CÁC TRIỆU CHỨNG VÀ BỆNH TÂM THẦN DO SỬ DỤNG MA TÚY

 

(Trung tâm Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa biên soạn)

Viện Hàn Lâm Khoa Học Pháp năm 1999 định nghĩa: ma túy là những chất tác động tâm thần mà người lạm dụng sẽ gây ra cho mình sự lệ thuộc.

Tình trạng lệ thuộc ma túy đòi hỏi sử dụng ma túy đều đặn như một phương thức sống. Người lệ thuộc sẽ bị những biến đổi về khí sắccảm xúc cũng như nhận thức do những tổn thương trong não. Những tổn thương này có thể tồn tại rất lâu hoặc vĩnh viễn sau khi ngưng sử dụng.

Sự rối loạn trên bắt nguồn từ nhiều lý do khác nhau: bản thân, gia đình, xã hội, tâm lý. Sử dụng, lạm dụng rồi lệ thuộc ma túy dẫn đến tình trạng nghiện là triệu chứng cuối cùng hoàn tất quá trình rối loạn trên. Do vậy việc điều trị phục hồi nghiện ma túy bao gồm rất nhiều lĩnh vực y tế, tâm lý.

Người nghiện bị lệ thuộc tâm lý và lệ thuộc cơ thể đối với ma túy. Nếu thiếu sẽ thèm muốn, đòi hỏi phải tái sử dụng để cảm thấy thoải mái.

Khi được cung cấp đủ ma túy con nghiện ở trạng thái ngất ngây hoặc kích thích mạnh mẽgiảm bớt đau đớn thân xác cũng như tinh thần, cảm giác khoẻ mạnh yêu đời.

Bởi tính chất ép buộc sử dụng ma túy, cuộc sống người nghiện suốt đời loanh quanh trong việc sử dụng nó. Đó là phương thức tồn tại của người nghiện.

Một phương thức sống như vậy sẽ làm xáo trộn và đảo lộn nhiều giá trị cá nhân cũng như xã hội cùng những chức năng tâm sinh lý.

Càng sử dụng ma túy lâu bao nhiêu hoặc sử dụng sớm bao nhiêu thì hậu quả càng nhiều và nặng nề bấy nhiêu. Mặt khác, những tác động của ma túy trên bộ não có thể gây ra những tổn thương tạm thời hoặc vĩnh viễn làm cho người nghiện suy giảm khả năng xử lý thông tin, xử lý những kinh nghiệm cũng như khả năng hiểu biết của đối tượng trong việc hướng đến một cuộc sống lành mạnh.

Như vậy, việc lạm dụng và lệ thuộc ma túy là một hội chứng trong một bối cảnh đa phương diện.

Xét về mặt hành vi, người nghiện đã phát triển những cách ứng xử không thích nghi hoặc những thói quen xấu. Chính những hành vi ấy ngăn cản đối tượng hoà nhịp với cộng đồng, mất đi lòng tự trọng, tinh thần trách nhiệm, không còn khả năng hiểu biết những hậu quả do hành vi của mình gây ra. Người nghiện ma túy không còn đủ nhận thức để sống một cách trong sạch, cũng như kỹ năng làm việc để sống bình ổn trong một xã hội trật tự. Nói chung, về mặt tinh thầnsức khoẻ, nghề nghiệpgia đình, xã hội,… có thể suy sụp đến một mức làm sự điều trị phục hồi cho đối tượng trở thành khó khăn.


Sau khi cai, nếu những nhân tố tác động thúc đẩy đối tượng tìm đến ma túy vẫn chưa được giải quyết, hầu hết những người nghiện sẽ tái nghiện.

 

Ngoài trạng thái lạm dụng và lệ thuộc, các hội chứng lâm sàng liên quan đến các chất ma túy có thể gây các phản ứng tâm lý và rối loạn tâm trí thực thể sau:

I-   CÁC PHẢN ỨNG TÂM LÝ:

Các hậu quả tâm lý của các chất ma túy phụ thuộc vào nhiều yếu tố quyết định phức tạp trong đó có cả các nhân tố dược lý và tâm lý:

– Các nhân tố dược lý tùy thuộc chất ma túy, liều lượng với phương thức sử dụng, với độ dung nạp, với các tương tác.

– Mức độ tác hại gồm nhiều yếu tố như: phối hợp nhiều chất ma túy với nhau, ảnh hưởng tính chất sinh lý của từng cá nhân, tác động bởi bối cảnh xã hội, phương thức dùng ma túy, nhân cách của chủ thể và trạng thái lâm sàng, các mong ước và tác động của xã hội trong việc phòng chống ma túy thông qua nhiều phương cách khác nhau.

II- CÁC RỐI LOẠN TÂM TRÍ THỰC TỔN:

Trong DSM – III mục phân loại các rối loạn này gồm những hội chứng tâm trí thực tổn khác nhau gây ra do hậu quả trực tiếp của nhiều chất ma túy trên hệ thần kinh trung ương. Đây là trạng thái nhiễm độc, lẫn các phản ứng loạn tâm thần trực tiếp do dùng ma túy.

1- TRẠNG THÁI NHIỄM ĐỘC:

Mô tả trạng thái này như một rối loạn tâm trí bị gây ra do mới sử dụng ma túy, thể hiện qua các hành vi như hung dữ, thay đổi phán đoán, biến loạn hoạt động xã hội, và bằng hội chứng đặc hiệu thông thường nhất là các rối loạn về tri giác, về chú ý và sự tỉnh thức, về tư duy nhận đoán và vận động.

2- LÚ LẪN TÂM TRÍ:

Hội chứng lú lẫn hay mê sảng của DSM – III thể hiện bằng các rối loạn chú ý và tư duy nặng hơn trong trạng thái nhiễm độc, biểu hiện bằng các rối loạn tỉnh thức, rối loạn tư duy, mất định hướng thời gian, không gian và các rối loạn tri giác. Các triệu chứng trên liên quan với dùng quá liều các chất ma túy.

3- CÁC PHẢN ỨNG LOẠN TÂM THẦN:

Các phản ứng này thể hiện tính hoang tưởng hay ảo giác trong trạng thái tỉnh thức bình thường. Thời gian các phản ứng này thường ngắn từ vài giờ đến vài ngày. Phản ứng loạn tâm thần có thể kịch phát do dùng các chất kích thích, các chất gây ảo giác  cần sa.

4- HỘI CHỨNG HỒI TƯỞNG (SYNDROME DE REVISISCENCE):

Trong DSM – III – R gọi là rối loạn tri giác sau ảo giácđặc trưng cho hội chứng này là khi không dùng ma túy thì cảm thấy một hay nhiều triệu chứng đã xảy ra trong trạng thái nhiễm độc trước đây (Flashback).

Các triệu chứng này xảy ra đột ngột và thường chỉ kéo dài vài giây hay vài phút. Chúng có thể tái diễn ít hay nhiều lần trong ngày. Các triệu chứng này luôn kèm theo một phản ứng lo hãi, và có thể xuất hiện sau một lần dùng ma túy nhưng hay xảy ra sau khi dùng ma túy nhiều lần. Các triệu chứng nhiễm độc tái cấp diễn này được quan sát chủ yếu với các chất gây ảo giác, hiếm hơn nhưng còn gặp với cần sa. Các triệu chứng thường gặp nhất là các rối loạn tri giác và nhiều về thị giác.

III- LOẠN TÂM THẦN:

Việc dùng các chất ma túy thường gây hậu quả là một rối loạn tâm thần. Các mối liên hệ giữa sử dụng ma túy và các rối loạn tâm thần khá phức tạp.

Rối loạn tâm thần góp phần dẫn đến sử dụng ma túy, đồng thời có thể do cả hai yếu tố trên tác động lên nhau.

Sự phân biệt này khó xác định, một khi cùng xảy ra song song, việc sử dụng các chất ma túy và các rối loạn tâm thần sẽ tác động lẫn nhau thể hiện qua các biểu hiện và sự phát triển của chúng.

Phân biệt các rối loạn tâm thần tiên phát và thứ phát có thể dẫn đến các hành vi nghiện ngập và có thể ảnh hưởng đến các quyết định điều trị.

IV- TRẠNG THÁI TRẦM NHƯỢC:

Trầm nhược do rối loạn tâm thần có sự kết hợp do sử dụng các chất ma túy đã được nghiên cứu nhiều nhất. Lạm dụng ma túy kết hợp với trầm nhược thường gặp trong các quần thể của khoa lâm sàng. Lạm dụng rượu và ma túy luôn luôn kết hợp với các trầm nhược nặng.

Trong nghiên cứu Ryan và ctv (1987) về 92 ca trầm nhược nặng18% đối tượng có sử dụng thêm các chất ma tuý “dịu”, 4% ít nhất đã dùng các chất ma tuý, việc dùng rượu quá mức kết hợp với việc sử dụng ma tuý gây các trạng thái trầm nhược loạn tâm và các rối loạn nhân cách.

Trầm nhược luôn kết hợp với lạm dụng ma tuý.

Các trường hợp trầm nhược hình như luôn luôn dẫn đến nghiện ma túy. Trong nghiên cứu của Deykin và ctv (1987), lạm dụng ma túy và rượu hầu như bao giờ cũng theo sau trạng thái trầm nhược nặng.

Trong nghiên cứu của De Milio (1989) các triệu chứng trầm nhược khởi đầu trước khi lạm dụng ma tuý trong khoảng nửa số trường hợp.

Các điều tra dịch tễ học đã khẳng định tần suất các tiền sử trầm nhược của chứng nghiện ma túy: các nghiên cứu này đã nhận định các triệu chứng trầm nhược như một nhân tố nguy cơ ở giai đoạn mới dùng ma túy (Bukstein và ctv, 1989).

Trầm nhược và sử dụng ma túy ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Các triệu chứng trầm nhược có thể dẫn đến sử dụng ma tuý. Là tiên phát hoặc thứ phát, trạng thái trầm nhược có thể làm nặng thêm hay duy trì lạm dụng ma túy.

V- TỰ SÁT VÀ CÁC Ý ĐỊNH TỰ SÁT:

Lạm dụng ma tuý đựơc công nhận là nguy cơ hàng đầu của các hành vi tự sát của thanh thiếu niên. Trong số 1824 đối tượng được gởi tới chữa bệnh vì lạm dụng ma tuý, 40,7% có ý tưởng tự sát thường xuyên (Harrison và Hoffiman, 1987).

Sử dụng hay lạm dụng ma tuý hoặc rượu còn là một trong các yếu tố kết hợp chính của các ý định tự sát ở thanh thiếu niên theo các nghiên cứu của Christoffel và ctv (1990).

Đa số các công trình có sự lên quan giữa tự sát, trầm nhược và lạm dụng ma túy. Lạm dụng ma túy có thể làm trầm trọng thêm trầm nhược và làm cho dễ chuyển sang hành động tự sát do tác dụng dược lý làm giải ức chế tính xung động và hung tính.

Cuối cùng, việc dùng ma tuý, trầm nhược và tự sát có thể làm bộc lộ cùng một bệnh lý phát triển.

VI- CÁC RỐI LOẠN HÀNH VI:

– Ma tuý và rối loạn hành vi thường kết hợp với nhau. Các rối loạn hành vi thường gặp trong lạm dụng ma túy ở thanh thiếu niên: Rechrich và Gold (1986) thấy trong 41 đối tượng có 95% rối loạn hành vi liên quan đến sử dụng ma tuý. De Milio (1989) thấy 42% có rối loạn hành vi trong 57 thanh thiếu niên nằm viện vì ma túy.

Myers và Kemph (1990) khảo sát trên 14 thanh thiếu niên đã giết người (12 con trai và 2 con gái) tuổi từ 10 đến 17 (tuổi trung bình 15,2). Ở thời điểm chúng có hành vi giết người: 86% đã mắc một rối loạn hành vi.

Các nghiên cứu khác cho thấy mối tương quan giữa hành vi phạm pháp và sử dụng ma túy: Hundleby và ctv (1982) ghi nhận trên 100 thanh thiếu niên nam và 130 thanh thiếu niên nữ dùng ma tuý có hoạt động tình dục nhiều hơn, nhận thức về xã hội và học tập lệch lạc.

Các liên quan giữa rối loạn hành vi và dùng ma tuý rất phức tạp. Các rối loạn hành vi và sử dụng ma túy tác động lẫn nhau. Các rối loạn hành vi thường dẫn đến dùng ma túy.

Trong các nghiên cứu theo chiều dọc hậu cứu về các trẻ em hiếu động, đã nhận thấy rằng khuynh hướng chống đối xã hội thường dẫn đến các rối loạn liên quan đến việc sử dụng các chất ma túy.

Dùng ma tuý có thể dẫn đến các rối loạn hành vi: tác động của chất ma túy giải ức chế và làm tăng hung tính tạo điều kiện cho việc chuyển thành hành vi chống đối xã hội. Do lệ thuộc ma túy đối tượng gây nên những hành vi phạm pháp để tìm cho được chất ma túy: ăn cắp, buôn bán ma túy và làm gái điếm thường kết hợp (Tarr và Macklin, 1987).

Phạm pháp và lạm dụng ma túy đều liên quan đến các điều kiện xã hội, gia đình không êm ấm và các rối loạn xúc cảm. Thanh thiếu niên phạm pháp, nhất là khi chúng bị trầm nhược khai là sử dụng ma tuý hay các hoạt động bất hợp pháp để làm nhẹ nổi buồn chán và ưu phiền của họ.

Trong nghiên cứu của Farrow French (1990), khảo sát trên 89 thanh thiếu niên phạm pháp khai có dùng ma túy trong đó 74% trường hợp là để làm giảm các cảm nghĩ buồn chán và ưu phiền, 39% để quên các vấn đề của họ, 42% để được yên tĩnh, 65% để được thích thú và 45% vì nhiều bạn của họ dùng ma túy.

VII- CÁC RỐI LOẠN TẬP TRUNG:

Các rối loạn tập trung mang tính hiếu động có tiền sử dùng ma tuý thường xảy ra ở tuổi thanh thiếu niên: De Milio (1989) thấy trong 14% các trường hợp này, có rối loạn tập trung và hiếu động. Rối loạn tập trung cũng có thể là di chứng của sử dụng ma túy.

Trong 114 thanh thiếu niên phạm pháp, Halikas và ctv (1990) nhận thấy lạm dụng ma túy có trên 67%, trong đó không rối loạn tập trung 19% trường hợp, các rối loạn hành vi đa hung bạo trong 61% trường hợp.

VIII- CÁC RỐI LOẠN NHÂN CÁCH:

Lạm dụng ma túy liên quan đến một số rối loạn nhân cách.

Các rối loạn nhân cách bệnh lý và nghiện ma túy liên hệ và tác động với nhau. Các rối loạn nhân cách dễ dẫn đến sử dụng ma túy:

–         Các rối loạn về cảm xúc của trạng thái ranh giới.

–         Các cảm nghĩ trống rỗng và buồn phiền.

–         Tính xung động.

Ngược lại, việc dùng ma túy làm nặng thêm các rối loạn về tâm lý, về quan hệ và sinh học biểu hiện rõ nét nhân cách bệnh lý.

         IX- CÁC BIỂU HIỆN LO HÃI:

 Một nghiên cứu dịch tễ học của NIMH trên thanh niên (Christie và ctv…1988) cho thấy người có tiền sử rối loạn lo hãi mà tuổi khổi phát trung bình là 15, dẫn đến các nguy cơ lạm dụng hay lệ thuộc ma túy tăng gấp đôi với thanh niên không có tiền sử rối loạn lo hãi.

 Trong nghiên cứu của Johnston và O'Malley, 41% học sinh trung học đã giải thích dùng ma túy do nhu cầu giảm căng thẳng

          X. CÁC RỐI LOẠN ĂN UỐNG:

Lạm dụng ma túy và rượu còn gặp ở người háu ăn, người chán ăn và còn ở một mức độ thấp hơn trên những người chán ăn hạn chế (Garner và ctv,…1985). Kille và ctv.(1987) so sánh 57 thanh thiếu niên háu ăn, 59 thanh thiếu niên ăn kiêng dùng các biện pháp nôn, nhuận trường hay lợi tiểu đễ kiểm tra trọng lượng của họ và 444 thanh thiếu niên không có rối loạn hành vi ăn uống: Kết quả cho đối với 3 nhóm người: nhóm 1: háu ăn, nhóm 2: chán ăn, nhóm 3: ăn hạn chế say rượu ít nhất 1 lần mỗi tháng tỷ lệ lần lượt là 25, 21 và 17%, say rượu nhiều lần mỗi tháng là 10, 23 và 7% trường hợp, sử dụng mà ăn ít nhất mỗi tháng là 16, 9 và 10% trường hợp và ít nhất 1 lần mỗi tuần là 14, 12 và 6% trường hợp.

