huyết. Khi có nhồi máu não xuất huyết xảy ra, chúng có thể bao gồm xuất huyết dưới nhện, xuất huyết não, xuất huyết não thất. Có các cơn thiếu máu tạm thời thường kết hợp với sử dụng cocaine. Tất cả những rối loạn mạch não nêu trên thường liên quan tới tác động gây co mạch của cocaine.

– Các cơn co giật: gặp khoảng 3-8% trường hợp cấp cứu do cocaine ở các phòng cấp cứu. Cocaine là chất gây nghiện thường gây ra cơn co giật nhiều nhất, tiếp theo đó là amphetamine. Cơn co giật cocaine có nguy cơ cao hơn ở những người cơ tiền sử động kinh, sử dụng liều cao cocaine, sử dụng crack.

– Các tác dụng trên tim mạch: nhồi máu cơ tim và ngoại tâm thu thất có thể là những bất thường về tim mạch thường gặp nhất do cocaine. Các bệnh cơ tim có thể xảy ra do sử dụng kéo dài cocaine. Nhồi máu não, nhồi máu tim có thể là những biến chứng gia tăng của rối loạn chức năng tim mạch do cocaine.

– Tử vong: sử dụng liều cao cocaine kết hợp với cơn co giật, suy hô hấp, bệnh mạch máu não và nhồi máu cơ tim, tất cả biên chứng vừa nêu trên có thể dẫn tới tử vong ở những người sử dụng cocaine. Những người sử dụng cocaine có thể có các dấu hiệu cảnh báo như ngất xỉu hoặc đau thắt ngực nhưng cũng có thể họ không để ý đến các dấu hiệu này bởi vì họ không thể kìm chế được thèm muốn sử dụng cocaine. Tử vong cũng có thể do sử dụng kết hợp các chất dạng thuốc phiện với cocaine.

D. Chẩn đoán

1. Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện và lạm dụng cocaine

Theo tiêu chuẩn chẩn đoán chung ở phần trước (DSM IV).

2. Tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm độc cocaine

a. Vừa mới sử dụng cocaine.

b. Thay đổi hành vi hoặc tâm lý không thích hợp, xuất hiện trong hoặc ngay sau khi sử dụng cocaine (ví dụ khoái cảm hoặc cảm xúc cùn mòn; thay đổi sự hòa đồng, tăng tỉnh táo; tăng nhạy cảm trong quan hệ; lo âu; căng thẳng hoặc cáu giận; hành vi vô nghĩa; giảm sút lý lẽ hoặc giảm sút các chức năng xã hội nghề nghiệp).

c. Có ít nhất 2 trong số các triệu chứng sau, xuất hiện trong hoặc ngay sau khi sử dụng cocaine:

(1) Nhịp tim tăng nhanh hoặc chậm.

(2) Giãn đồng tử.

(3) Tăng hoặc giảm huyết áp.

(4) Vã mồ hôi hoặc giảm cảm giác lạnh.

(5) Buồn nôn hoặc nôn.

(6) Sút cân rõ rệt.

(7) Kích động tâm thần vận động hoặc chậm chạp.

(8) Yếu cơ, suy hô hấp, đau ngực, hoặc mất nhịp tim.

(9) Lú lẫn, co giật, loạn động, loạn trương lực cơ hoặc hôn mê.

d. Các triệu chứng trên không do bệnh cơ thể hoặc rối loạn tâm thần khác gây ra.

Đặc trưng nếu kèm theo rồi loạn nhận thức.

3. Tiêu chuẩn chẩn đôán hội chứng cai cocaine

a. Ngừng hoặc giảm mạnh sử dụng cocaine hoặc giảm sử dụng kéo dài

b. Loạn cảm xúc và có ít nhất 2 sự thay đổi tâm lý sau đây, xuất hiện từ vài giờ tới vài ngày theo tiêu chuẩn

(1) Mệt mỏi.

(2) Ác mộng.

(3) Mất ngủ hoặc ngủ nhiều.

(4) Tăng khẩu vị.

(5) Kích động hoặc tâm thần vận động chậm.

c. Triệu chứng ở tiêu chuẩn b gây ra buồn phiền hoặc giảm sút rõ rệt các chức năng nghề nghiệp, xã hội hoặc các chức năng quan trọng khác.

d. Các triệu chứng trên không do bệnh cơ thể hoặc rối loạn tâm thần khác gây ra.