Dùng ma túy và các trạng thái say có tần suất vẫn cao hơn tần suất của nhóm chứng không trầm nhược có các rối loạn hành vi ăn uống.

 XI. CÁC RỐI LOẠN NHÂN CÁCH:

Lạm dụng ma túy liên quan đến một số rối loạn nhân cách (Crumley, 1990). Trong  số 57 thanh thiếu niên nghiện ma túy do De Milio khảo sát (1989), 16% cho thấy những nét rõ rệt về rối loạn nhân cách một cách rõ rệt, nhân cách phân liệt 2 ca, nhân cách ái kỷ 2 ca, nhân cách kiểu phân liệt 1 ca.

Các rối loạn nhân cách bệnh lý và nghiện ma túy liên hệ và tác động với nhau. Các rối loạn nhân cách dễ dẫn đến sử dụng ma túy:

  • Các rối loạn về cảm xúc của trạng thái ranh giới
  • Các cảm nghĩ trống rỗng và buồn phiền
  • Tính xung động

​Ngược lại, việc dùng ma túy là nặng thêm các rối loạn về tâm lý, về quan hệ và sinh học biểu hiện rõ nét nhân cách bệnh lý.

XII. CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN:

Các chất gây ảo giác, amphetamin, cocain, cần sa, phesncyclidin có thể gây các triệu chứng loạn tâm thần. Loạn tâm thần do amphetamin có thể gây các triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt ở thanh thiếu niên (Angrist, 1983).

Ngược lại bệnh tâm thần phân liệt của thanh thiếu niên có thể bộc lộ và nặng lên do ma túy.

Một số ma túy được xem như có thể gây ra không nững các bệnh tâm thần phản ứng ngắn hay các rối loạn dạng phân liệt mà cả bệnh tâm thần phân liệt thực sự:dùng lâu dài các chất amphetamin có thể gây ra một số bệnh tâm thần phân liệt (Me – Lellam và ctv.1979), LSD xuất hiện đúng hơn như một nhân tố thúc đẩy (Vardy và Kay, 1983)

IX- TỶ LỆ CHẾT:

Việc sử dụng có thể gây chết người, các biến chứng cơ thể và một ảnh hưởng tiêu cực trên đời sống tâm lý và quan hệ cũng như trên sự thích ứng xã hội.

Trong khi tỷ lệ chết của các nước công nghiệp hoá giảm, thì tỷ lệ chết lại tăng ở thanh thiếu niên và thanh niên: các tai nạn giao thông, các tai nạn khác, tự sát và giết người do ma túy là nguyên nhân gây tỷ lệ chết cao. Các tai nạn giao thông chiếm 70% nguyên nhân chết của những người 16 – 19 tuổi trong Cộng Đồng Châu Au: Rượu và các chất ma túy là những nguyên nhân chủ yếu.

Trong một nghiên cứu nam giới từ 15 -34 tuổi, chết do tai nạn giao thôngrượu được phát hiện trong 75% trường hợp, cần sa 37% và cocain 11%; trong đó kết hợp rượu và cần sa 85% trường hợp (Williams, 1985). Tác hại của ma túy ngoài các tai nạn và tự sát, nguy cơ lây nhiễm HIV/ AIDS qua tiêm chích tĩnh mạch các chất ma túy và quan hệ tình dục bừa bãi cũng là một vấn đề rất đáng quan tâm.

X-  TÁC HẠI CỦA CÁC LOẠI MA TÚYXin xem mục MA TÚY VÀ CÁC CHẤT GÂY NGHIỆN trên trang Web này của Trung tâm.

KẾT LUẬN:

Sử dụng các chất ma túy dẫn đến nhiều nguy cơ: tăng liều lượng và chuyển sang các chất ma túy mạnh hơnrối loạn phát triển, thất bại trong hoà nhập xã hội, các tổn thương thể chất, tinh thần và dẫn đến cái chết. Nếu đối tượng bị gạt ra bên lề xã hội do sử dụng ma túy thì nguy cơ tổn thương về thể chất dẫn đến cái chết có thể xảy ra sớm, do bệnh tật và thiếu sự chăm sóc.

 

Bắt nhóm nghiện ma túy gây hàng loạt vụ cướp

http://soha.vn

Sáng 30-1, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thuận An (Bình Dương) đã bắt giữ Nguyễn Anh Tâm (21 tuổi), Lê Minh Tuệ (19 tuổi), Nguyễn Hùng Hậu (24 tuổi, cùng ngụ thị xã Thuận An, Bình Dương), Lê Hoài Sơn (16 tuổi, quê Bình Thuận) và Phạm Văn Tuần (17 tuổi, quê Bình Định) về hành vi cướp, cướp giật và trộm cắp tài sản.

Theo cơ quan Công an, Tâm cầm đầu băng nhóm này, từ 12-2017, đã tụ tập và rủ rê nhiều thanh thiếu niên hư hỏng trên địa bàn đến phòng trọ của mình để chơi ma tuý và sau đó khiển xe máy, sử dụng mã tấu để khống chế cướp, cướp giật và trộm tài sản của người dân.

Cả nhóm đã gây ra hàng lọat vụ cướp, cướp giật và trộm cắp tài sản trên địa bàn.

Ai từng là nạn nhân của các đối tượng (ảnh) liên hệ với Công an thị xã Thuận An để giải quyết.

 

 

 

 

Con nghiện đào hố chôn ma túy để qua mắt công an

http://doctinnhanh.net/

Nhằm qua mắt lực lượng chức năng, Vi Văn Xá (49 tuổi) đã đào hố để cất giấu ma túy, vũ khí. Tuy nhiên, đối tượng đã bị bắt quả tang khi đang thực hiện hành vi chia nhỏ ma túy để tiêu thụ. 

Vi Vông Xá (49 tuổi, trú xã Ngọc Lâm, huyện Thanh Chương) vốn là đối tượng nghiện hút ma túy lâu năm. Vì muốn kiếm tiền nhanh lại có ma túy để dùng, Xá không ngần ngại vượt đường xa lên huyện Tương Dương mua 2 gói ma túy với giá 20 triệu đồng rồi đem về chia nhỏ, bán lại cho những con nghiện ở địa phương.

con nghien dao ho chon ma tuy de qua mat cong an
Vi Văn Xá tại cơ quan công an.

Để qua mắt lực lượng chức năng, Xá nghĩ ra cách đào hố chôn ma túy dưới nền nhà. Tuy nhiên, đối tượng lại bị bắt quả tang khi đang chia lẻ ma túy để tiêu thụ.

Từ đó, Cơ quan công an đã phát hiện trên người và dưới nền nhà bếp của gia đình Xá có hai gói ma túy với trọng lượng 32, 325 gam ma túy đá; 5,32 gam heroin; một khẩu súng K54; 3 viên đạn, dao nhọn và một số vật dụng khác.

Tại cơ quan điều tra, Xá đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Hiện vụ việc đang được cơ quan công an điều tra và làm rõ.

Bảo Trang (Tổng hợp)

Phương pháp mới: Cai nghiện ma túy không dùng thuốc

zing.vn

Phương pháp mới: Cai nghiện ma túy không dùng thuốc

 

Người nghiện không phải đến trại tập trung, không cần dùng thuốc. Mỗi ngày cần bỏ ra 2h đồng hồ cùng các chuyên gia tâm lý thực hiện những bài tập. Sau 3 tháng họ có thể cai.

Đây là phương pháp chống tại nghiên trên cơ sở  xóa bỏ sự lệ thuộc vào ma túy bằng ngôn ngữ tình cảm do Trung tâm Nghiên cứu và Hỗ trợ tâm lý cho người nghiện ma túy (PDS) công bố.

Cai nghiện sau 10 năm chìm đắm trong khói thuốc

Phương pháp này dựa trên nền tảng lý thuyết về hệ thống chức năng được phát triển bởi P.K. Anokhin; các phương pháp khơi gợi ngôn ngữ tình cảm của các nhà khoa học như I.M, Schenov, P.V, Pavlov… 

Ông Lê Trung Tuấn, chủ tịch hội đồng sáng lập trung tâm cho biết: Phương pháp nhằm ngăn chặn sự hình thành tất cả những động cơ tiềm ẩn, thúc đẩy hành vi sử dụng ma túy, trong đó căng thẳng tâm lý là động cơ chủ yếu. 

Theo đó, nó tập trung vào giai đoạn chống tái nghiện, với tỷ lệ cai nghiện bước đầu thành công là 60%. Đây là phương pháp điều trị ngoại trú, không dùng thuốc, tác động đến tâm lý tạo cho người nghiện niềm tin nghiện ma túy hoàn toàn chữa được. 

Phuong phap moi: Cai nghien ma tuy khong dung thuoc hinh anh 1

Là một trong số những người cai nghiện thành công bằng phương pháp này, anh Lương Minh Tuấn (sinh năm 1977) kể lại, anh bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2001 khi bắt đầu bước chân vào trường ĐH Luật. Trong suốt thời gian nghiện, anh đã rất nhiều lần đi cai ở các trung tâm và cũng tự mua thuốc về cai tại nhà nhưng tất cả các hình thức cai nghiện đều trở nên vô nghĩa.

“Chỉ cần bước ra khỏi trung tâm, trở về nhà, vào nhà vệ sinh là tôi lại lên cơn thèm thuốc.  Trong hơn 10 năm nghiện, không nhớ bao lần đi cai, tôi chỉ biết thời gian cách ly với thuốc lâu nhất chỉ từ 10- 15 ngày, rồi lại tái sử dụng”, anh Tuấn nói. 

Chiếc gương trong nhà tắm – nơi anh Tuấn thường đứng trước gương, soi mình và hưởng thụ cảm giác phê sau mỗi lần hút, chích mang lại – chính là lý do khiến anh tái nghiện. 

Sau khi tìm đến Trung tâm PDS, anh Tuấn đã được các chuyên gia hướng dẫn tập luyện. Những buổi chuyện trò, những bài test tâm lý đã giúp anh cân bằng tâm lý, thoát ra khỏi nỗi ám ảnh của bản thân, cũng là tác nhân gây tái nghiện.

Chuyên gia nói gì?

Có mặt tại buổi hội thảo,Thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Nguyễn Trọng Đàm cho rằng, phương pháp này xuất phát từ cơ sở khoa học quốc tế, không dùng thuốc. Tuy nhiên, kết quả thực tế đến đâu còn phải chờ xem xét, công nhận của nhà khoa học. 

“ Qua các bài trình bày chúng tôi chưa rõ lắm về khía cạnh họat động thực tiễn của việc đưa phương pháp này vào như thế nào? Nói gì với người nghiện, ai nói, nói ở đâu, thời điểm nào, nói trong bao lâu thì người nghiện có thể có chuyển biến… 

Vì thế, tôi đề nghị Trung tâm cố gắng nghiên cứu thêm, đăng ký đề tài với cơ quan khoa học để được công nhận bằng hội đồng khoa học; từ đó mới có cơ sở để áp dụng”, thứ trưởng Đàm nhấn mạnh.

Đồng tình với quan điểm này, đại diện Cục Cảnh sát Điều tra Tội phạm Ma túy (Bộ Công An) cho rằng, đã từng đọc một tài liệu của Nga trong đó nêu rõ muốn cai nghiện chỉ có “ khoét não”-  điều này cho thấy việc cai nghiện ma túy không hề dễ dàng. “Trên thực tế việc cai nghiện tại cộng đồng, gia đình không hiệu quả – 100% tái nghiện. 

Còn vào trung tâm cai nghiện thì như biến tướng của trại tù. Đặc biệt, người nghiện nói nhẹ không nghe, động viên cũng khó suy chuyển chỉ có dùng bạo lực cưỡng ép thì mới thay đổi hành vi. Vì thế, khi nghe về phương pháp này, tôi thấy rất hay. Tuy nhiên vẫn cần có những nghiên cứu, những dẫn chứng cụ thể hơn nữa” – vị đại diện nhấn mạnh.

LIỆU PHÁP NHẬN THỨC HÀNH VI TRONG HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ NGHIỆN

pcmt.ubdt.gov.vn

LIỆU PHÁP NHẬN THỨC HÀNH VI TRONG HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ NGHIỆN

 

Nhận thức hành vi là một trường phái trong tâm lý và trị liệu được nhà tâm lý, trị liệu người Mỹ Albert Ellis cùng các cộng sự của ông phát triển. Đây là một trong những liệu pháp được ứng dụng rộng rãi, mang lại nhiều kết quả thiết thực.Triết lý liệu pháp nhận thức hành vi cho rằng con người được sinh ra với những tiềm năng sẵn có, trong đó có tiềm năng giúp cho con người suy nghĩ, ứng xử hợp lý, hướng tới hạnh phúc, suy nghĩ, yêu thương, giao tiếp tốt với người khác. Đồng thời, cũng có thể khiến con người suy nghĩ thiếu lô gích hoặc lảng tránh suy nghĩ, trì hoãn, luôn mắc lỗi, khó tha thứ cho người khác, hướng đến sự “hoàn hảo”, tự đổ lỗi cho mình và không muốn phát huy khả năng.

 

Trong ba phần suy nghĩ, cảm nhận và hành động, con người chịu sự chi phối mãnh mẽ của suy nghĩ (nhận thức). “Chất lượng” của suy nghĩ sẽ quyết định đến chất lượng cuộc sống của mỗi con người, giúp con người giải quyết những vấn đề trong cuộc sống và cũng có thể gây ra những vấn đề trong cuộc sống.

 

Điểm xuất phát của những suy nghĩ này là do con người nghe, tiếp nhận được từ những người sống xung quanh trong thời gian dài. Bên cạnh đó, bản thân con người luôn có xu hướng tự đánh giá, chịu đựng những suy nghĩ cũ mòn, không muốn thay đổi.



Xuất phát từ quan điểm trên Elliss và các cộng sự của ông đã phát triển ra một phương pháp tác động làm thay đổi nhận thức của con người có tên là ABC. Trong đó, A- Sự kiện gây tác động (activating event), B-Niềm tin (belief), và C-Hậu quả đối với cảm xúc và hành vi của con người (emotional and behavioral consequence).



Bản thân những vấn đề, sự kiện (A) không trực tiếp gây ra những hậu qủa trực tiếp đối với cảm xúc và hành vi của con người, mà chính do những niềm tin, cách lý giải của mỗi con người về những vấn đề, sự kiện đã tác động đến cảm xúc tiêu cực và dẫn đến hành vi không phù hợp.



Từ việc phát hiện ra mối liên kết này, những nhà trị liệu theo trường phái nhận thức hành vi đưa ra mô hình can thiệp có tên là ABCDEF. Trong đó D – là sự can thiệp và quá trình suy nghĩ, làm thay đổi những suy nghĩ thiếu lô gích (disputing intervention), E là tác động (effect), và F- là những cảm xúc mới (new feelings).



Hỗ trợ cho việc can thiệp và giúp cho con người có nhiều suy nghĩ hợp lý hơn, trường phái nhận thức hành vi còn giúp cho mỗi người học cách chấp nhận bản thân vô điều kiện (Unconditional Self-Acceptance- USA) và chấp nhận người khác vô điều kiện (UOA-Unconditional Other Acceptance). Điều này giúp cho con người dễ dàng tha thứ cho bản thân, người khác, không tự đổ lỗi cho mình trước những thất bại, đồng thời có thể đặt ra cho mình những mục tiêu thực tế.



Để chứng minh cho mô hình can thiệp trên, Ellis đã chỉ ra một suy nghĩ tự động làm mọi người rất đau khổ và khó chấp nhận đó là “mình phải được yêu thương và chấp nhận bởi những người quan trọng trong cuộc sống”, khi bản thân không có được điều này sẽ gây ra những thù hận, oán trách, mong muốn làm hài lòng người khác….Ellis đã tự giúp cho chính bản thân ông cũng như nhiều người hiểu rằng những người quan trọng của mình cũng có thể không yêu mình như mình mong muốn, mình phải chấp nhận điều đó.



Những người tham gia trị liệu bằng nhận thức hành vi cần sự thành thực với bản thân, có khả năng suy nghĩ, và phải làm rất nhiều bài tập về nhà, chủ yếu là những bài tập có sự trải nghiệm. Tuy nhiên, thời gian tham gia trị liệu theo nhận thức hành vi rất ngắn, thường gói gọn tối đa trong 6 buổi làm việc (1 tuần/buổi)



Áp dụng trong việc hỗ trợ người nghiện rượu, ma túy



Từ khi ra đời đến nay, liệu pháp nhận thức hành vi đã được áp dụng rất nhiều trong việc hỗ trợ những người bị rối loạn cảm xúc (trầm cảm, sợ hãi, tức giận), những người gặp khó khăn trong mối quan hệ với người khác, và đặc biệt có hiệu quả với những người nghiện chất (rượu, ma túy).



Với những người sử dụng chất gây nghiện lần đầu hoặc sử dụng không thường xuyên, khi bị cảnh sát bắt giữ, thay cho việc gửi những người này vào nơi điều trị nghiện hoặc nhà tù, họ được chuyển đến một nơi có tên gọi là “chuyển làn”, đây chính là một chương trình giáo dục giúp thay đổi suy nghĩ và hành vi trong một thời gian nhất định.



Trong thời gian đó, sự hỗ trợ của các nhà giáo dục, tư vấn…giúp cho người sử dụng chất gây nghiện chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống cá nhân, lý do của việc sử dụng chất gây nghiện, mối quan hệ với những người xung quanh, và tất nhiên, cả những “kiểu suy nghĩ” đặc trưng của mỗi người.



Những người sử dụng chất gây nghiện trong giai đoạn này được coi như “khách hàng”, một người được đi đào tạo và nhiệm vụ của họ là hợp tác, tuân thủ chương trình đào tạo dành cho mình. Thời gian tham gia chương trình này sẽ do bản thân người sử dụng chất gây nghiện và cán bộ tư vấn, trị liệu xác định, nhưng thường kéo dài từ 1-3 tháng.



Đối với những người nghiện được đưa vào các cơ sở điều trị hoặc vào tù, để giúp cho họ thích nghi với cuộc sống bên ngoài sau thời gian cai nghiện hoặc hết hạn tù, họ được tham gia một một chương trình miễn phí gọi là Chuẩn bị hòa nhập. Lúc này liệu pháp nhận thức hành vi được sử dụng như một liệu pháp hỗ trợ tích cực giúp cho những người tham gia hiểu về bản thân nhiều hơn, chuẩn bị ứng phó với những thay đổi mới

 

Việc áp dụng liệu pháp nhận thức hành vi cho những người nghiện chất trong chương trình này không chỉ được điều trị về việc nghiện chất, mà còn tạo điều kiện để những người nghiện “tự giáo dục các suy nghĩ”, học cách tập trung thay đổi suy nghĩ của bản thân, tập trung vào những vấn đề cần giải quyết trong cuộc sống thay cho những suy nghĩ tiêu cực, tự đổ lỗi, mong muốn trả thù…



Theo báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, hiện con số người nghiện ma túy được quản lý ở Việt Nam vào khoảng 180.000 người, chưa kể những người mới sử dụng. Với nhiều thay đổi về mặt quan điểm, chính sách đối với người nghiện chất nói chung và người sử dụng ma túy nói riêng, chúng ta đang trên con đường chuyển đổi từ việc đưa người sử dụng ma túy vào trại tập trung sang hình thức cai nghiện tự nguyện dựa vào cộng đồng với nhiều chương trình điều trị phù hợp.



Để việc điều trị cho người nghiện chất được hiệu quả hơn, cũng như việc áp dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau trong hỗ trợ người nghiện trong tương lai ở Việt Nam, chúng ta cần tạo điều kiện để quá trình đào tạo, trị liệu, giáo dục được lồng nghép trong tất cả các bước hỗ trợ người cai nghiện chất, tập trung vào các chương trình đào tạo mang tính ứng dụng cao cho những nhà tư vấn, trị liệu, khuyến khích những mô hình thử nghiệm hỗ trợ người nghiện và tạo điều kiện cho các tổ chức chuyên môn cùng tham gia.



Điển hình, từ năm 2009-2012, trong khuôn khổ của một cấu phần dự án HIV/AIDS nơi làm việc mang tên Chuẩn bị trước khi đi làm, dành cho những nhóm dễ bị tổn thương trong đó có người đã từng sử dụng ma túy, những tư vấn viên việc làm của Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến phát triển Cộng đồng (SCDI) đã thử nghiệm đưa những kỹ thuật liệu pháp nhận thức hành vi trong quá trình đào tạo và tư vấn.



Trong quá trình đào tạo về nhận thức bản thân, tư vấn viên đã lựa chọn những suy nghĩ phổ biến và gây ra những cảm xúc tiêu cực cho người sử dụng ma túy như: Sử dụng ma túy là một điều xấu xa, người nghiện ma túy là những người không tốt, Những người sử dụng ma túy rất khó tìm kiếm việc làm…để cùng những người dùng ma túy thực hành cách thay thế những suy nghĩ có ích hơn.



Những người sử dụng ma túy đã chia sẻ những cảm giác bất lực, xấu hổ, mất hy vọng, thiếu tự tin, tự đổ lỗi cho bản thân…. khi để những suy nghĩ trên “ám ảnh trong đầu”. Người hướng dẫn và các bạn đồng đẳng đã giúp họ thay thế suy nghĩ bằng cách: Dừng suy nghĩ (trong những trường hợp những suy nghĩ tiêu cực trên quá ảm ảnh quá nặng) hoặc thay thế suy nghĩ (ví dụ, sử dụng ma túy là một điều không tốt cho sức khỏe, nhưng điều đó không có nghĩa những người sử dụng ma túy là người không tốt; mọi người thường nghĩ những người sử dụng ma túy rất khó kiếm việc làm, nhưng trên thực tế có nhiều người đã tìm được việc làm)…



Sau khi được tham gia thực hành bài tập, những người sử dụng ma túy đều chia sẻ một tâm trạng thoái mái, dễ chịu và cởi mở hơn khi nói về vấn đề của mình. Việc tích cực hơn. Tuy nhiên, đây là một hoạt động mang tính lồng nghép và thử nghiệm nên không có điều kiện để áp dụng cho nhiều người và chỉ giới hạn trong khoảng thời gian nhất định.

 

Mai Thị Việt Thắng

Nguồn tiengchuong.vn

MÔ HÌNH TRỊ LIỆU NHẬN THỨC – HÀNH VI

swvn.blogspot.com

MÔ HÌNH TRỊ LIỆU NHẬN THỨC – HÀNH VI

Mô hình can thiệp trị liệu nhận thức- hành vi trên thế giới 



Trong các mô hình can thiệp trị liệu trên thế giới, chúng được chia ra những hợp phần: tâm lý trị liệu, các kỹ thuật ứng dụng, dùng thuốc. Những hợp phần này có sự liên kết với nhau. 



Tâm lý trị liệu 



Các tư liệu về trị liệu nhận thức đã phát triển theo cấp số nhân trong những thập kỷ qua. Có gốc rễ từ công trình của Aaron Beck trong việc trị liệu trầm cảm (Beck, 1972, 1976), phương pháp trị liệu nhận thức hiện đại đã trở thành mô hình được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực tâm lý trị liệu và tâm bệnh học và đã được áp dụng trong nhiều vấn đề, các nhóm thân chủ và các hoàn cảnh trị liệu khác nhau. Mô hình cơ bản đã được thích ứng ở nhiều nền văn hóa một cách dễ dàng. Các nhà trị liệu ở Thụy Điển cũng như ở Trung Quốc xác định có những quan tâm và phát triển trị liệu nhận thức như là một mô hình thích hợp với các đặc trưng của các quốc gia này. Đây là một thực tế khá lý thú, vì đây là hai nước có nền văn hoá rất khác nhau. Các cách tiếp cận nhận thức dường như được ứng dụng xuyên văn hoá vì chúng tập trung vào diễn tiến và đặt nền tảng trên hiện tượng học (phenomenologically based). Mô hình này tôn trọng thực tế cho rằng những niềm tin tiềm tàng đặc thù, có thể được chia sẻ bởi những người thuộc những nền văn hoá riêng biệt và có sự khác biệt xuyên văn hoá đáng kể về những niềm tin này. 



Giống như các nhà tâm lý trị liệu phân tâm, nhà trị liệu nhận thức xác nhận sự quan trọng của những đối thoại bên trong và những động cơ từ bên trong (internal dialogues and motivations). Nhà trị liệu nhận thức làm việc để giúp thân chủ nói ra những điều chưa được nói, dù rằng họ vẫn cố gắng tránh dùng các ẩn dụ về sự đè nén các bản năng và quan niệm về việc hành vi chịu sự chi phối bởi các yếu tố bên trong gây lo âu, đè nén. Họ cũng cố gắng phát hiện và thay đổi các niềm tin cùng các thái độ tạo nên sự đau khổ mà thân chủ không tự nhận biết được. 



Sự phát triển của trị liệu nhận thức như là một mô hình xử lý thông tin trong các rối loạn lâm sàng đã được phát triển trong những năm 1970, vì những kỹ thuật trị liệu đặt nền tảng trên các mô hình được điều hòa bởi nhận thức được đề nghị và vì các kết quả nghiên cứu trị liệu chứng minh tính hiệu năng của các kỹ thuật đã được công bố. 



Bandura (1969, 1977a, 1977b) là tác giả được biết đến nhiều nhất trong việc phát triển mô hình học tập xã hội của chứng lo âu và tính gay hấn, và ông đã phát hiện ra tầm quan trọng trung tâm của sự nhận biết về “hiệu năng của bản thân” (self-efficacy) hoặc năng lực cá nhân trong việc hướng dẫn hành vi con người. Trong việc tái công thức hóa học thuyết hành vi cổ điển, một số tác giả cho rằng hành vi con người không chỉ được dàn xếp bởi các yếu tố môi trường và yếu tố ngẫu nhiên mà do các yếu tố niềm tin và tri giác của cá nhân đó. 



Mô hình ABC rất thông dụng hiện nay để miêu tả sự quan hệ giữa “sự kiện đi trước” (Antecedent events), “niềm tin” (Beliefs), “hành vi” (Behavior) và “hậu quả” (Consequenses) ở mỗi cá nhân được đề nghị bởi Albert Ellis (1962, 1979, 1985) đã gợi ý rằng những hành vi kém thích nghi hoặc các chứng nhiễu tâm là có liên quan trực tiếp đến những niềm tin phi lý của một con người đối với những biến cố trong cuộc sống của họ. Ellis đã phát triển một hệ thống các kiểu thức lệch lạc hoặc sai lầm thường thấy về mặt nhận thức đồng thời phát triển một số kỹ thuật trị liệu có hướng dẫn để thay đổi chúng. Mô hình của ông cho rằng bằng cách phát hiện và thay đổi các niềm tin phi lý hoặc không thực tế có thể dẫn đến sự thay đổi các phản ứng cảm xúc và hành vi trước các sự kiện. Bởi vì những niềm tin phi lý thường khá kiên định và có tính chất lâu đời. 



Seligman (1974, 1975) cho rằng cá nhân bị trầm cảm khi họ tin rằng họ không thể kiểm soát các kết quả quan trọng trong đời sống của họ (bao gồm cả các sự kiện tích cực lẫn các sự kiện tiêu cực hay trừng phạt). Mô hình trầm cảm “học được sự tuyệt vọng” (learned-helplessness), sau khi được cải biên bởi các tác giả Abramson, Seligman và Teasdale (1978), đã tạo nên sự quan tâm nghiên cứu thực nghiệm và gợi ý rằng sự qui lỗi bởi các thân chủ trầm cảm về nguyên nhân các sự cố trên có thể là mục tiêu quan trọng của việc trị liệu . 



Rehn (1977) đã đề nghị một mô hình nhận thức – hành vi về trầm cảm tập trung vào các thiếu sót trong việc “điều hòa bản thân” (self-regulation). Đặc biệt, tác giả cho rằng các thân chủ trầm cảm biểu hiện sự kém cỏi trong việc tự quản lý bản thân mình (họ tham dự một cách chọn lọc vào các sự kiện tiêu cực và muốn có các hiệu quả tức thì thay vì chờ đợi những kết quả lâu dài từ các hành vi của mình) và họ cũng yếu kém trong khả năng tự đánh giá bản thân (họ thường chỉ trích bản thân quá đáng và có khuynh hướng đổ lỗi một cách không thích đáng về trách nhiệm của họ đối với các sự kiện tiêu cực) cũng như yếu kém trong khả năng tự củng cố bản thân (self-reinforcement) (họ không có khuynh hướng khen thưởng cho các thành công của mình và trừng phạt mình quá lố khi không đạt được các mục tiêu). Mô hình của Rehn là sự phát triển các mô hình ban đầu về điều hòa hành vi bản thân (Kanfer, 1971) và có ích lợi lâm sàng với các vấn đề hành vi nhận thức đặc thù được trải nghiệm bởi các thân chủ trầm cảm (Fuchs & Rehn, 1977). 



Kỹ thuật 



Một số lớn những kỹ thuật nhận thức và hành vi có thể được dùng để phát hiện và sau đó đặt câu hỏi về lệch lạc trong nhận thức và các sơ đồ ẩn bên dưới . Những kỹ thuật này được dạy cho thân chủ để giúp họ đáp ứng một cách lành mạnh hơn. Sự phối hợp đúng đắn các kỹ thuật nhận thức và hành vi sẽ tuỳ thuộc vào khả năng của thân chủ, kỹ năng của nhà trị liệu, mức độ bệnh lý và các mục tiêu trị liệu đặc hiệu. Ví dụ: khi làm việc với các thân chủ liệt giường, những mục tiêu ban đầu của trị liệu có thể tập trung giúp đỡ thân chủ thực hiện các công việc tự chăm sóc và việc phân tích công việc cần huấn luyện thành những bước nhỏ với độ khó tăng dần có thể đạt thành công tốt hơn. Bắt đầu với các công việc ít khó khăn nhất, sau đó tiến dần từng bước sang các công việc khó khăn hơn sẽ giúp cho thân chủ ý thức được sự thành công của mình nhiều hơn. 



Trị liệu bằng thuốc 



Trị liệu bằng thuốc có thể là một phần trợ lực quan trọng trong chương trình trị liệu. Ngược với các điều tin tưởng thông thường, trị liệu nhận thức và trị liệu bằng hóa dược không loại trừ lẫn nhau, mà có thể phối hợp với nhau trong một chương trình trị liệu (Wright & Schrodt, 1989; Wright, 1987, 1992). Ngoài giá trị thay đổi các suy nghĩ không lành mạnh và hành vi kém thích ứng, đã tạo cho thân chủ cảm giác buồn rầu, lo âu, giận dữ, trị liệu nhận thức còn có thể sử dụng để phát triển và thay đổi các niềm tin không tốt đẹp về thuốc men.. Ngoài ra, như tác giả Wright (1992) nhận xét, trị liệu nhận thức có thể trang bị cho thân chủ các kỹ thuật giải quyết vấn đề, giúp phát triển sự hoạt động tâm lý xã hội tốt hơn và có thể giảm nguy cơ không lệ thuộc vào chương trình trị liệu thuốc men lâu dài. 



Kinh nghiệm lâm sàng cho thấy rằng trị liệu bằng thuốc có thể ích lợi trong việc giảm bớt các triệu chứng sinh học của trầm cảm, như mất ngủ, mệt nhọc và kém tập trung và như vậy có thể giúp các thân chủ trầm cảm nặng tham gia tích cực hơn trong quá trình trị liệu. Tuy nhiên, cơ chế dẫn đến sự thay đổi do trị liệu bằng thuốc men vẫn chưa được hiểu hết. Đối với các thân chủ hưng trầm cảm và loạn thần, thường phải sử dụng kết hợp thuốc men và tâm lý trị liệu nếu thân chủ không đáp ứng với các can thiệp hành vi hoặc bằng lời nói. 



Mô hình trị liệu nhận thức- hành vi trong CTXH cá nhân 



– Đây là sự tích hợp của nhiều nhà thực hành hiện đại như thuyết giải mẫn cảm hệ thống của Wolpe; trị liệu cảm xúc thuần lý của Ellis; hiện tượng cảm xúc của Lazarus, Cautela, Mahoney; sự thay đổi hành vi nhận thức của Meichenbaum… 



– Thuyết nhận thức – hành vi là cơ sở giúp đối tượng giảm hành vi không phù hợp và tăng cường hành vi đúng đắn. Từ đó đem lại cho đối tượng cảm giác đúng đắn về bản thân và giúp họ tương tác một cách hài hòa về môi trường xung quanh. 



– Một trong những mốc phát triển quan trọng của việc ứng dụng thuyết này là việc áp dụng của nhà tâm lý học Glasser trong làm việc với đối tượng có hành vi lệch chuẩn và áp dụng của nhà tâm lý Gambrill trong cách trị liệu với trẻ em bị lạm dụng, sau này trị liệu nhận thức – hành vi được tiếp tục nghiên cứu và áp dụng có hiệu quả cả trong lĩnh vực tâm thần. 



– Tiếp theo đó một số nhà nghiên cứu và thực hành công tác xã hội đã bổ sung thêm một số luận điểm về quyền con người và tính nhân văn vào lý thuyết nhận thức – hành vi CTXH. Trong đó khẳng định, NVCTXH khi làm việc với đối tượng cần công nhận quá trình tâm lý là yếu tố tự nó của con người và bản thân đối tượng có quyền thay đổi và điều khiển suy nghĩ của mình một cách cá nhân. NVCTXH cố gắng nhìn nhận và thấu hiểu được chuỗi tiến trình tâm lý diễn ra ở đối tượng và những người có liên quan để từ đó chấp nhận và thấu hiểu cách đối tượng nhìn nhận thế giới. 