4. Các rối loạn loạn thần liên quan tới cocaine

Hoang tưởng paranoid và ảo thanh có thể xảy ra ở 50% những người sử dụng cocaine. Việc xuất hiện các triệu chứng này phụ thuộc vào liều sử dụng, thời gian sử dụng và tính mẫn cảm của mỗi cá nhân đối với cocaine. Các rối loạn loạn thần do cocaine thường phổ biến ở những người tiêm tĩnh mạch cocaine và sử dụng crack. Nam giới thường bị nhiều hơn nữ giới. Thường gặp hoang tưởng paranoid và ảo thanh, còn ảo giác xúc giác và ảo thị ít gặp hơn.

5. Rối loạn cảm xúc liên quan tới cocaine

Rối loạn cảm xúc liên quan tới cocaine có thể khởi phát trong giai đoạn nhiễm độc hoặc cai cocaine. Thường gặp hưng cảm nhẹ hoặc hưng cảm trong giai đoạn nhiễm độc cocaine, còn trầm cảm thường gặp trong giai đoạn cai cocaine.

6. Rối loạn lo âu liên quan tới cocaine

Các rối loạn hoảng sợ, lo sợ ám ảnh và ám ảnh cưỡng bức thường gặp trong giai đoạn nhiễm độc hoặc cai cocaine.

7. Rối loạn chức năng tình dục liên quan đến cocaine

Rối loạn chức năng tình dục có thể bắt đầu khi bị nhiễm độc cocaine. Mặc dù cocaine được sử dụng như một thuốc kích dục và như một cách để làm chậm khoái cảm, nhưng việc sử dụng lặp lại chúng có thể gây ra bất lực.

8. Rối loạn giấc ngủ liên quan tới cocaine

Rối loạn giấc ngủ có thể xảy ra trong khi bị nhiễm độc (mất ngủ) hoặc hội chứng cai cocaine (ngủ nhiều).

MÔ HÌNH TRỊ LIỆU NHẬN THỨC – HÀNH VI

swvn.blogspot.com

MÔ HÌNH TRỊ LIỆU NHẬN THỨC – HÀNH VI

Mô hình can thiệp trị liệu nhận thức- hành vi trên thế giới 



Trong các mô hình can thiệp trị liệu trên thế giới, chúng được chia ra những hợp phần: tâm lý trị liệu, các kỹ thuật ứng dụng, dùng thuốc. Những hợp phần này có sự liên kết với nhau. 



Tâm lý trị liệu 



Các tư liệu về trị liệu nhận thức đã phát triển theo cấp số nhân trong những thập kỷ qua. Có gốc rễ từ công trình của Aaron Beck trong việc trị liệu trầm cảm (Beck, 1972, 1976), phương pháp trị liệu nhận thức hiện đại đã trở thành mô hình được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực tâm lý trị liệu và tâm bệnh học và đã được áp dụng trong nhiều vấn đề, các nhóm thân chủ và các hoàn cảnh trị liệu khác nhau. Mô hình cơ bản đã được thích ứng ở nhiều nền văn hóa một cách dễ dàng. Các nhà trị liệu ở Thụy Điển cũng như ở Trung Quốc xác định có những quan tâm và phát triển trị liệu nhận thức như là một mô hình thích hợp với các đặc trưng của các quốc gia này. Đây là một thực tế khá lý thú, vì đây là hai nước có nền văn hoá rất khác nhau. Các cách tiếp cận nhận thức dường như được ứng dụng xuyên văn hoá vì chúng tập trung vào diễn tiến và đặt nền tảng trên hiện tượng học (phenomenologically based). Mô hình này tôn trọng thực tế cho rằng những niềm tin tiềm tàng đặc thù, có thể được chia sẻ bởi những người thuộc những nền văn hoá riêng biệt và có sự khác biệt xuyên văn hoá đáng kể về những niềm tin này. 



Giống như các nhà tâm lý trị liệu phân tâm, nhà trị liệu nhận thức xác nhận sự quan trọng của những đối thoại bên trong và những động cơ từ bên trong (internal dialogues and motivations). Nhà trị liệu nhận thức làm việc để giúp thân chủ nói ra những điều chưa được nói, dù rằng họ vẫn cố gắng tránh dùng các ẩn dụ về sự đè nén các bản năng và quan niệm về việc hành vi chịu sự chi phối bởi các yếu tố bên trong gây lo âu, đè nén. Họ cũng cố gắng phát hiện và thay đổi các niềm tin cùng các thái độ tạo nên sự đau khổ mà thân chủ không tự nhận biết được. 