– NVXH cùng với TC nhận định được nguồn gốc của hành vi lệch lạc (do suy nghĩ sai lạc, nhận thức sai lầm và gán nhãn nhầm cả từ tâm trạng ở trong ra đến ngoài hành vi bên ngoài do đó gây nên những niềm tin, hình tượng, đối thoại nội tâm tiêu cực dẫn đến hành vi sai lầm) 



=> TC có thể học hỏi để tập trung nghĩ về việc phát triển nhận thức, củng cố nhận thức, thích nghi môi trường để sửa đổi hành vi. 



Ví dụ: một NVCTXH trợ giúp cho TC: ban đầu TC chỉ nói những câu như “ tôi thực sự chán ghét cuộc sống này” thì NVXH bằng mô hình trị liệu này có thể nhận thấy suy nghĩ của TC đang có vấn đề. NVCTXH: “ anh (chị) hãy kể cho tôi nghe những gì muốn diễn đạt khi a(chị) dùng từ chán ghét”. Từ đó NVXH hiểu lý do dẫn đến TC có suy nghĩ tiêu cực như vậy. Khi đã tạo niềm tin và hiểu về TC, NVCTXH nên tôn trọng nhận thức của TC, cùng xác định vấn đề, xây dựng kế hoạch và thực hiện đạt mục tiêu đặt ra. Ban đâu, TC xử sự một cách chủ động tránh lặp lại những tình huống trước đây đã tạo ra hành vi và sửa đổi các tình huống nhờ thực hành nhận thức và điều chỉnh hành vi. 



– Trong CTXH khi áp dụng mô hình trị liệu này, NVCTXH cùng TC nên lập sẵn kế hoạch nhằm tập luyện và củng cố khi gặp tình huống bất ngờ. 



– NVXH có thể áp dụng các chiến lược hành vi là sự mô hình hóa minh họa cho những đáp ứng tích cực hoặc bật mý cho TC biết cách thức đáp ứng tích cực mà TC khao khát học hỏi, có thể lấy video làm minh họa để TC học tập, diễn tập.

CHƯƠNG TRÌNH ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHIỆN NHÓM MA TÚY DẠNG KÍCH THÍCH

CHƯƠNG TRÌNH ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHIỆN  NHÓM MA TÚY DẠNG KÍCH THÍCH

MÔ TẢ CHƯƠNG TRÌNH

Chương trình điều trị ngoại trú tập trung Matrix (Intensive Outpatient Program – IOP) để điều trị lạm dụng chất kích thích trong thời gian 16 tuần, là một mô hình điều trị theo cấu trúc được thiết kế nhằm cung cấp cho những người lạm dụng chất kích thích hệ thống kiến thức và hỗ trợ giúp họ có thể đạt được mục tiêu dừng không sử dụng ma tuý, chất cồn để bắt đầu một quá trình phục hồi trong một thời gian dài. Chương trình sử dụng các tài liệu đã được phát triển và đánh giá trong chương trình nghiên cứu của Trung tâm Matrix từ năm 1984. Các tài liệu cho chương trình điều trị ngoại trú tập trung này được điều chỉnh từ Mô hình Matrix trong điều trị lạm dụng chất kích thích bằng thuốc an thần, Mô hình Matrix trong điều trị lạm dụng chất cồn và có chứa cồn, Mô hình Matrix trong điều trị nghiện các chất dạng opiat bằng Naltrexone và Chương trình điều trị ngoại trú tập trung Matrix trong điều trị các rối loạn liên quan đến lạm dụng và lệ thuộc chất gây nghiện trong 16 tuần.

Bản in xuất bản lần này của tài liệu được thiết kế nhằm giải quyết một cách cụ thể các vấn đề hầu hết gặp phải của của các bệnh nhân lệ thuộc chất kích thích, mà cụ thể là lệ thuộc methaphetamine và cocaine. Các tài liệu được xây dựng thành dạng chương trình thực nghiệm tập trung trong thời gian 16 tuần và sau đó sẽ là các can thiệp chăm sóc sau cai được thực hiện hàng tuần. Đây là chương trình có sự khác biệt với mô hình tập trung 16 tuần trước đó – mô hình mà đã được phát triển để áp dụng cho những bệnh nhân đang được điều trị lệ thuộc rượu và tất cả các loại ma tuý khác.  Cả hai chương trình này đều khác với các mô hình điều trị 6 tháng mà trong đó thời gian số tuần được giảm từ 24 xuống còn 16 và nhiều tài liệu trước đây được sử dụng trong các buổi sinh hoạt cá nhân nay được đưa vào các buổi sinh hoạt nhóm.

Ba (3) buổi sinh hoạt cá nhân được thiết kế nhằm: (1) định hướng cho người bệnh, và khi có thể, các thành viên gia đình cũng có thể được mong đợi sẽ tham gia chương trình Matrix, hoàn thiện việc thu thập tài liệu thông tin mang tính hành chính và thiết lập mối quan hệ tốt đẹp với người bệnh để khuyến khích việc họ tham gia điều trị; (2) thưc hiện việc xem xét, đánh giá sự tiến bộ tại thời điểm khoảng 30 – 45 ngày sau khi tiếp nhận hoặc đối phó với một tình trạng khủng hoảng đòi hỏi phải có một buổi tiếp xúc với cá nhân; (3) giúp đỡ người bệnh xây dựng kế hoạch điều trị, chăm sóc liên tục phù hợp với lượng chuyên môn hỗ trợ và các hỗ trợ tự giúp đỡ cần thiết cho một quá trình phục hồi trong thời gian dài. Hiếm khi đó là một trường hợp cấp bách về y xảy ra trong một buổi sinh hoạt lồng ghép. Trong những tình huống đó, một trong số các buổi sinh hoạt cá nhân có thể dành thời gian để thực hiện một buổi gặp gỡ, tư vấn như vậy. Và chủ đề cơ bản của buổi can thiệp cá nhân đó vẫn cần được giải quyết.

Phần Nhóm các kỹ năng phục hồi ban đầu gồm 8 buổi sinh hoạt nhóm, mỗi buổi được thực hiện trong vòng 1 giờ và được thực hiện trong suốt tháng điều trị đầu tiên. Trong các buổi sinh hoạt nhóm này, người bệnh nhận được nhiều kỹ năng cơ bản mà họ cần để ổn định trong giai đoạn ban đầu. Trong buổi sinh hoạt nhóm về các kỹ năng phục hồi ban đầu, người bệnh sẽ được giới thiệu về phương pháp tham gia 12 bước và củng cố gá trị của sự tham gia 12 bước.

Tất cả người bệnh và thành viên gia đình của họ đều tham dự Nhóm giáo dục gia đình trong một thời gian là 12 tuần. Vì đây là một trong những thành tố của chương trình đòi hỏi có sự tham gia thường xuyên của các thành viên gia đình, nên các nhóm như thế này được thiết kế có sự tương tác qua lại nhằm cho phép trưởng nhóm có thể bao quát được các vấn đề trọng tâm nhất đối với cả người bệnh và các thành viên gia đình họ.

Phần Nhóm dự phòng tái nghiện là thành tố trung tâm của mô hình điều này. 16 tuần tham gia nhóm dự phòng tái nghiện được thiết kế nhằm cung cấp thông tin, hỗ trợ và tạo sự thân thiện cho người bệnh để họ thực hiện được hết quá trình phục hồi. Hợp phần này là phần trung tâm của tất cả các chương trình điều trị theo mô hình Matrix.

Phần Nhóm hỗ trợ xã hội được thiết kế nhằm giúp đỡ người nghiện trong quá trình học tập các kỹ năng tái hoà nhập xã hội trong một môi trường an toàn và thân thiện.

Tất cả các mô hình điều trị Matrix đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng đặc biệt của việc tận dụng các chương trình 12 bước trong giai đoạn điều trị tập trung ban đầu nhằm cung cấp sự hỗ trợ tiếp tục cho quá trình phục hồi khi giai đoạn tập trung trong chương trình điều trị kết thúc. Trong khi thực hiện vừa cần thận trọng không để bệnh nhân bở dở quá trình điều trị đối với những người ban đầu không nhận thấy được nhu cầu phải đến các buổi gặp gỡ sinh hoạt, thì điều quan trọng nữa là phải truyền cho người bệnh mong muốn và hy vọng rằng việc làm quen được với các chương trình 12 bước chính là một phần thiết yếu trong điều trị bằng mô hình này. Trong bố cục chương trình này có rất ít các buổi sinh hoạt, tiếp xúc cá nhân. Chính vì vậy, sự can dự của một người giám hộ trong chương trình 12 bước là cực kỳ quan trọng. Các trường hợp thành công nhất đều dựa chủ yếu vào các chương trình 12 bước để hỗ trợ và nuôi dưỡng tinh thần.

 

 

KẾ HOẠCH THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH

 

Bảng dưới đây là một kế hoạch mẫu của Chương trình điều trị ngoại trú tập trung IOP Matrix:

Kế hoạch thực hiện Chương trình điều trị ngoại trú tập trung

Tuần

Thứ 2

Thứ 3

Thứ 4

Thứ 5

Thứ 6

Thứ bảy & Chủ nhật

Các tuần từ 1 đến 4

6.00-7.00 sáng

Các kỹ năng phục hồi ban đầu

7.00-8.30 tối

Dự phòng tái nghiện

 

 

7.00-8.30 tối

Nhóm giáo dục gia đình

 

6.00-7.00 sáng

Các kỹ năng phục hồi ban đầu

 

7.00-8.30 tối

Dự phòng tái nghiện

Gặp gỡ 12 bước và các hoạt động phục hồi khác

Các tuần từ 5 đến 16

7.00-8.30 tối

Nhóm dự phòng tái nghiện

Gặp gỡ 12 bước

7.00-8.30 tối

Nhóm giáo dục gia đình hoặc Hỗ trợ xã hội

 

Gặp gỡ 12 bước

7.00-8.30 tối

Nhóm dự phòng tái nghiện

Các tuần từ 17 đến 52

 

 

7.00-8.30 tối

Hỗ trợ xã hội

 

 

Xét nghiệm nước tiểu và xét nghiệm cồn trong hơi thở được tiến hành hàng tuần

03 buổi tiếp xúc cá nhân trong thời gian 16 tuần đầu tiên

 

 

 

 

1. CÁC BUỔI TRỊ LIỆU CÁ NHÂN/CÁC BUỔI LỒNG GHÉP

 

 

Triết lý

Trong mô hình điều trị Matrix, mối quan hệ giữa người tư vấn và người bệnh là động lực điều trị cơ bản. Mỗi người bệnh có một một người tư vấn chính riêng, người này quyết định khi nào thì cần đưa các phần khác nhau vào trong chương trình điều trị và người này cũng có trách nhiệm lồng ghép các tài liệu từ nhiều dạng nhóm khác nhau vào trong để trở thành một quá trình điều trị một cách phối hợp cho người bệnh. Người tư vấn cần phải quen với các tài liệu hiện tại đang được sử dụng cho người bệnh trong hợp phần giáo dục và người tư vấn cũng cần khuyến khích, củng cố và thảo luận về các tài liệu sẽ được nêu ra sử dụng trong một buổi gặp gỡ một – một (AA). Người tư vấn cần có khả năng ứng dụng các tư tưởng, khái niệm từ mô hình Matrix với các tài liệu AA , cũng như với điều trị trị liệu tâm lý hay tác động tâm lý cho người bệnh, người hiện đang trong qúa trình trị liệu. Người tư vấn, bằng việc mở rộng chương trình, cần không bao giờ được để xảy ra xung đột trong các can thiệp cán nhân một – một (AA) hoặc xung đột với sự tham gia của các chuyên gia khác. Nếu xảy ra xung đột giữa các khuyến nghị của chương trình đưa ra với một chương trình hoặc một người cung cấp hỗ trợ nào khác, thì cần liên hệ với cán bộ chuyên môn. Không

 

bao giờ đặt người bệnh vào trung tâm của sự xung đột giữa các khuyến nghị của hai chuyên gia tư vấn hoặc hai chương trình khác nhau.

Tóm lại, người tư vấn điều phối tất cả các phần trong chương trình điều trị. Sử dụng các phần này, người tư vấn xây dựng nên một khung chương trình hoạt động, điều này sẽ hỗ trợ người bệnh trong suốt qúa trình phục hồi. Tất cả các phần này đều cần phải ăn khớp với nhau. Người bệnh cần biết chắc chắn rằng người tư vấn có thể nhận thức được tất cả các khía cạnh liên quan đến qúa trình điều trị của anh ta/chị ta. Hãy nhớ rằng những người nghiện tham gia điều trị là những người mất khả năng kiểm soát. Họ đang mong đợi chương trình sẽ giúp họ lấy lại được khả năng kiểm soát của mình. Nếu như chương trình tỏ ra là một chuỗi các phần không có sự liên quan với nhau và giữa các phần không thể lồng ghép được, thì người nghiện sẽ không thể cảm thấy là chương trình đó có thể giúp họ lấy lại được sự kiểm soát. Điều này dẫn đến việc điều trị không thành công và/hoặc nóng vội để đạt kết quả điều trị.

Người tư vấn cần tập trung vào sự cân bằng giữa cả các buổi tiếp xúc cá nhân và các buổi sinh hoạt nhóm bằng cách sử dụng tài liệu viết mà vẫn cho người bệnh có đủ thời gian để thảo luận, trao đổi về các vấn đề khác. Nếu quá dựa vào tài liệu viết sẽ khiến cho người bệnh cảm thấy không quan trọng và không được coi trọng. Việc áp dụng máy móc tài liệu viết sẽ ảnh hưởng đến việc phát triển mối quan hệ tốt đẹp giữa người bệnh và người trị liệu, đồng thời người bệnh sẽ cảm thấy là người trị liệu như một người cung cấp thông tin vô cảm. Ngược lại, đối với một số người, nếu được cho phép, sẽ hoàn toàn tự xây dựng được lịch trình điều trị cho mình. Thông thường, tài liệu mà họ muốn thảo luận có thể nhận thức như là những vấn đề cấp bách mang tính tạo động cơ về mặt tinh thần (ví dụ như “Tôi cần nắm bắt được gốc rễ của vấn đề”); hoặc được định hướng đến một ai đó cũng đang có vấn đề như vậy (“Liệu mối quan hệ này có cải thiện không nếu như tôi không gặp vấn đề như vậy”) hoặc hướng dẫn cho người trị liệu thoát khỏi các vấn đề quan trọng (“Chúng ta hãy đừng nói về chuyện rượu bia nữa. Vì đó chẳng phải là một vấn đề”). Cho phép người bệnh kiểm soát quá nhiều trong việc đặt lịch cho các buổi tiếp xúc cá nhân có thể dẫn đến kết quả là những tài liệu quan trọng bị gạt đi, không được thảo luận đến. Các khái niệm có tính chỉ trích, phê phán quan điểm cho rằng người nghiện có khả năng đạt được việc không sử dụng cũng cần phải được đưa vào trao đổi với người bệnh. Quá trình điều trị bằng mô hình Matrix sẽ cung cấp cho người bệnh một bộ công cụ nhằm giải quyết một cách hiệu quả các vấn đề liên quan đến sử dụng ma tuý. Việc để rơi vào việc tư vấn không có kết thúc sẽ làm lỡ việc cung cấp cho người bệnh một phần trong điều trị lệ thuộc là dùng thuốc một cách phù hợp, có hệ thống.

Vấn đề cuối cùng trong việc tiến hành thực hiện các buổi tiếp xúc cá nhân như là một phần trong chương trình trị liệu an thần là vệc khó xác định nhất và cũng là vấn đề quan trọng nhất. Điều này liên quan đến việc phát triển mối quan hệ tốt đẹp góp phần trong trị liệu giữa người tư vấn và người bệnh. Mối quan hệ hình thành và phát triển giữa người tư vấn và người bệnh là thành tố quan trọng nhất trong mô hình điều trị Matrix. Gerald Corey đã nêu như vậy trong tài liệu “Lý thuyết và thực tiễn của tư vấn và trị liệu tâm lý” (1982).

“Mức độ quan tâm, chăm sóc và khả năng giúp đỡ khách hàng cũng như sự chân thành của các nhà trị liệu là những yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa người bệnh và nhà trị liệu. Khách hàng cũng góp phần làm nên mối quan hệ khác nhau căn cứ trên động cơ, sự hợp tác, sự quan tâm, mức độ lo lắng, thái độ, sự nhận thức, mong đợi, hành vi và phản ứng của khách hàng đối với nhà trị liệu. Tư vấn hay trị liệu tâm lý là một vấn đề mang tính cá nhân liên quan đến một mối quan hệ cá nhân cụ thể, và bằng chứng đã chỉ ra rằng sự trung thành, chân thật, tin tưởng, nhiệt tình, hiểu biết, và sự tự nhiên trong giao tiếp là những yếu tố cơ bản giúp có được những kết quả điều trị thành công”.