Sự phát triển của trị liệu nhận thức như là một mô hình xử lý thông tin trong các rối loạn lâm sàng đã được phát triển trong những năm 1970, vì những kỹ thuật trị liệu đặt nền tảng trên các mô hình được điều hòa bởi nhận thức được đề nghị và vì các kết quả nghiên cứu trị liệu chứng minh tính hiệu năng của các kỹ thuật đã được công bố. 



Bandura (1969, 1977a, 1977b) là tác giả được biết đến nhiều nhất trong việc phát triển mô hình học tập xã hội của chứng lo âu và tính gay hấn, và ông đã phát hiện ra tầm quan trọng trung tâm của sự nhận biết về “hiệu năng của bản thân” (self-efficacy) hoặc năng lực cá nhân trong việc hướng dẫn hành vi con người. Trong việc tái công thức hóa học thuyết hành vi cổ điển, một số tác giả cho rằng hành vi con người không chỉ được dàn xếp bởi các yếu tố môi trường và yếu tố ngẫu nhiên mà do các yếu tố niềm tin và tri giác của cá nhân đó. 



Mô hình ABC rất thông dụng hiện nay để miêu tả sự quan hệ giữa “sự kiện đi trước” (Antecedent events), “niềm tin” (Beliefs), “hành vi” (Behavior) và “hậu quả” (Consequenses) ở mỗi cá nhân được đề nghị bởi Albert Ellis (1962, 1979, 1985) đã gợi ý rằng những hành vi kém thích nghi hoặc các chứng nhiễu tâm là có liên quan trực tiếp đến những niềm tin phi lý của một con người đối với những biến cố trong cuộc sống của họ. Ellis đã phát triển một hệ thống các kiểu thức lệch lạc hoặc sai lầm thường thấy về mặt nhận thức đồng thời phát triển một số kỹ thuật trị liệu có hướng dẫn để thay đổi chúng. Mô hình của ông cho rằng bằng cách phát hiện và thay đổi các niềm tin phi lý hoặc không thực tế có thể dẫn đến sự thay đổi các phản ứng cảm xúc và hành vi trước các sự kiện. Bởi vì những niềm tin phi lý thường khá kiên định và có tính chất lâu đời. 



Seligman (1974, 1975) cho rằng cá nhân bị trầm cảm khi họ tin rằng họ không thể kiểm soát các kết quả quan trọng trong đời sống của họ (bao gồm cả các sự kiện tích cực lẫn các sự kiện tiêu cực hay trừng phạt). Mô hình trầm cảm “học được sự tuyệt vọng” (learned-helplessness), sau khi được cải biên bởi các tác giả Abramson, Seligman và Teasdale (1978), đã tạo nên sự quan tâm nghiên cứu thực nghiệm và gợi ý rằng sự qui lỗi bởi các thân chủ trầm cảm về nguyên nhân các sự cố trên có thể là mục tiêu quan trọng của việc trị liệu . 



Rehn (1977) đã đề nghị một mô hình nhận thức – hành vi về trầm cảm tập trung vào các thiếu sót trong việc “điều hòa bản thân” (self-regulation). Đặc biệt, tác giả cho rằng các thân chủ trầm cảm biểu hiện sự kém cỏi trong việc tự quản lý bản thân mình (họ tham dự một cách chọn lọc vào các sự kiện tiêu cực và muốn có các hiệu quả tức thì thay vì chờ đợi những kết quả lâu dài từ các hành vi của mình) và họ cũng yếu kém trong khả năng tự đánh giá bản thân (họ thường chỉ trích bản thân quá đáng và có khuynh hướng đổ lỗi một cách không thích đáng về trách nhiệm của họ đối với các sự kiện tiêu cực) cũng như yếu kém trong khả năng tự củng cố bản thân (self-reinforcement) (họ không có khuynh hướng khen thưởng cho các thành công của mình và trừng phạt mình quá lố khi không đạt được các mục tiêu). Mô hình của Rehn là sự phát triển các mô hình ban đầu về điều hòa hành vi bản thân (Kanfer, 1971) và có ích lợi lâm sàng với các vấn đề hành vi nhận thức đặc thù được trải nghiệm bởi các thân chủ trầm cảm (Fuchs & Rehn, 1977). 