Patterson (năm 1973) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của mối quan hệ mang tính trị liệu, ông này cho rằng các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra là nhân tố hiệu quả trong trị liẹu chính là mối quan hệ giữa người bệnh và người trị liệu. Ông này cũng đưa ra quan điểm cho rằng người trị liệu cần làm thực hiện vai trò như như một người củng cố, có như vậy thì sự tôn trọng và quan tâm của người trị liệu đối với người bệnh mới trở thành yếu tố có trọng lượng, có khả năng tác động đến hành vi của người bệnh. Người trị liệu cũng cung cấp một mẫu hình thế nào là một mối quan hệ cá nhân tốt đẹp để giúp người bệnh có thể dùng mối quan hệ đó xây dựng mối quan hệ của chính mình. Patterson chỉ rõ rằng trị liệu không thể là đơn thuần trị liệu y tế, và rằng qúa trình đó không thể đơn thuần chỉ là vấn đề kỹ thuật mà vấn đề quan hệ con người với con người của người trị liệu mới là điều thiết yếu. Ông này cũng tuyên bố “bằng chứng dường như chỉ ra rằng việc thiết lập một quan hệ tốt đẹp quan người trị liệu và người bệnh chính là thành tố chủ chốt trong tư vấn hay trị liệu tâm lý. Đó là một mối quan hệ mang đặc trưng không phải là nhiều kỹ thuật được nhà trị liệu sử dụng, cũng không phải là nhiều cách thức mà nhà trị liệu sử dụng” (1973, trang 535-536). Truax và Carkhuff (1967) đã ủng hộ quan điểm của Patterson khi cho rằng “Các yếu tố trọng tâm là sự thấu cảm, nhiệt tình và chân thật không phải là đại diện cho “kỹ thuật” của trị liệu tâm lý hay tư vấn, mà đó là những kỹ năng giao tiếp cá nhân mà nhà tư vấn hay nhà trị liệu cần sử dụng trong qúa trình áp dụng “các kỹ thuật” hay “sự hiểu biết chuyên môn” của mình” (trích trang 31).

Vậy những gì là đặc trưng cơ bản của một nhà trị liệu mà có thể dẫn đến tính cách cá nhân tích cực và có thể giúp người bệnh thay đổi hành vi? Truax và Carkhuff (1967, trang 25) đã tìm thấy có 3 (ba) nét tính cách thể hiện trong hầu hết các cách tiếp cận mang tính trị liệu chủ yếu là: sự thấu cảm xác đáng, sự nhiệt tình không chủ ý và sự chân thành. Tóm lại, phần lớn các phương pháp tiếp cận mang tính trị liệu đều nhấn mạnh về tầm quan trọng của khả năng của người trị liệu khi thực hiện các hoạt động trị liệu như là một người dễ hoà nhập, chín chắn, trung thực, chân thành, đáng tin cậy, và phù hợp. Người trị liệu cũng là người sẽ mang đến cho người bệnh không khí an toàn, không có sự đe doạ và đáng tin cậy bằng việc thể hiện sự nhiệt tình không chủ ý đối với người bệnh, điều này sẽ giúp họ can dự được sâu hơn và tự khám phá được những điểm chính yếu, nắm được khuôn khổ bên trong sự trải nghiệm của người bệnh, cũng như hiểu được những ý nghĩa của các suy nghĩ, hành vi và trải nghiệm của người bệnh”.

Rõ ràng là những đặc trưng được trích dẫn ở phần trên là quan trọng giúp người trị liệu trong quá trình tư vấn. Tuy nhiên, những điều đó lại càng đặc biệt quan trọng và đặc biệt khó áp dụng đối với những người bệnh là người nghiện. Vấn đề sức khoẻ tinh thần có một tiền sử xấu trong những người nghiện đang được điều trị vì hầu hết các chuyên gia sức khoẻ tinh thần đều không hiểu về tình trạng nghiện. Vì sự thiếu hiểu biết này, hành vi của người nghiện có thể thường mang tính chống đối lại tư vấn viên. Nhiều người nghiện đi đến chỗ ghét việc điều trị, nghi ngờ và chống lại không thực hiện các chỉ dẫn điều trị. Họ thể hiện những hành vi thiếu chín chắn, mang tính tự huỷ hoại bản thân, hấp tấp và chống đối; khi đó công việc của người tư vấn là phải tiếp tục làm việc với họ mà thường ít nhận được lời cảm ơn hay đánh giá cao từ phía người nghiện. Tái nghiện là vấn đề không mong muốn, kết quả thường xuyên xảy ra theo cơ sở bệnh lý học và tác động của tình trạng nghiện đối với vấn đề việc làm, gia đình và các mối quan hệ có thể khiến cho tình tình trở nên bế tắc, không có hy vọng. Cầu nguyện để giải quyết vấn đề, sự mẫu thuẫn trong tư tưởng khi thì yêu quý khi thì ghét bỏ đối với người nghiện và việc nài nỉ để người nghiện có những hành vi hợp tác thường có thể gây khó khăn cho nhà trị liệu để giữ được thái độ tích cực và tập trung vào áp dụng các kỹ thuật điều trị.

Ngoài tất cả những điều nêu trên, còn có một thực tế nữa là người trị liệu trong mô hình điều trị này còn phải phát triển mối quan hệ trị liệu trong bối cảnh làm việc với người bệnh lần đầu tham gia hình thức sinh hoạt nhóm. Những điều có thể dễ dàng xảy ra khi đối phó với một loạt vấn đề khó khăn ở đây chính là việc người trị liệu trở thành người bị lấn át và không được còn sự khích lệ. Điều này có thể dẫn đến sự thiếu kiên nhẫn và sự mất kiên nhân có thể biến thành “người đưa ra những chỉ định” từ đó dẫn đến trở thành “người đưa ra các mệnh lệnh” cho người bệnh.

Người bệnh khi tham gia điều trị cần nhận được sự định hướng và hỗ trợ, chứ không phải là đòi hỏi có một cán bộ giám sát. Nếu quá trình này xảy ra, nhà tư vấn có thể dễ dàng trở thành một quan toà và đánh mất sự khách quan. Nếu người bệnh không thực hiện, người tư vấn sẽ trở nên không còn sự khích lệ; và nếu người tư vấn trở nên nói nhiều điều chướng tai người bệnh hơn, thì người bệnh càng trở nên chống đối nhiều hơn, và toàn bộ tình hình sẽ trở nên tồi tệ hơn. Người tư vấn không bao giờ có thể quên một thực tế rằng chính anh ta là một chuyên gia đang cung cấp một dịch vụ. Trừ khi người tư vấn duy trì được việc tập trung vào cung cấp một dịch vụ chuyên môn điều trị mang tính “thấu cảm, nhiệt tình và chân thành”, giai đoạn điều trị đó chắc chắn sẽ gặp phải một loạt thất bại mà người nghiện phải trải qua. Nếu không phải là giúp đỡ cho người nghiện, thì “điều trị” có thể sẽ làm trầm trọng thêm sự tự coi thường chính bản thân mình của người nghiện.

Mối quan hệ mang tính trị liệu với người tư vấn cung cấp cơ hội cho người bệnh tham gia vào một mối quan hệ an toàn với một con người, người mà sẽ quan tâm, chăm sóc nhiều cho anh ấy/cô ấy. Nghiện là một sự đáp ứng với một loạt các điều kiện do một con người chưa hoàn hảo phải trải qua. Mỗi người bệnh phải được coi trọng và đối xử một cách tôn trọng. Việc tăng cường lòng tự trọng cho người nghiện sẽ không thể đạt được trong một môi trường tiêu cực, đầy phê phán và chỉ trích. Người tư vấn phải cung cấp cho họ niềm hy vọng, sự khích lệ, lòng trắc ẩn, sự hỗ trợ và phải nhìn nhận rằng sinh hoạt nhóm có thể giúp người bệnh có được sự tin tưởng đó. Những phẩm chất này tạo nên công thức hoá học giúp quá trình điều trị bằng mô hình Matrix hoạt động.

Các buổi sinh hoạt lồng ghép thường là phần quan trọng nhằm giữ người bệnh ở lại với chương trình điều trị. Tầm quan trọng của một mối quan hệ ban đầu với người bệnh không thể được đánh giá quá cao.  Điều thiết yếu là hầu hết các thành viên chính trong gia đình hoặc các thành viên khác phải được tham gia vào qúa trình điều trị. Các chuyên gia, những người cố gắng tạo nên những thay đổi mà không cần giải quyết vấn đề với gia đình cuối cùng sẽ khiến quá trình phục hồi của người bệnh trở nên khó khăn hơn nhiều. Do vậy, điều quan trọng đối với người trị liệu là nhận thức được bằng cách nào mà hệ thống gia đình người bệnh có thể được tác động nhờ quá trình phục của người bệnh và làm thế nào để đưa một thành viên quan trọng trong gia đình vào thành một phần tham gia tất cả các phần can thiệp trong bất kỳ thời điểm nào có thể.

Hình thức

Giống như tất cả các thành tố trong chương trình điều trị, việc nhanh chóng, kịp thời bắt đầu thực hiện các phần can thiệp là điều quan trọng. Người trị liệu nên thực hiện mọi nỗ lực có thể tập trung quan sát người bệnh trong vòng 5 phút ngay khi anh ta đến văn phòng tư vấn. Hiển nhiên là sẽ có một số lần khi người bệnh đến sớm hơn giờ hẹn hoặc buổi làm việc với người trước diễn ra hơi lâu khiến người bệnh có thể phải chờ đợi lâu hơn 5phút. Tuy nhiên, điều cần thiết là người bệnh cảm thấy được là chuyến đi gặp gỡ với nhà trị liệu của họ là một phần quan trọng trong ngày làm việc của người trị liệu. Hãy cố gắng thu xếp chỗ những bệnh nhân có vấn đề không đến kịp giờ bằng cách đặt kế hoạch hẹn gặp họ trong những thời gian thuận tiện hơn.

Người trị liệu nên cố gắng ra chào người bệnh ở phòng chờ và dẫn anh ta/chị ta vào phòng làm việc. Nhìn chung nếu một thành viên gia đình người bệnh cũng có mặt ở đó, thì người trị liệu sẽ gặp người bệnh trong nửa đầu của buổi trị liệu và gặp gỡ, trao đổi với người nhà bệnh nhân ở nửa cuối của buổi trị liệu. Cũng nên chào người nhà bệnh nhân cùng với bệnh nhân trước khi tiến hành buổi trị liệu và người trị liệu nên giải thích về quy trình tiến hành buổi trị liệu cho cả bệnh nhân và người nhà của họ. Cần quan tâm để đảm bảo chắc chắn rằng cả bệnh nhân và người nhà của họ đều có cơ hội trình bày các vấn đề cấp bách và không đưa ra các thông tin khiến trạng thái cảm xúc bị thay đổi. Nếu có thông tin cấp bách, ví dụ như việc người bệnh tái nghiện, thì cần phải giải quyết ngay. Nếu mọi chuyện dường như đang diễn ra tốt đẹp, thì người trị liệu nên giới thiệu thông tin về kế hoạch buổi làm việc kế tiếp. Bất kỳ một thay đổi tích cực nào trong hành vi và thái độ của người bệnh cũng đều cần được khuyến khích, củng cố mạnh mẽ. Người trị liệu phải nhấn mạnh để khuyến khích và củng cố sự thay đổi tích cực. Ví dụ, một người bệnh người đã từng làm được một việc tốt là dừng không sử dụng ma tuý và rượu, thì cần xây dựng kế hoạch tiếp tục và chú ý đến những buổi gặp tiếp theo, nhưng nếu là người chưa từng từbỏ được, thì cần được tập trung khích lệ họ cải thiện tình trạng lệ thuộc hiện nay. Dù là như trên đã đề cập người bệnh có thể tìm thấy lợi ích từ việc tập luyện, thì người trị liệu không nên để bị cuốn vào một cuộc tranh cãi về riêng một lĩnh vực nào đó mà có kháng cự của người bệnh.

Mối liên hệ giữa người bệnh và người trị liệu là mối liên hệ quan trọng nhất cần được tạo dựng trong quá trình điều trị. Hãy sử dụng lẽ thường, sự lịch sự nhã nhặn, lòng trắc ẩn và sự tôn trọng trong khi giao tiếp với người bệnh.

Mục đích đối với các buổi tiếp xúc trị liệu cá nhân/ các buổi trị liệu lồng ghép:

1. Cung cấp cho người bệnh và gia đình họ cơ hội để xây dựng mối liên hệ cá nhân với người trị liệu.

2. Cung cấp một môi trường trong đó người bệnh và đình họ có thể giải quyết vượt qua các khủng hoảng, các vấn đề về không khí giao tiếp và đi đến quyết tâm thực hiện quá trình điều trị với một người trị liệu có vai trò như một người hướng dẫn.

3. Cho phép người bệnh thảo luận về vấn đề nghiện của họ một cách cởi mở trong một bối cảnh không có sự phán xét và có sự quan tâm đầy đủ của người trị liệu.

4. Huy động một/nhiều thành viên trong gia đình người bệnh tham gia vào qúa trình điều trị.

5. Mang đến sự củng cố và khích lệ cho người nghiện để có những thay đổi tích cực.

6. Tạo cho người nghiện cảm giác người trị liệu vừa là một người thầy, một người hướng dẫn và cũng là một người biết quan tâm.

 

 

Chỉ dẫn cho người trị liệu

 

Trong chương trình điều trị ngoại trú tập trung theo mô hình Matrix, có 3 buổi can thiệp cá nhân. Trong đó, có 2 buổi được thiết kế nhằm “đặt mục tiêu” cho chương trình điều trị và buổi thứ 3 được sử dụng để tiến hành một đánh giá nhanh về tình trạng tiến bộ của người bệnh, và nhằm giải quyết một khủng hoảng không lường trước được hoặc nhằm phối hợp việc điều trị trong mô hình Matrix với các nguồn điều trị khác. Dù là trong buổi trị nào nào đi nữa, thì người trị liệu vẫn phải tận dụng buổi trị liệu cá nhân đó như là một buổi trị liệu lồng ghép. Các buổi trị liệu cá nhân, dù không phải là một thành tố trung tâm của chương trình điều trị này, vẫn là những sự kiện quan trọng.

Tài liệu phát tay các buổi:

Tài liệu phát tay dùng trong Buổi 1: Thoả thuận và đồng ý dịch vụ

Buổi gặp gỡ ban đầu được thực hiện trước buổi tiếp xúc nhóm đầu tiên, được thiết kế nhằm đảm bảo chắc chắn rằng người bệnh (và gia đình người bệnh khi có thể) có được sự định hướng thích hợp đối với việc điều trị và nhằm tạo cho người bệnh và người nhà của họ một cơ hội được gặp gỡ người trị liệu và nghe giới thiệu về chương trình.

Tài liệu phát tay dùng trong Buổi 2:

  1. Kiểm tra danh sách phục hồi
  2. Sơ đồ phân tích tái nghiện

Buổi gặp thứ 2, thường được tiến hành khoảng 30-45 ngày sau khi bắt đầu tham gia điều trị, được thiết kế nhằm đưa ra một đánh giá về sự tiến bộ của người bệnh, củng cố các hoạt động phục hồi đã bắt đầu thực hiện được cùng với những đề xuất và gợi ý nhằm khuyến khích sự tiến bộ của người bệnh hơn nữa. Buổi này cũng có thể

được sử dụng như một buổi can thiệp giải quyết khủng hoảng hoặc như một buổi giải quyết vấn đề tiếp tục tái nghiện. Khi được sử dụng như một buổi can thiệp giải quyết khủng hoảng, người trị liệu cũng nên cố gắng kết hợp thực hiện được một đánh giá về mức độ tiến bộ của người bệnh đến thời điểm đó.

Tài liệu phát tay dùng trong Buổi 3:

  1. Đánh giá sau điều trị
  2. Kế hoạch Giai đoạn II

Buổi gặp cuối cùng này nhằm xem xét lại sự tiến bộ của người bệnh trong suốt quá trình điều trị và giúp người bệnh xây dựng một kế hoạch chăm sóc sau cai trong đó cung cấp sự hỗ trợ chuyên môn và tự giúp đỡ một cách phù hợp.

Tái nghiện không phải là xảy ra một cách bất ngờ và không dự đoán được. Nhưng đối với khách hàng thì người ta thường cảm thấy là việc tái nghiện xảy ra một cách bất ngờ, không dự doán được. Người trị liệu cần hiểu được bối cảnh của việc tái nghiện nhằm chỉnh khung sự kiện trên cho khách hàng. Có một số điểm quan trọng dưới đây cần lưu ý khi làm việc với một khách hàng đã tái nghiện: 1) Việc sử dụng ma tuý xảy ra trong vòng vài tuần đầu được coi là việc tiếp tục sử dụng, không phải là tái nghiện; 2) Ít nhất 50% người hoàn thành chương trình điều trị ngoại trú một cách thành công đều trải qua một lần tái nghiện tại một thời điểm nào đó; 3) Một lần tái nghiện không cho đó là thất bại, ngược lại cần xem đó như một cơ hội để điều chỉnh kế hoạch điều trị cho phù hợp. Sơ đồ phân tích tái nghiện có thể được sử dụng trong một buổi tư vấn trị liệu cá nhân như một phương tiện giúp người bệnh và người tư vấn có thể phân tích dự đoán những tình huống dễ bị tổn thương có thể góp phần dẫn đến tái nghiện và nhằm nghiên cứu, điều chỉnh kế hoạch điều trị để tránh tiếp tục xảy ra trong tương lai.

 

 

NHÓM CÁC KỸ NĂNG PHỤC HỒI BAN ĐẦU

 

 

Triết lý

Nhóm các kỹ năng phục hồi ban đầu (ERS) được thiết kế nhằm cung cấp cho người bệnh một bộ kỹ năng cần thiết để thiết lập tình trạng “sạch” (không sử dụng ma tuý và rượu). Đây là các kỹ năng chính được trích từ cuốn “101 Kỹ năng phục hồi”. Có 2 thông điệp cơ bản được đưa ra trong nhóm. Đó là: (1) Bạn có thể thay đổi hành vi của mình theo các cách mà sẽ khiến dễ giữ được tỉnh táo hơn. Chúng tôi sẽ cung cấp cho bạn một số thủ thuật để biết bắt đầu như thế nào; (2) Các hoạt động điều trị là một nguồn thông tin và hỗ trợ. Tuy nhiên, để đạt được đầy đủ kết quả từ việc điều trị, các hoạt động tư vấn cần được lồng ghép trong các can thiệp tự giúp đỡ. Để giúp bạn làm quen với chương trình 12 bước, chúng tôi sẽ giới thiệu cho bạn về các hoạt động tự giúp đỡ.

Nhóm các kỹ năng phục hồi ban đầu định hướng người bệnh đến các kỹ năng cơ bản cần thiết để duy trì tình trạng không sử dụng. Các kỹ thuật hoàn toàn liên quan đến hành vi và có một mục đích quan trọng là “làm thế nào để”. Nhóm kỹ năng này không được thiết kế như là một nhóm “trị liệu”. Nó cũng không có xu hướng tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa các thành viên trong nhóm, dù là có một số mối quan hệ sẽ được thiết lập. Nó được thiêt kế như là một diễn đàn mà ở đó người trị liệu có thể phối hợp chặt chẽ với từng bệnh nhân để hỗ trợ họ xây

dựng chương trình phục hồi trong giai đoạn ban đầu. Mỗi nhóm có một cơ cấu rõ ràng và xác định. Cơ cấu và lộ trình hoạt động của nhóm là cần thiết. Đối với những người bệnh mới tham gia, lộ trình điều trị này rõ ràng là quan trọng như việc các thông tin được trao đổi.

Hình thức

Nhóm do một người trị liệu chủ trì và đồng chủ trì là một người nghọên đang phục hồi. Người đồng chủ trì này thường là một bệnh nhân hiện đang tham gia điều trị và có thời gian 3 tháng tỉnh táo. Bệnh nhân đó phải thực hiện tốt chương trình, không uống rượu, bia hay sử dụng bất kỳ một loại ma tuý nào, và tích cực tham gia chương trình tự giúp đỡ. Những bệnh nhân là người tích cực “chống rượu và amphetamin” (anti-AA) không được coi là người đồng chủ trì. Người đồng chủ trì có thể được chỉ định và tuyển chọn từ nhóm dự phòng tái nghiện trên cơ sở tự nguyện. Những người đồng chủ trì có thể quay vòng hàng tháng hoặc có thể sử dụng trong suốt thời gian lên đến 3 tháng.

Người chủ trì và người đồng chủ trì cần gặp gỡ, trao đổi trong 15 phút trước khi nhóm tiến hành thảo luận về chủ đề của buổi gặp gỡ buổi tối và các vấn đề mới về người bệnh. Không có thông tin bí mật nào có thể cung cấp cho nhứng người đồng chủ trì. Họ là những người tự nguyện và là người bệnh, không phải là người được tuyển dụng để làm việc. Họ nên được hướng dẫn để chia sẻ những kinh nghiệm của bản thân liên quan đến chủ đề thảo luận của nhóm và không cố gắng để trở thành những nhà trị liệu. Cuối mỗi buổi sinh hoạt, người chủ trì tóm tắt lại những gì người đồng chủ trì đã chia sẻ nhằm tái tập trung và giúp người đồng chủ trì ổn định dần.

Nhóm được tổ chức với quy mô nhỏ (tối đa khoảng 6 đến 8 người) và sinh hoạt trong khoảng thời gian tương đôi ngắn (50 phút). Vì các bệnh nhân có thể sẽ rất bất ổn, nên nhóm cần phải duy trì cơ cấu và cần được quản lý. Điều cực kỳ quan trọng đối với người chủ trì là giữ thái độ nghiêm túc, tập trung và không góp phần làm tăng năng lượng của nhóm, cảm giác “nằm ngoài khả năng kiểm soát” có thể là đặc trưng của những người bệnh này.

Người chủ trì giới thiệu nhóm như một mô hình trong đó hướng dẫn các thành viên những kỹ năng cơ bản nhằm duy trì được tình trạng tỉnh táo. Tất cả các thành viên tham gia đều được giới thiệu và đề nghị tóm tắt một số thông tin về việc tham gia của anh ấy/chị ấy trong quá trình điều trị. Các thành viên tham gia lần đầu cần được dành vài phút để giới thiệu tóm tắt về lịch sử bản thân. Trong khi đang trình bày tóm tắt về tiền sử sử dụng ma tuý của bản thân, người bệnh có thể được đề nghị ngừng lại một cách lịch sự và đề nghị trao đổi về các vấn đề liên quan đến điều trị. Người đồng chủ trì được giới thiệu như một người hiện đang trải qua giai đoạn phục hồi và là người có thể cung cấp thông tin cá nhân về việc chương trình đã hỗ trợ anh ấy/chị ấy như thế nào.

Sau bước định hướng ban đầu như trên, người chủ trì sẽ giới thiệu chủ đề, đọc qua toàn bộ tài liệu phát tay và đưa ra một cái nhìn tổng quát về việc tại sao chủ đề này lại quan trọng trong cai nghiện. Người đồng chủ trì có thể liên hệ việc chủ đề này đã có lợi như thế nào đối với các giai đoạn phục hồi ban đầu của bản thân. Mỗi bệnh nhân sẽ được yêu cầu mô tả việc mình hiện đang sử dụng các kỹ năng được thảo luận như thế nào. Hỏi xem liệu các bệnh nhân có gặp vấn đề gì không, cần đưa ra các gợi ý giải quyết và những lời khuyên từ các thành viên khác trong nhóm. Khoảng 35 phút là thời gian dành cho chủ đề nhóm.

Phần tiếp theo, nhóm cần được dành thời gian để thảo luận về chủ đề xây dựng kế hoạch. Mỗi người phải có một kế hoạch cho khoảng thời gian giữa buổi sinh hoạt hiện tại và buổi sinh hoạt tiếp theo. Nếu không còn vấn đề gì, có thể gợi ý các buổi sinh hoạt cụ thể về AA, NA và CA. Không nên khuyến khích các bệnh nhân cùng nhau xây dựng kế hoạch chung hoặc xây dựng kế hoạch hộ cho người khác trong giai đoạn phục hồi ban đầu này.

Nhóm sẽ kết thúc buổi sinh hoạt với một lưu ý tích cực bằng cách nhấn mạnh một số lợi ích mà mỗi bệnh nhân có thể có được từ việc duy trì sự tỉnh táo. Bất kỳ bệnh nhân nàocũng có thể được dành ít phút để trao đổi về những lợi ích của nhóm đã mang lại cho mình trong tháng đầu tiên duy trì sự tỉnh táo. Sau khi nhóm kết thúc, bất kỳ thành viên nào là người đang đấu tranh để từ bỏ cũng cần gặp và trao đổi ngắn gọn với người chủ trì hoặc một người tư vấn khác. Người đồng chủ trì không tham dự vào các cuộc tư vấn một-một. Các bệnh nhân nên được khuyến khích nghỉ giải lao trước khi họ tham dự nhóm dự phòng tái nghiện.

Một số vấn đề đặc biệt

Những bệnh nhân này không đạt được thành công nhiều trong việc duy trì sự tỉnh táo. Vì điều đó, mà hành vi của họ có thể đòi hỏi người chủ trì phải can thiệp và đòi hỏi phải có sự kiểm soát mạnh mẽ nhưng vẫn phải đảm bảo lịch sự, nhã nhặn. Đó là những tình huống thường gặp dưới đây:

1. Trong qúa trình trao đổi, thảo luận về việc tham gia chương trình tự giúp đỡ, thường có những ý kiến không chính thống về giá trị của việc tham gia. Người chủ trì cần phải đưa ra một thông điệp rõ ràng là kết quả điều trị đối với những người có tham gia chương trình tự giúp đỡ khả quan hơn nhiều so với những người không tham gia chương trình. Trung tâm Matrix đã tiến hành một số khảo sát về kết quả điều trị và sự tham gia chương trình 12 bước và đã thống nhất thấy rằng có một mối quan hệ rất tích cực giữa 2 nội dung này. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân sẽ vẫn tranh cãi rằng họ chẳng hề thấy những buổi sinh hoạt như thế này giúp ích được gì và họ sẽ không tham gia.

Sự chống cự không tham gia chương trình 12 bước là một vấn đề quan trọng. Người chủ trì nên cố gắng nhận thức rằng không phải là hiếm thấy việc nhiều người ban đầu có thể thấy ngay sự thoải mái trong chương trình 12 bước, nhưng người chủ trì cần nỗ lực theo nhiều cách có thể để khuyến khích các bệnh nhân tham gia một chương trình 12 bước mẫu. Những bệnh nhân chống cự lại những khía cạnh tinh thần của chương trình 12 bước cần được khuyến khích cam kết sẽ tham gia nhiều hơn vào mối quan hệ này. Những người cảm thấy không thoải mái khi đến với những buổi gặp gỡ mà họ còn chưa quen có thể bố trí để gặp, trao đổi với người đồng chủ trì hoặc các thành viên khác trong các buổi sinh hoạt nhóm. Các buổi gặp gỡ thực tế tại trung tâm điều trị có thể là một điều gì đó khiến giảm bớt sự e ngại và có thể là một địa điểm tốt giúp người bệnh làm quen dần với chương trình.

Tranh luận với các bệnh nhân chống đối là một việc làm phản tác dụng. Việc sử dụng các thành viên khác trong nhóm, hoặc những kinh nghiệm tích cực của người đồng chủ trì đối với các buổi trị liệu là một phương pháp tốt hơn nhiều để có thể giải quyết tình trạng bệnh nhân chống cự. Cần khuyến khích những bệnh nhân tham gia chương trình 12 bước chia sẻ về những lợi ích chính đáng của việc tham gia chương trình 12 bước. Các hoạt đông xã hội, như uống café sau các buổi gặp, và việc luôn sẵn có những người khác để trò chuyện vào những lúc gặp vấn đề rắc rối có thể khuyến khích được các khía cạnh tham gia vào chương trình 12 bước đối với những thành viên hay chống đối.

Một số bệnh nhân có thể sẵn lòng tham dự các buổi sinh hoạt, nhưng lại chống cự lại việc tiếp nhận một người hỗ trợ và thực hiện các bước của chương trình. Trong trường hợp đó, hãy sử dụng người chủ trì và các thành viên khác để khuyến khích sự tham dự của bệnh nhân vào các hoạt động của chương trình 12 bước. Càng tham dự nhiều hoạt động trong chương trình, càng giúp phục hồi tốt. Việc sử dụng một người trợ giúp như một huấn luyện viên trong chương trình 12 bước là một việc vô cùng giá trị. Hãy hướng dẫn người bệnh lựa chọn một người trợ giúp, người sẽ chấp nhận sự tham dự hiện tại của người bệnh trong quá trình điều trị một cách chuyên nghiệp.

Đối với những bệnh nhân vẫn tiếp tục chống đối không tham dự các hoạt động 12 bước, cần gợi ý cho họ những lựa chọn tự giúp đỡ khác như Phục hồi dần dần, Yêu cầu như các thầy dòng duy trì tình trạng không sử dụng (SOS), Thuyết bất khả tri trong gặp gỡ AA,… Những buổi gặp tự giúp đỡ thay thế này có thể giúp người bệnh có cảm giác giống như nhận được sự hỗ trợ và trợ giúp.

2. Một bệnh nhân có thể được cung cấp các đề nghị không phù hợp hoặc có thể gây nguy hiểm cho anh ta/chị ta. Ví dụ, nếu chủ đề thảo luận là làm thế nào để dừng không nghĩ đến việc sử dụng và người bệnh đề nghị một bệnh nhân khác là anh ta phải nghĩ về suy nghĩ việc dùng ma tuý của mình trong mọi trường hợp chứ không phải là dừng lại không suy nghĩ đến, thì trong trường hợp đó người chủ trì cần can thiệp một cách lịch sự rằng “Có thể điều đó có ích với bạn, nhưng hầu hết moi người đều thấy rằng đó là một phương pháp nguy hiểm. Và hầu hết những bệnh nhân khác thấy rằng việc sử dụng quy trình dừng không nghĩ đến việc sử dụng ma tuý là phương pháp giúp ích được họ nhiều hơn”. Người chủ trì cần phải lịch sự và tôn trọng tất cả các thành viên trong nhóm, nhưng cũng cần kiểm soát tình huống một cách rõ ràng.

3. Trong những tình huống mà những bệnh nhân bất ổn không thể thực hiện theo sự hướng dẫn tài tình hoặc kết quả buổi làm việc bị hạn chế tương đối, thì người chủ trì nên nói một điều gì đó giống như “Tối hôm nay các bạn thật ồn. Nào hãy chắc chắn là tất cả mọi người đều có một thời gian không gian thư giãn nào đó. Đề nghị hãy lắng nghe trong một lát thôi”. Nếu khủng hoảng xảy ra, người chủ trì cần trò chuyện riêng với bệnh nhân đó sau buổi sinh hoạt nhóm về vấn đề cụ thể của chính anh ấy/cô ấy.

4. Nếu một bệnh nhân được cho là đang say thuốc, người chủ trì nên đề nghị bệnh nhân đó đi ra ngoài cùng mình. Hãy xem xem liệu có một tư vấn viên khác có thể làm việc với anh ấy /cô ấy không. Nếu không có, người đồng chủ trì có thể tiếp tục cho nhóm thảo luận trong khi người chủ trì sẽ cố gắng đánh giá về điều kiện sức khoẻ của cá nhân bệnh nhân đó và thảo luận về những hoàn cảnh dẫn đến việc anh ta sử dụng ma tuý hoặc rượu. Tuỳ thuộc vào mức độ say thuốc của người bệnh, có thể cần thiết bố trí người đưa anh ta về nhà một cách an toàn và trước khi có thể tiến hành bất kỳ một cuộc trao đổi nào về chủ đề này cho đến khi có buổi hẹn gặp lần sau. Hãy tránh đối đầu với bệnh nhân.

Mục đích

1. Cung cấp một nơi thuận tiện cho những bệnh nhân mới hiểu biết về các kỹ năng phục hồi và chương trình tự hỗ trợ.

2. Giới thiệu với các bệnh nhân về các công cụ cơ bản giúp phục hồi và hỗ trợ họ trong việc dừng không sử dụng ma tuý và rượu.

3. Giới thiệu chương trình tham gia 12 bước và tạo dựng một mong đợi đối với phục hồi 12 bướ như là một phần trong mô hình điều trị Matrix.

4. Tăng cường số lượng bệnh nhân tham gia mô hình nhóm khi cần thiết trong Chương trình phục hồi, Hỗ trợ xã hội và Gặp gỡ 12 bước.

5. Cho phép người đồng chủ trì cung cấp một mô hình để đạt được việc duy trì không sử dụng trong thời gian đầu.

6. Cung cấp cho người đồng chủ trì sự tự tin và thúc đẩy, khuyến khích sự tiến bộ của người đồng chủ trì.

 

 

 

 

 

 

 

Chỉ dẫn cho người trị liệu

 

 

Tất cả nhóm

Trong vòng 15 phút cuối mỗi buổi sinh hoạt nhóm kỹ năng phục hồi ban đầu, cần luyện tập 2 bài tập sau. Cả 2 bài đều được thiết kế nhằm cung cấp cho người bệnh một cách thức để xây dựng một kế hoạch phục hồi và giám sát sự tiến bộ của mình.