Kỹ thuật 



Một số lớn những kỹ thuật nhận thức và hành vi có thể được dùng để phát hiện và sau đó đặt câu hỏi về lệch lạc trong nhận thức và các sơ đồ ẩn bên dưới . Những kỹ thuật này được dạy cho thân chủ để giúp họ đáp ứng một cách lành mạnh hơn. Sự phối hợp đúng đắn các kỹ thuật nhận thức và hành vi sẽ tuỳ thuộc vào khả năng của thân chủ, kỹ năng của nhà trị liệu, mức độ bệnh lý và các mục tiêu trị liệu đặc hiệu. Ví dụ: khi làm việc với các thân chủ liệt giường, những mục tiêu ban đầu của trị liệu có thể tập trung giúp đỡ thân chủ thực hiện các công việc tự chăm sóc và việc phân tích công việc cần huấn luyện thành những bước nhỏ với độ khó tăng dần có thể đạt thành công tốt hơn. Bắt đầu với các công việc ít khó khăn nhất, sau đó tiến dần từng bước sang các công việc khó khăn hơn sẽ giúp cho thân chủ ý thức được sự thành công của mình nhiều hơn. 



Trị liệu bằng thuốc 



Trị liệu bằng thuốc có thể là một phần trợ lực quan trọng trong chương trình trị liệu. Ngược với các điều tin tưởng thông thường, trị liệu nhận thức và trị liệu bằng hóa dược không loại trừ lẫn nhau, mà có thể phối hợp với nhau trong một chương trình trị liệu (Wright & Schrodt, 1989; Wright, 1987, 1992). Ngoài giá trị thay đổi các suy nghĩ không lành mạnh và hành vi kém thích ứng, đã tạo cho thân chủ cảm giác buồn rầu, lo âu, giận dữ, trị liệu nhận thức còn có thể sử dụng để phát triển và thay đổi các niềm tin không tốt đẹp về thuốc men.. Ngoài ra, như tác giả Wright (1992) nhận xét, trị liệu nhận thức có thể trang bị cho thân chủ các kỹ thuật giải quyết vấn đề, giúp phát triển sự hoạt động tâm lý xã hội tốt hơn và có thể giảm nguy cơ không lệ thuộc vào chương trình trị liệu thuốc men lâu dài. 



Kinh nghiệm lâm sàng cho thấy rằng trị liệu bằng thuốc có thể ích lợi trong việc giảm bớt các triệu chứng sinh học của trầm cảm, như mất ngủ, mệt nhọc và kém tập trung và như vậy có thể giúp các thân chủ trầm cảm nặng tham gia tích cực hơn trong quá trình trị liệu. Tuy nhiên, cơ chế dẫn đến sự thay đổi do trị liệu bằng thuốc men vẫn chưa được hiểu hết. Đối với các thân chủ hưng trầm cảm và loạn thần, thường phải sử dụng kết hợp thuốc men và tâm lý trị liệu nếu thân chủ không đáp ứng với các can thiệp hành vi hoặc bằng lời nói. 



Mô hình trị liệu nhận thức- hành vi trong CTXH cá nhân 



– Đây là sự tích hợp của nhiều nhà thực hành hiện đại như thuyết giải mẫn cảm hệ thống của Wolpe; trị liệu cảm xúc thuần lý của Ellis; hiện tượng cảm xúc của Lazarus, Cautela, Mahoney; sự thay đổi hành vi nhận thức của Meichenbaum… 



– Thuyết nhận thức – hành vi là cơ sở giúp đối tượng giảm hành vi không phù hợp và tăng cường hành vi đúng đắn. Từ đó đem lại cho đối tượng cảm giác đúng đắn về bản thân và giúp họ tương tác một cách hài hòa về môi trường xung quanh. 



– Một trong những mốc phát triển quan trọng của việc ứng dụng thuyết này là việc áp dụng của nhà tâm lý học Glasser trong làm việc với đối tượng có hành vi lệch chuẩn và áp dụng của nhà tâm lý Gambrill trong cách trị liệu với trẻ em bị lạm dụng, sau này trị liệu nhận thức – hành vi được tiếp tục nghiên cứu và áp dụng có hiệu quả cả trong lĩnh vực tâm thần. 



– Tiếp theo đó một số nhà nghiên cứu và thực hành công tác xã hội đã bổ sung thêm một số luận điểm về quyền con người và tính nhân văn vào lý thuyết nhận thức – hành vi CTXH. Trong đó khẳng định, NVCTXH khi làm việc với đối tượng cần công nhận quá trình tâm lý là yếu tố tự nó của con người và bản thân đối tượng có quyền thay đổi và điều khiển suy nghĩ của mình một cách cá nhân. NVCTXH cố gắng nhìn nhận và thấu hiểu được chuỗi tiến trình tâm lý diễn ra ở đối tượng và những người có liên quan để từ đó chấp nhận và thấu hiểu cách đối tượng nhìn nhận thế giới. 



– NVXH cùng với TC nhận định được nguồn gốc của hành vi lệch lạc (do suy nghĩ sai lạc, nhận thức sai lầm và gán nhãn nhầm cả từ tâm trạng ở trong ra đến ngoài hành vi bên ngoài do đó gây nên những niềm tin, hình tượng, đối thoại nội tâm tiêu cực dẫn đến hành vi sai lầm) 



=> TC có thể học hỏi để tập trung nghĩ về việc phát triển nhận thức, củng cố nhận thức, thích nghi môi trường để sửa đổi hành vi. 



Ví dụ: một NVCTXH trợ giúp cho TC: ban đầu TC chỉ nói những câu như “ tôi thực sự chán ghét cuộc sống này” thì NVXH bằng mô hình trị liệu này có thể nhận thấy suy nghĩ của TC đang có vấn đề. NVCTXH: “ anh (chị) hãy kể cho tôi nghe những gì muốn diễn đạt khi a(chị) dùng từ chán ghét”. Từ đó NVXH hiểu lý do dẫn đến TC có suy nghĩ tiêu cực như vậy. Khi đã tạo niềm tin và hiểu về TC, NVCTXH nên tôn trọng nhận thức của TC, cùng xác định vấn đề, xây dựng kế hoạch và thực hiện đạt mục tiêu đặt ra. Ban đâu, TC xử sự một cách chủ động tránh lặp lại những tình huống trước đây đã tạo ra hành vi và sửa đổi các tình huống nhờ thực hành nhận thức và điều chỉnh hành vi. 



– Trong CTXH khi áp dụng mô hình trị liệu này, NVCTXH cùng TC nên lập sẵn kế hoạch nhằm tập luyện và củng cố khi gặp tình huống bất ngờ. 



– NVXH có thể áp dụng các chiến lược hành vi là sự mô hình hóa minh họa cho những đáp ứng tích cực hoặc bật mý cho TC biết cách thức đáp ứng tích cực mà TC khao khát học hỏi, có thể lấy video làm minh họa để TC học tập, diễn tập.

Gần trăm cảnh sát đột kích quán bar ‘nhà giàu’ ở Sài Gòn

Gần trăm cảnh sát đột kích quán bar ‘nhà giàu’ ở Sài Gòn
Hơn 300 khách đang nhảy nhót trong quán BaRốcCô lúc rạng sáng thì gần trăm cảnh sát phong tỏa, sau đó ập vào phát hiện nhiều ma tuý tổng hợp.
Hơn 2h ngày 31/10, đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa (quận 3, TP HCM) – “đường ngoại giao” từ trung tâm thành phố ra sân bay Tân Sơn Nhất – vắng lặng. Tuy nhiên, khu vực xung quanh quán BaRốcCô có khá nhiều người.

Bất ngờ, gần trăm chiến sĩ Phòng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội (PC64, Công an TP HCM) cùng cảnh sát hình sự, cơ động, giao thông… xuất hiện. Phần lớn phong tỏa quán bar để nhiều cảnh sát khác đột kích vào trong.

Hơn 300 khách nêm chặt các bàn và những lối đi, nhảy múa quay cuồng trong ánh đèn mờ ảo và tiếng nhạc đinh tai. Không gian đặc quánh khói thuốc và tranh ảnh, hình nộm ma quái cho dịp Halloween.

gan-tram-canh-sat-dot-kich-quan-bar-nha-giau-o-sai-gon-1
Hàng trăm khách bên trong bar lúc rạng sáng. Ảnh: Quốc Thắng.
Thấy cảnh sát, cả trăm người nhốn nháo, xô lấn tìm đường ra ngoài nhưng các cửa đều bị phong toả. Nhiều người dời bàn của mình, hòa vào đám đông, để lại ngổn ngang trên bàn bia rượu, thuốc lá, trái cây và cả những gói nylon nhỏ. Lực lượng chức năng phát hiện tại 5 bàn Vip có nhiều viên ma tuý tổng hợp.

Ít nhất 50 người bị đưa về trụ sở Công an quận 3 do nghi vấn sử dụng ma tuý. Hàng chục người khác không có giấy tờ tùy thân cũng bị giữ lại chờ người nhà đến bảo lãnh.

Đoàn kiểm tra đã xử phạt quán BaRốcCô về hành vi hoạt động quá giờ qui định và một số vi phạm khác.