Chủ đề: Lập kế hoạch

Tài liệu phát tay:

a) Lập kế hoạch, “Liệu đó có phải là điều quan trọng không”

b) Kế hoạch hàng ngày/hàng giờ

Lập kế hoạch là một kỹ năng quan trọng giúp người bệnh xây dựng được cơ cấu chương trình phục hồi và đưa ra những chỉ dẫn (bản đồ dẫn đường) để duy trì tình trạng tỉnh táo từ khi kết thúc buổi gặp hiện tại đến khi trở lại tham gia vào buổi gặp tiếp theo.

Chủ đề: Đánh dấu thời gian

Tài liệu phát tay:

a) Lịch và ghi chú

b) 5 (năm) lịch sinh hoạt

Việc đánh dấu mỗi ngày phục hồi thành công vào một quyển lịch có thể giúp  người bệnh nhận thức được sự tiến bộ phục hồi từng ngày và cung cấp thêm ý thức để tiếp tục thực hiện và hoàn thành chương trình.

Buổi 1. Chủ đề: Hãy dừng cái vòng luẩn quẩn này lại!

Tài liệu phát tay:

a) Các động cơ thôi thúc sử dụng.

b) Các động cơ thôi thúc sử dụng – Suy nghĩ – Thèm nhớ – Sử dụng.

c) Các kỹ thuật dừng không suy nghĩ đến.

Hãy đề nghị bệnh nhân xem xét lại các tình huống dẫn đến động cơ thôi thúc sử dụng cụ thể. Dừng lại mô tả chi tiết về các lần sử dụng rượu và sử dụng ma tuý, và những cảm giác xảy ra trong suốt quá trình chuẩn bị sử dụng. Không để nhóm biến thành một buổi chia sẻ những kinh nghiệm về các động cơ thôi thúc người bệnh sửe dụng mà không thể kiểm soát được. Hãy tập trung người bệnh vào những điều gì bây giờ họ cần phải tránh, hoặc làm thế nào để giải quyết vấn đề theo một cách mới khi có những tình huống xuất hiện động cơ thôi thúc người bệnh sử dụng. Giúp họ xây dựng các kế hoạch, chương trình để đối phó với những tình huống có thể xảy ra việc tác động khiến họ nghĩ đến việc sử dụng vào dịp cuối tuần. Đây chắc chắn là một chủ đề dễ bị thay đổi. Hãy đảm bảo chắc chắn là có thể duy trì các bệnh nhân chỉ tập trung vào việc hiện nay chúng ta giải quyết vấn đề này như thế nào, không nên đi quá sâu vào việc mô tả những gì đã thường xảy ra. Nhấn mạnh đến tầm quan trọng của một kế hoạch giúp thay đổi hành vi bằng việc đưa ra những định hướng tốt và cam kết mạnh mẽ để đối phó.

Cho phép người đồng chủ trì thảo luận về những điều gì đã xảy ra nhằm tăng cường những ứng phó của anh ta chống lại những tác động khiến anh ta sử dụng ma tuý. Các bệnh nhân cần được biết rằng cảm giác bị hối thúc này sẽ ít dần khi họ chuyển sang ngừng không sử dụng.

Dừng việc suy nghĩ đến sẽ là một kỹ năng mà người bệnh có thể sử dụng để tạm khóa những suy nghĩ về ma tuý và nhờ đó có thể lấy lại được khả năng kiểm soát quá trình suy nghĩ của bản thân. Các cơn thèm nhớ phải không để trở nên áp đảo họ. Họ có thể khiến các cơn thèm nhớ không xảy ra bằng cách khoá những suy nghĩ liên quan đến ma tuý của bản thân lại. Họ cần sử dụng qúa trình này nhanh chóng trước khi chức năng sinh lý của cơ thể đối với các cơn thèm nhớ bắt đầu được kích hoạt. Hãy trao đổi về chu kỳ xuất hiện các cơn thèm nhớ trong ngày đối với họ và tìm ra các cách giúp họ giúp can thiệp phá vỡ chu kỳ đó. Hãy thảo luận về việc làm thế nào để thoát khỏi tình trạng luẩn quẩn đó của họ.  

Buổi 2. Chủ đề: Xác định những động cơ bên ngoài thôi thúc người nghiện sử dụng ma tuý

Tài liệu phát tay:

a) Bảng hỏi về các động cơ bên ngoài.

b) Sơ đồ tác động của các động cơ đến việc sử dụng.

Bảng hỏi về động cơ thôi thúc sử dụng từ  bên ngoài giúp xác định các tác động bên ngoài đối với việc sử dụng ma tuý. Điều quan trọng là sử dụng bảng mẫu này như một bài luyện tập để có được bức tranh toàn diện về tình hình, địa điểm và thời điểm lúc những suy nghĩ và các cơn thèm nhớ có thể bị thôi thúc. Hãy hỏi về những động cơ đặc trưng có thể không được liệt kê trong bảng hỏi. Xem xét nhu cầu xây dựng kế hoạch cho các hoạt động ứng phó để thoát ra khỏi những tình huống tác động như vậy. Đảm bảo rằng mỗi cá nhân đều hoàn thành một danh sách hoàn chỉnh về những động cơ thôi thúc sử dụng từ bên ngoài. Xem xét một cách tóm tắt cách thức đối phó đối với một tình huống tác động mà người bệnh đã không thể tránh được.

Sơ đồ động cơ tác động đến việc sử dụng ma tuý giúp cho người bệnh ý thức rằng việc sử dụng chất kích thích không phải là hệ quả của những sự kiện xuất hiện ngẫu nhiên, không dự đoán được. Bằng cách thay đổi hành vi của người nghiện, cơ hội để anh ta sử dụng ma tuý cũng có thể được giảm xuống. Nếu không có % nào cho những tình huống có thể xảy ra, hãy đề cập đến các buổi trị liệu 12 bước. Bài tập này giúp tăng cường sự hiểu biết của người bệnh về cơ hội xuất hiện các lần sử dụng và làm thế nào để có thể tránh được.

 

 

 

Buổi 3. Chủ đề: Xác định những động cơ bên trong thôi thúc người nghiện sử dụng ma tuý

Tài liệu phát tay:

Bảng hỏi về các động cơ bên trong

Mẫu bảng hỏi này giúp đưa ra một bức tranh toàn điện về những tình trạng bên trong dẫn đến việc thôi thúc người nghiện sử dụng ma tuý. Nhiều cảm xúc được nêu trong bảng hỏi đan xen nhau. Không nên đi sâu vào từng cảm xúc riêng mà điều quan trọng là phải có được một bức tranh về những tình trạng cảm xúc nổi bật mà khiến thôi thúc người nghiện suy nghĩ và thèm nhớ đến ma tuý. Nhìn chung, con người thường bị hối thúc khi có những cảm xúc tích cực hoặc tiêu cực, hoặc một số người là cả hai. Sau đó hãy phản ánh lại cho người bệnh biết về bức tranh mà họ đang gặp phải trước những hối thúc cảm xúc từ bên trong chính bản thân họ và hỏi xem liệu điều đó có đúng không. Trước khi hoàn thành bảng hỏi, người trị liệu nên đưa ra cho từng người bệnh một số ý tưởng rõ ràng về đâu là những loại phản ứng cảm xúc khiến người nghiện thèm nhớ ma tuý và dẫn đến sử dụng. Nếu việc sử dụng ma tuý của một người bệnh nào đó là tự động và không bị tác động hay hối thúc về cảm xúc ngay trước khi anh ta tham gia điều trị, thì hãy hỏi anh ta về đâu là những tác động trong thời gian anh ta nghiện trước đây. Hãy thảo luận những biện pháp thay thế giúp anh ta đối mặt với những tác động cảm xúc hối thúc mạnh mẽ từ chính bản thân anh ta.

Vào cuối buổi trị liệu này, hãy quay lại thảo luận về Sơ đồ tác động của các động cơ và bổ sung thêm những trạng thái cảm xúc một cách cụ thể an toàn hoặc không an toàn từ bên trong. Khi hoàn thiện xong sơ đồ tác động, hãy đưa cho người bệnh xem để biết những sự lựa chọn mà cô ấy/anh ấy đang quan tâm liên quan đến những người hoặc những nơi, những thứ mà chắc chắn sẽ dẫn cô ấy/anh ấy đến việc tái nghiện.

Buổi 4. Chủ đề: Giới thiệu 12 bước

Tài liệu phát tay: Giới thiệu 12 bước

Việc tham gia vào các hoạt động 12 bước là một phần thiết yếu trong quá trình điều trị đối với người bệnh. Người bệnh nên xem xét việc họ tham dự vào các buổi sinh hoạt AA cũng cần thiết như việc họ tham dự vào các buổi sinh hoạt của mô hình Matrix. Họ cũng cần được người trị liệu cung cấp cho họ hy vọng và mong muốn rằng việc tham gia các chương trình 12 bước là một phần yêu cầu trong quá trình điều trị. Việc này có thể do người trị liệu thực hiện bằng một cách rất tích cực nhằm giúp họ hiểu rằng các chương trình 12 bước sẽ có hiệu quả bằng việc thu hút và rằng họ chính là yếu tố nguồn tích cực và rất có giá trị để các chương trình này được thành công.

Buổi 5. Chủ đề: Những thay đổi sinh hóa của cơ thể trong quá trình phục hồi

Tài liệu phát tay: Bản đồ chỉ đường cho việc Phục hồi

Sự suy nhược thể chất, ngủ không ngon giấc, đau đầu và một số ít trường hợp là cả lo lắng là tất cả những triệu chứng tiếp tục trong suốt quá trình cắt cơn. Hãy giúp người bệnh nhớ lại quá trình phục hồi dần dần về sinh học trong cơ thể đang xảy của họ. Điều này sẽ giúp người bệnh tập trung vào việc phục hồi và cho họ hy vọng là tình hình sẽ được cải thiện nhanh chóng.

Việc xem xét các thay đổi về mặt sinh học đáng xảy ra trong người có thể giúp người bệnh ý thức được về những gì sẽ xảy ra trong suốt quá trình điều trị. Hãy thảo trao đổi về những nỗ lực và trải nghiệm điều trị họ đã trải qua với những giai đoạn phục hồi này.

Buổi 6. Chủ đề: Các vấn đề xảy ra trong giai đoạn phục hồi ban đầu

Tài liệu phát tay:

  1. 5 vấn đề thường gặp trong giai đoạn phục hồi ban đầu
  2. Tranh luận về rượu

Có một số vấn đề có xu hướng nổi lên ngay lập tức giống như những vấn đề rắc rối đối với những người bệnh trong giai đoạn phục hồi ban đầu. Đối với phần lớn người sử dụng ma tuý thi có 5 vấn đề quan ngại rất quan trọng. Và chủ đề chính trong việc giải quyết các vấn đề này là việc có một cách hiệu quả hơn việc đối phó với sử dụng ma tuý một cách thông thường nhằm đối phó với những tình huống này. Người đồng chủ trì sẽ chia sẻ về kinh nghiệm của anh ấy/cô ấy với một hoặc nhiều người về những vấn đề này. 

Hãy củng cố những thành viên có các giải pháp tích cực khác để giải quyết vấn đề. Hỗ trợ và khuyến khích sự tin tưởng rằng phục hồi bao gồm việc cùng nhau đưa ra các hoạt động mới và dùng nhiều phương pháp để đưa ra một giải pháp cùng một lúc.

Nếu người bệnh vẫn còn do dự về việc dừng sử dụng (có lẽ vì họ không nhìn ra thực thế là việc sử dụng rượu như vấn đề ban đầu), thì bài tập sử dụng bảng Tranh luận về rượu có là một thách thức đối với những suy nghĩ của họ.

Buổi 7. Chủ đề: Suy nghĩ, cảm nhận và hành động

Tài liệu phát tay:

  1. Suy nghĩ, cảm xúc và hành vi
  2. Hành vi của người nghiện

Để có được sự kiển soát trong hành vi của người bệnh, điều quan trọng thiết yếu đối với họ là phải có thể phân biệt được giữa các suy nghĩ, cảm xúc và hành vi. Điều này có thể là một khái niệm hoàn toàn mới đối với một số người. Hãy chắc chắn là người bệnh hiểu rõ nguyên tắc này trước khi chuiyển sang tài liệu phát tay thứ hai.

Người bệnh có một số mức độ kiểm soát nhất định về việc phục hồi là quá trình khó khăn như thế nào. Những người bệnh nào tiếp tục cư xử như những người lạm dụng ma tuý sẽ tiếp tục trở thành những người lạm dụng ma tuý. Không thể thành công trong việc dừng sử dụng ma tuý và tiếp tục can dự vào các hành vi của người nghiện. Những người bệnh cần được dạy về mối quan hệ giữa hành vi cư xủa của họ với thành công trong quá trình phục hồi của họ.

Buổi 8. Chủ đề:

Tài liệu phát tay: Các mẹo 12 bước

Một chút khôn ngoan từ chương trình AA có thể cung cấp những công cụ rất có giá trị cho người bệnh trong giai đoạn phục hồi ban đầu. Những lời nói hay khái niệm này cần được lưu ý xem xét để trở nên giá trị đối với người bệnh và như những bằng chứng chứng minh rõ ràng hơn những lợi ích có thể có được từ việc tham gia các buổi trị liệu 12 bước.

 

NHÓM DỰ PHÒNG TÁI NGHIỆN

 

Triết lý

Nhóm dự phòng tái nghiện (Relapse Prevention – RP) là một thành tố trung tâm của gói điều trị theo mô hình Matrix. Nhóm này có một mục đích cụ thể cũng như một hình thức cụ thể. Nhưng cũng có thể có một số điều mà nhóm này không phải là như vậy. Ví như nhóm này không phải là một nhóm huấn luyện sự quyết đoán hoặc dễ nhạy cảm. Đó cũng không phải là một buổi sinh hoạt trị liệu 12 bước. Đó không phải là một hoạt động nhằm giảm căng thẳng hoặc nhóm trao đổi về “bất cứ điều gì bạn đang suy nghĩ trong đầu” không có hồi kết.

Mỗi nhóm dự phòng tái nghiện được tổ chức quanh một chủ đề nhất định. Mục đích của nhóm là nhằm cung cấp một diễn đàn ở đó những người lệ thuộc chất hoá học kích thích có thể nhận được sự hỗ trợ để giải quyết các vấn về nhằm xây dựng một chương trình phục hồi và tránh tái nghiện. Tái nghiện không phải là một sự kiện diễn ra một cách ngẫu nhiên. Qúa trình tái nghiện mang những đặc trưng có thể dự đoán được. Nhóm này sẽ cung cấp một địa điểm để chia sẻ các thông tin về vấn đề tái nghiện và dự phòng tái nghiện. Các dấu hiệu đe doạ dẫn đến tái nghiện có thể được xác định bởi cán bộ điều trị và người bệnh. Những bệnh nhân có xu hướng tái nghiện có thể được chỉnh hướng trong khi cần khuyến khích những người đang thực hiện tốt quá trình phục

 

hồi. Điều kiện sinh hoạt của nhóm cho phép các bệnh nhân hỗ trợ nhau trong khuôn khổ hướng dẫn của người trưởng nhóm.

Nhóm được chủ trì bởi một người trị liệu và một người đồng chủ trì. Người trị liệu là một người chuyên môn hoàn toàn người cũng giám sát các thành viên của nhóm để đưa ra nững can thiệp trị liệu cá nhân phù hợp. Lợi ích của mối quan hệ hai mặt này là người trị liệu có thể phối hợp hiệu quả hơn và hướng dẫn quá trình phục hồi một cách có tiến bộ của mỗi cá nhân người bệnh. Việc thường xuyên liên hệ với người bệnh cũng giúp tăng cường mối liên hệ trị liệu giúp duy trì người nghiện thực hiện điều trị.

Bất lợi có thể có của mối quan hệ hai mặt này là những nguy hiểm có thể xảy ra đối với người trị liệu không chú ý đến việc tiết lộ thông tin mang tính bảo mật cá nhân đối với nhóm trước khi người bệnh lựa chọn sẽ làm như vậy. Đó là một sự vi phạm đến ranh giới đối với người trị liệu nhằm ngụ ý là những thông tin đó tồn tại và cố gắng ép một người bệnh chia sẻ thông tin đó nếu người bệnh chưa được lập kế hoạch để thảo luận về các vấn đề trong nhóm.

Có một mối nguy hiểm khác có thể tránh được là khả năng các thành viên trong nhóm có thể nhận ra dành sự ưu ái đối với một số bệnh nhân cụ thể hơn các người khác. Điều quan trọng là người trị liệu cần phải cung cấp sự hỗ trợ công bằng cho tất cả các thành viên trong nhóm và không cho phép các thành viên bị lôi kéo vào một cuộc ganh đua để dành đựơc sự quan tâm của ngươì trị liệu.