Tuy không nằm ở khu vực tập trung các tụ điểm ăn chơi ở Sài Gòn, song BaRốcCô có giá thức uống, dịch vụ đắt nhất nhì thành phố và dàn vệ sĩ chuyên nghiệp. Quán được giới “nhà giàu” tìm đến khá đông, nhất là các dịp cuối tuần, do không gian bar đẹp, nhạc “phiêu”…

Quốc Thắng

Kỹ thuật mới phát hiện sớm mẫu máu nhiễm HIV

Việc sàng lọc máu bằng kỹ thuật mới NAT giúp giảm nguy cơ nhiễm HIV, HBV, HCV, đảm bảo công tác an toàn truyền máu tốt hơn so với xét nghiệm sàng lọc huyết thanh và rút ngắn thời gian cửa sổ rất đáng kể.

Bệnh viện Truyền máu huyết học TP.HCM là ngân hàng máu đầu tiên của cả nước triển khai thành công kỹ thuật NAT (xét nghiệm với kỹ thuật khuếch đại axit nuleic) trong sàng lọc máu giúp phát hiện sớm hơn các virút HIV, HBV và HCV ở giai đoạn cửa sổ (từ lúc nhiễm virút đến lúc phát hiện được bằng xét nghiệm).

Bác sĩ Chuyên khoa II Phù Chí Dũng – Giám đốc Bệnh viện Truyền máu huyết học TPHCM – cho biết như vậy tại buổi tọa đàm “Quy trình và kỹ thuật sàng lọc máu” do bệnh viện này và Công ty Roche VN phối hợp tổ chức ngày 16-10.

Theo bác sĩ Dũng, cho đến nay chưa có một chế phẩm sinh học nào có thể thay thế máu. Máu và chế phẩm từ máu vẫn được thu thập từ người hiến máu.

Tại Việt Nam, mỗi năm thu thập hơn 1 triệu đơn vị máu từ người hiến máu tình nguyện để cung ứng cho các bệnh viện. Tuy nhiên, tại VN tỉ lệ mắc bệnh lây lan qua đường máu như HIV, HBV, HCV, giang mai… còn cao.

Do vậy việc sàng lọc máu bằng kỹ thuật mới NAT giúp giảm nguy cơ nhiễm HIV, HBV, HCV, đảm bảo công tác an toàn truyền máu tốt hơn so với xét nghiệm sàng lọc huyết thanh.

Với kỹ thuật NAT, xét nghiệm sàng lọc máu đã được rút ngắn thời gian cửa sổ rất đáng kể.

Kỹ thuật này có thể phát hiện virút HCV sau khi bị phơi nhiễm 23 ngày (rút ngắn được 59 ngày), phát hiện HBV sau khi bị phơi nhiễm 34 ngày (rút ngắn được 25 ngày) và HIV sau khi bị phơi nhiễm 11 ngày (rút ngắn được 11 ngày).

Theo báo Tuổi trẻ

“Đại bản doanh” buôn bán ma túy giữa cánh đồng bị đánh sập

Một ngôi nhà nằm biệt lập giữa cánh đồng với hệ thống camera an ninh được bảo vệ nghiêm ngặt là “đại bản doanh” mua bán ma túy vừa bị Công an Thừa Thiên Huế phát hiện, đánh sập.
Ngày 20-9, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thừa Thiên Huế đã tống đạt quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt giam đối với Trần Ngọc Bảo (33 tuổi, trú tại thôn Lưu Khánh, xã Phú Dương, huyện Phú Vang) và Phan Thế Lũy (25 tuổi, trú thôn Phò An, xã Phú Dương) về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Đối tượng bảo cùng tang vật vụ án
Đối tượng bảo cùng tang vật vụ án
Trước đó, trưa 19-9, tại nhà của Bảo ở thôn Lưu Khánh, các trinh sát Phòng Cảnh sát phòng chống ma túy Công an Thừa Thiên Huế bắt quả tang Bảo đang bán ma túy cho một đối tượng tên P. (30 tuổi, trú đường Nguyễn Thiện Thuật, TP Huế).
Công an thu giữ trong người P. một gói ma túy tổng hợp dạng đá vừa mua của Bảo. Thu giữ trong người Bảo 3,5 triệu đồng là tiền Bảo vừa bán ma túy cho P. mà có cùng 1 gói ma túy tổng hợp dạng đá.

Khám xét khẩn cấp tại nhà Bảo, cơ quan công an thu giữ trong phòng ngủ của con Bảo 14 bánh cần sa (tổng trọng lượng 14 kg), 17,586 gam heroin, 7,82 gam ma túy tổng hợp dạng đá, nhiều dụng cụ sử dụng ma túy, 90 triệu đồng, 1 roi điện, 1 kiếm, 1 khẩu súng giả.

Hệ thống camera được gắn xung quanh nhà Bảo được cơ quan công an thu giữ
Hệ thống camera được gắn xung quanh nhà Bảo được cơ quan công an thu giữ
Đặc biệt, nhằm đối phó với lực lượng công an, các đối tượng đã có nhiều phương thức, thủ đoạn che giấu và cấu kết buôn bán với đối tượng ngoại tỉnh. Ngôi nhà của Bảo được xây dựng giữa cánh đồng, biệt lập với xung quanh; 4 phía được gắn camera an ninh theo dõi “nhất cử, nhất động” trong vòng bán kính 1km.

Bước đầu Bảo khai nhận mua các loại ma túy trên từ ngoại tỉnh về bán cho con nghiện tại thị trường Thừa Thiên Huế. Lũy là người giúp sức cho Bảo bán ma túy.

Hiện vụ việc đang được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thừa Thiên Huế tiếp tục điều tra mở rộng.

Theo Thái Bình (báo Thừa Thiên Huế)

Tác hại khôn lường của ma túy “đá”

Thời gian gần đây, số vụ buôn bán ma túy tổng hợp được Công an Hà Nội khám phá ngày càng nhiều. Nổi lên trong đó một loại ma túy mới, mà “dân chơi” quen gọi là ma túy “đá”, hay “hàng đá” (Methamphetamine). Đây là loại ma túy có sức tàn phá cơ thể lớn, đặc biệt độc hại… cho người sử dụng.

Ma túy “đá” tại Hà Nội

cai nghiện ma túy đá

Đối tượng trong đường dây buôn bán “hàng đá” bị công an bắt giữ

21h30 ngày 25-4-2006, tổ công tác CAP Láng Hạ, quận Đống Đa tiến hành kiểm tra hành chính tại khách sạn Sao Mai trên phố Huỳnh Thúc Kháng, tại phòng 402, phát hiện Lê Văn Công (SN 1974), HKTT tại đường Trần Hưng Đạo, Bà Triệu, tỉnh Nam Định, hiện trú tại phường 13, quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh tàng trữ 1 túi nilon có chứa bột trắng, nhìn giống các mảnh kính vụn nghi là ma túy, trọng lượng 2,171 gam.

Tiến hành giám định, kết quả cho thấy, đây là một loại ma túy tổng hợp có tên khoa học là Methamphetamine, lần đầu xuất hiện ở Hà Nội. Quan sát bằng mắt thường, Methamphetamine tồn tại ở dạng tinh thể, giống như các hạt đá vụn, do vậy các đối tượng buôn bán “hàng” này gọi nó là ma túy “đá”. Từ sau sự “ra mắt” này, nhiều vụ triệt phá các ổ nhóm, tụ điểm buôn bán ma túy tổng hợp tiếp theo, cơ quan công an thu giữ được nhiều hơn loại ma túy này.

Điển hình, tháng 7-2007, Đội 3 – Phòng CSĐT tội phạm về ma túy (PC 17) – CATP Hà Nội phát hiện một đường dây chuyên mua bán, tiêu thụ các loại ma túy tổng hợp tại Hà Nội. Cầm đầu là vợ chồng Hoàng Minh Tuấn (SN 1972) và Nguyễn Thị Châu (SN 1974), HKTT tại xóm Tiền Phong, phường Quỳnh Lôi, quận Hai Bà Trưng. Để cạnh tranh với những nơi khác, Tuấn – Châu thường xuyên cập nhật những loại ma túy mới nhất đáp ứng nhu cầu của dân chơi.

Theo đó, hàng ngày hai đối tượng giao “hàng” cho Đặng Quốc Bảo (SN 1974), HKTT tại phố Minh Khai, Hai Bà Trưng và Nguyễn Hùng Sơn (SN 1978), HKTT tại phường Mai Dịch, Cầu Giấy đi tiêu thụ hàng tại các nhà hàng, quán karaoke trên địa bàn nhiều quận, huyện tại Hà Nội. Sau một thời gian theo dõi, 2h ngày 9-11-2007, Đội 3 – Phòng PC17 đã thực hiện kế hoạch triệt phá đường dây vận mua bán, tiêu thụ ma túy tổng hợp quy mô lớn này. Kết quả đã bắt giữ 6 đối tượng, thu 2.241 viên ma túy tổng hợp, một túi ma túy “đá”, 12 bộ cóng bằng thủy tinh là dụng cụ sử dụng ma túy “đá”, cùng nhiều loại ma túy tổng hợp khác. Đây là đường dây mua bán, tiêu thụ ma túy tổng hợp lớn nhất từ trước tới nay được khám phá trên địa bàn Hà Nội, và cũng là vụ thu giữ nhiều “hàng đá”.

Ma túy “đá” và những tác hại chết người!

Số ma túy “đá” bị phát hiện đầu tiên ở Hà Nội

Theo Thượng tá Lê Văn Thuần – Phó trưởng Phòng Kỹ thuật hình sự – CATP Hà Nội thì ma túy “đá” thực chất là một loại ma túy tổng hợp, có tên trong từ điển về ma túy là Methamphetamine (meth). Ma túy “đá” tồn tại ở cả dạng viên nén nhưng xuất hiện ở Việt Nam chủ yếu ở dạng tinh thể. Cách đây hàng chục năm, thế giới đã biết tới meth là loại thuốc được điều chế để điều trị cho các bệnh nhân có bệnh tâm thần, trầm cảm… Khi dùng, thuốc sẽ kích thích hệ thần kinh người bệnh, khiến họ trở nên hoạt bát, tinh thần hưng phấn, mất cảm giác mệt mỏi, buồn ngủ và làm trí nhớ người được cải thiện. Tuy nhiên, quá trình đưa vào sử dụng, các bác sĩ, các nhà khoa học nhận thấy, meth gây cho người sử dụng các tác dụng xấu và có hại. Người dùng meth nhiều, ảo giác sẽ luôn thường trực, luôn ở trạng thái buồn ngủ, thần kinh rối loạn, tính cách trở nên hung hãn. Theo các nhà nghiên cứu, meth trước đây được nhiều binh sĩ phương Tây sử dụng trước mỗi trận đánh, để kích thích hưng phấn, mất cảm giác đói, không buồn ngủ và không sợ hãi khi làm nhiệm vụ.

Vậy, meth (ma túy “đá”) có những tác động thế nào với những người bình thường? Ngay khi sử dụng, meth sẽ tác động trực tiếp gây kích thích hệ thần kinh trung ương và có thể tạo ảo giác trong một thời gian dài. Sự hưng phấn, sung mãn, tự tin của những người sử dụng loại “thuốc độc” này khiến họ có thể làm những điều họ không dám như: chạy xe điên cuồng; tự rạch, cào, cắn vào chính cơ thể mình, quan hệ tình dục tập thể, nhảy nhót, la hét…

Do cũng chứa chất dùng trong thuốc giảm cân, do vậy, meth kích thích người sử dụng hoạt động với tần suất cao nhưng lại không làm họ thèm ăn, buồn ngủ sau đó 3-4 ngày liền, hoặc lâu hơn. Không ăn, không ngủ, lại hoạt động hết công suất cho việc nhảy nhót, lắc lư và hoạt động tình dục… khiến người sử dụng meth khi hết ảo giác sẽ như người vô hồn, thân hình tàn tạ, sức khỏe giảm sút nghiêm trọng. Có thuốc thì vậy, nhưng khi không dùng, người nghiện sẽ có cảm giác lo lắng, sợ hãi, khó chịu ở não và toàn cơ thể, khiến họ luôn tự xa lánh mọi người. Cùng với đó, cảm giác như bị sâu bọ bò trong da sẽ làm họ khó chịu, khiến họ cào cấu mặt mũi, chân tay để giải tỏa sự hành hạ của ma túy.

Loại ma túy độc hại này được sử dụng chủ yếu dưới hai hình thức, hít trực tiếp qua đường hô hấp, hoặc một cách “chơi” cầu kỳ hơn là đốt nóng chảy loại ma túy này bằng một dụng cụ chuyên dụng, trông giống như một “bàn đèn” (ảnh), rồi hút vào bằng đường miệng. Giới dân chơi gọi cách này là “ục”. Khác với cách gọi “cắn” của dân sử dụng “thuốc lắc”, với ma túy “đá”, thường được ám hiệu là “phá núi”, “đập đá”, “ục”… Giá của “hàng đá” thuộc loại đắt nhất hiện nay, ước chừng khoảng 45 triệu đồng/100 gam tinh chất.

Meth là loại ma túy gây nghiện cực mạnh, nếu đã sử dụng rất khó có thể cai. Với những tác hại chưa từng thấy của loại ma túy này, bài viết của chúng tôi muốn gióng lên cảnh báo để mọi người cùng chung tay ngăn chặn đường vào Việt Nam của loại ma túy này. Và hơn hết, cảnh báo tới tất cả mọi người hãy tránh xa loại ma túy này./-

Nguồn : ANTĐ