Tất cả các bệnh nhân trong nhóm sẽ xây dựng một mối quan hệ cá nhân với người chủ trì. Mức độ người chủ trì có thể khuyến khích sự thay đổi tích cực trong cuộc sống của họ sẽ có mối liên hệ trực tiếp với sự tín nhiệm mà người chủ trì xây dựng được với các thành viên. Người chủ trì nhóm phải nắm được các thành viên nhận thức như một nguồn cung cấp các thông tin liên quan đến lạm dụng ma tuý một cách đáng tin cậy. Hai điểm chính để xây dựng được lòng tin với người bệnh là mức độ người chủ trì áp dụng để kiểm soát tình hình nhóm và năng lực của người chủ trì trong việc biến nhóm trở thành một nơi an toàn đối với tất cả các thành viên.

Hai yếu tố này có mối liên hệ qua lại chặt chẽ với nhau. Để nhóm cảm nhận được sự an toàn, các thành viên phải xem người chủ trì của nhóm như một người tài giỏi và có khả năng kiểm soát tốt. Đôi khi, các thành viên trong nhóm tham gia quá tích cực, nói nhiều và làm chuyện huyên náo, ồn ĩ. Khi đó người chủ trì nhóm phải sử dụng các phương pháp giao tiếp có lời và cả không lời để làm giảm nhiệt của nhóm và giúp nhóm tập trung vào thảo luận chủ đề của buổi sinh hoạt. Thông thường thì tình trạng này xảy ra trong dịp những ngày nghỉ nếu có một số thành viên tái nghiện trở lại. Ngược lại, có nhiều trường hơp các thành viên trong nhóm thờ ơ, uể oải và không tập trung. Trong trường hợp này, người chủ trì cần phải truyền năng lượng cho các thành viên và tác động để họ thấu cảm. Người chủ trì cần phải nhận thức được đặc điểm mang tính cảm xúc này và có cách để ứng phó phù hợp.

Cũng bằng cách tương tự như vậy, các thành viên trong nhóm cần cảm thấy rằng người chủ trì nhóm đang giữ cho nhóm hoạt động đi theo hướng có lợi và lành mạnh. Người chủ trì nhóm phải sẵn sàng biết cách ngắt lời các thành viên trong khi thảo luận nhóm một cách hợp lý, đề nghị tạm dừng câu chuyện liên quan đến việc sử dụng ma tuý hoặc định hướng những trình bày quá dài. Mọi thành viên đều phải được tạo cơ hội để tiếp nhận. Hàng tuần người chủ trì cần phải đảm bảo chắc chắn rằng một hoặc hai thành viên không phải luân luôn là người nói đầu hoặc độc diễn trong toàn bộ thời gian sinh hoạt của nhóm. Các thành viên cần phải cảm thấy là người chủ trì quan tâm đến sự tham gia của họ trong nhóm vì điều này có liên quan đến việc duy trì không tình trạng không sử dụng. Người chủ trì nhóm phải là một người rõ ràng, năng động, không để người khác nghi ngờ đặt câu hỏi trong việc kiểm soát, điều hành nhóm.

Người đồng chủ trì là một nhân tố quan trọng trong hoạt động của nhóm. Với tư cách là một người đã có nhiều phục hồi thành công, người này được đặt trong vị trí phải giải quyết những vấn đề khó khăn, nhiều mâu thuẫn từ những mong đợi thông qua việc chia sẻ những kinh nghiệm của bản thân. Những người đồng chủ trì cần được đào tạo đẻ đưa ra kết quả của mình theo những thông điệp của chính bản thân mình “Tôi…”.

Nhóm được điều hành theo cách thức phù hợp với mô hình Matrix. Những người chủ trì cần phải là người nhạy bén đối với những thông tin được đưa ra trong một nhóm các thành viên phức tạp, không theo một trật tự nhất định. Một số trường hợp, người chủ trì có thể còn cần là một người có khả năng định hướng, có thể đối mặt hoặc tóm tắt, nêu ra những đặc trưng chính từ các thành viên trong nhóm khi họ phải ảnh những suy nghĩ mang đặc trưng của người nghiện. Sự tập trung vào những ví dụ như thế này của người chủ trì phải là sự tập trung vào vấn đề nghiện như là một vấn đề chống tại người nghiện. Nói một cách khác, sự quan tâm phải được thực hiện nhằm tránh đưa ra những định hướng phản hồi tiêu cực đối với người bệnh, thay vào đó hãy tập trung và những khía cạnh của vấn đề trên cơ sở vấn đề nghiện của chính những hành vi, suy nghĩ của người bệnh.

Hình thức

Mỗi buổi sinh hoạt nhóm dự phòng tái nghiện bắt đầu vào việc giới thiệu những thành viên mới, và những người này sẽ được đề nghị mô tả tóm tắt về tiền sử sử dụng ma tuý của bản thân. Người này sẽ giới thiệu trực tiếp với các thành viên trong nhóm và với người chủ trì nhóm. Việc trình bày này không quá chi tiết hoặc phải biểu đồ hoá, cũng không giống như việc tái hiện lại “những câu chuyện thời chiến tranh”. Việc giới thiệu này chỉ nhằm mục đích để cung cấp thông tin rất cơ bản như loại ma tuý sử dụng, lý do tham gia điều trị. Khi người bệnh nói lan man, hoặc cung cấp những thông tin chi tiết về việc sử dụng không cần thiết, cần phải đề nghị họ tóm gọn lại và dừng trình bày.

Trong 15 phút đầu của buổi sinh hoạt, người chủ trì sẽ nêu ra một chủ đề cụ thể bằng một cách tự nhiên và nhẹ nhàng. Chủ đề cụ thể đó sẽ thảo luận cùng với những đóng góp của các thành viên trong khoảng 45 phút. Người chủ trì cần đảm bảo chắc chắn rằng những vấn đề quan trọng có liên quan đến chủ đề đó đều được thảo luận và tránh việc đưa ra những định hướng chưa chín chắn từ các vấn đề của chủ đề chính. Cũng cần phải đảm bảo chắc chắn rằng những bệnh nhân đang thực hiện một lịch trình không có liên quan đến chủ đề thảo luận sẽ có cơ hội để thảo luận về các vấn đề của họ sau thời gian thảo luận về chủ đề hàng tuần của nhóm. Người chủ trì tóm lược quá trình thảo luận bằng việc bóc tách các phần trong chủ đề thảo luận và những vấn đề quan trọng có liên quan đến chủ đề đó.

Trong khoảng thời gian kéo dài 30 phút mỗi buổi sinh hoạt nhóm, các bệnh nhân sẽ được hỏi về việc liệu họ đang có bất kỳ một vấn đề gì không, hoặc liệu là có bất kỳ một vấn đề gì mà họ mong muốn được trao đổi không. Từng bệnh nhân, đặc biệt là những người đã từng có một vấn đề gì đó hoặc những người không tham gia trong nhóm, sẽ được hỏi cụ thể. Câu hỏi chung có thể sử dụng là “Mọi thứ đang diễn ra thế nào với anh?” hoặc “Thế có bất kỳ tiến triển nào mới trong vấn đề của bạn đã nêu ra lần trước không?” hay “Bạn đã bao giờ có những động cơ thôi thúc bạn sử dụng ma tuý không?’, “Anh có kế hoạch như thế nào để duy trì việc không sử dụng trong tuần này?” thường khơi gợi bệnh nhân trả lời. Cũng cần đặc biệt lưu ý giải quyết tất cả những ai không lên tiếng trong nhóm. Thông thường, các bệnh nhân những người mà giữ im lặng hoặc không giao tiếp trong nhóm là những người hiện đang cố gắng giải quyết các vấn đề cần được thảo luận hoặc gợi ý nêu ra.

Nhóm dự phòng là nơi cố gắng tạo ra cơ hội để lôi kéo hoặc khích lệ một người tham gia từ các thành viên khác trong nhóm. Người chủ trì nhóm nên đề nghị các thành viên khác cho ý kiến góp ý về một vấn đề nào đó đang được thảo luận, đặc biệt là khi có một số thành viên trong nhóm đang phải đương đầu với vấn đề đó. Ví dụ, những người đã và đang chuyển sang thời gian kiêng không sử dụng lâu hơn thì có thể được đề nghị hãy mô tả về cách thức làm thế nào mà họ có thể đối phó với những vấn đề khó khăn mà họ gặp phải trong suốt quãng thời gian này. Tuy nhiên, người chủ trì nhóm cũng không nên dừng kiểm soát nhóm hoặc thúc đẩy việc trao đổi giữa các cá nhân không theo định hướng về việc mỗi người cảm nhận như thế nào về những điều do người khác chia sẻ. Người chủ trì cần phải duy trì việc thảo luận và định hướng được các cuộc trao đổi, đồng thời phải luôn sẵn sàng điều chỉnh định hướng cho các cuộc trao đổi đang có xu hướng tản mạn, không đi đúng chủ đề, không phù hợp hoặc có tính bất ổn.

Người đồng chủ trì có thể được tham gia với tư cách như một mô hình thực tế có vai trò tích cực và nhằm tăng cường thêm những khuyến nghị và lời khuyên cho nhóm trên cơ sở kinh nghiệm của chính bản thân. Người đồng chủ trì cần tránh ca tụng, mà anh ấy/cô ấy nên cố gắng nói về mình và thuyết phục các thành viên khác trong nhóm bằng cách chia sẻ những kinh nghiệm thực tiễn của chính bản thân. Người đồng chủ trì có thể sẽ rất có hiệu quả trong những trường hợp có một thành viên đang chống cự lại các ý kiến, kết quả góp ý của người chủ trì. Trong những trường hợp như vậy, có thể đề nghị người đồng chủ trì chia sẻ về những gì đã giúp ích cho anh ta trong đó nhấn mạnh đến vì những lý do gì mà những điều đó đáng giá, từ đó giúp ích chứ không phải là mời anh ta tranh luận hoặc thảo luận thêm nữa.

Những người tham gia nhóm dự phòng ngay từ khi bắt đầu điều trị và sẽ tiếp tục duy trì việc tham gia này trong suốt 16 tuần hồi phục ban đầu. Trong quá trình này, người bệnh sẽ tạo dựng được mối liên hệ có tính phụ thuộc. Tiến trình của nhóm khuyến khích mối dây liên hệ này và chính sự gắn kết đó có thể là một động cơ tích cực mang tính xây dựng khiến có thể giúp người bệnh duy trì được việc đeo đuổi chương trình điều trị. Mặc dù nhiều người bệnh nên được khuyến khích xem xét, nhìn nhận rằng chính họ cần có trách nhiệm với nhóm và cam kết tham gia tích cực và gắn bó với nhóm, nhưng cũng nên lưu ý là sự hồi phục của họ là do chính bản thân họ làm nên. Điều quan trọng giúp người bệnh nhìn nhận ra rằng sự hồi phục của họ là kết quả đạt được của chính bản thân họ và trong đó có sự hỗ trợ, khuyến khích của các thành viên khác trong nhóm. Sự hồi phục của người bệnh có tính độc lập nói trên có thể giúp họ phòng ngừa được các nguy cơ dẫn đến tái nghiện nếu có một vài thành viên khác trong nhóm có thể bị tái nghiện trở lại. Cần có được sự cân bằng giữa việc có được sự hỗ trợ và khuyến khích từ nhóm với sự độc lập riêng trong nhóm để từ bỏ được ma tuý.

Sự thân thiết và gắn kết trong một nhóm dự phòng tái nghiện là vô cùng giá trị đối với quá trình điều trị. Tuy nhiên, người bệnh cũng cần được thận trọng lưu ý tránh sự cường điệu về chương trình điều trị và sự can dự khác từ các thành viên khác trong nhóm. Người bệnh ký một bản thoả thuận khi bắt đầu đăng ký tham gia chương trình để tránh các mối quan hệ “ngoài lề” nhóm, tuy nhiên họ cũng cần được thường xuyên nhắc nhở lại để nhớ về bản thoả thuận đã cam kết này. Nếu trong nhóm có hai thành viên bắt đầu trở nên can dự, quan hệ không phù hợp với nhau, thì khi đó người chủ trì cần nhắc lại cho họ nhớ về bản thoả thuận mà họ đã ký để họ tránh những quan hệ đó và giải thích để họ hiểu lý do vì sao những mối quan hệ này lại không được khuyến khích.

Tuy nhiên, cũng không nên để người bệnh bị mất động lực phấn đấu từ việc được hỗ trợ bởi các thành viên khác. Trong giai đoạn hồi phục ban đầu, điều này cần được thực hiện trong bối cảnh có các nhóm hỗ trợ 12 bước và nhóm hỗ trợ xã hội kết hợp cùng lúc. Người bệnh cũng không nên để bị khuyến khích tìm kiếm một hệ thống hỗ trợ lâu dài thông qua việc họ tham gia vào các nhóm AA, CA hoặc NA. Một người hỗ trợ trong nhóm AA có thể là nguồn hỗ trợ vô cùng giá trị đối với người bệnh. Việc tham gia vào các cuộc gặp gỡ và giao lưu xã hội hoá với các thành viên trong nhóm AA có thể cung cấp một nguồn hỗ trợ hoàn toàn mới gồm những người bạn đã phục hồi không còn sử dụng và các hoạt động không liên quan đến việc sử dụng. Nếu người bệnh trong giai đoạn phục hồi ban đầu chỉ tiếp cận với các người bạn khác để tìm kiếm sự hỗ trợ mà không có mối liên hệ nào với những người đã duy trì được việc từ bỏ không sử dụng trong một thời gian lâu dài, thì trong quá trình được hỗ trợ, họ sẽ dễ có nguy cơ bị tái nghiện trở lại.

Các tình huống đặc biệt:

Tại những thời điểm mà người chủ trì nhóm có thể cần can thiệp một cách mạnh mẽ nhằm đối phó với một số hành vi đặc biệt của người bệnh trong nhóm. Sự can thiệp này có thể là yêu cầu nhóm giữ yên lặng hoặc hạn chế sự tham gia của cá nhân đó trong nhóm, hoặc đề nghị cá nhân đó ra ngoài, không tham gia trong nhóm.

Hành vi: cứ mãi kiên trì về một vấn đề nào đó

Biện pháp can thiệp cần sử dụng: lịch sự đề nghị rằng đã đến lúc cần để cho những người khác được tham gia thảo luận về các vấn đề của họ và sau đó sẽ tiếp tục.

Hành vi: Tranh cãi về một trường hợp hành vi  gặp phải trong quá trình phục hồi (ví dụ như việc sử dụng trở lại, từ bỏ không sinh hoạt nhóm, sử dụng cách thức “tự kiểm soát” để chống lại hoặc tránh các cơn thèm muốn rượu,…) sau khi nhận được phản hồi lặp lại nhiều lần.

Biện pháp can thiệp cần sử dụng: chỉ ra sự vô ích của các cách đối phó như vậy trong bối cảnh thực tiễn của việc nghiện và chia sẻ kinh nghiệm đã từng xảy ra của những người khác. Nếu người vẫn tiếp tục theo cách đó một thời gian lâu, hãy đề nghị anh ta/chị ta lắng nghe những người còn lại trong nhóm chia sẻ vì mọi vấn đề gặp phải đều cần được các cá nhân thảo luận với người tư vấn.

Hành vi: Đe dạo, có thái độ xấc xược hoặc sỉ nhục hoặc các dấu hiệu điều hành mang tính cá nhân, cư xử theo cách thức rõ ràng cho thấy là đang bị phê thuốc.

Biện pháp can thiệp: để lại nhóm cho người đó, và người đồng chủ trì sẽ phụ trách nhóm. Sau đó có một buổi trao đổi ngắn gọn mang tính cá nhân, hoặc sử dụng một biện pháp can thiệp trị liệu khác. Nên để mắt quan sát người bệnh đó trước khi để anh ta/chị ta ở lại. Nếu cần thiết, có thể phải bố trí chuyển tuyến.

Hành vi: Nhìn chung thiếu sự cam kết đối với việc sẽ thực hiện chương trình điều trị, điều này có thể được thể hiện qua các biểu hiện như việc tham gia kém, chống đối lại các can thiệp điều trị, có những cách cư xử mang tính phá phách, hoặc có thường xuyên hay tái nghiện lặp lại nhiều lần.

Biện pháp can thiệp cần sử dụng: đánh giá lại và điều chỉnh kế hoạch điều trị trong nội dung can thiệp nhóm hoặc can thiệp bổ sung. Miễn là người bệnh không bị phê thuốc trở lại hoặc không thích hợp, còn lại đều có thể cho phép họ tham gia nhóm nhưng cũng cần phải đề nghị họ lắng nghe và tham gia thảo luận. Người chủ trì nhóm nên trao đổi về hình thức này với người bệnh trước khi sinh hoạt nhóm. Cũng nên nói với người bệnh rằng anh ta/chị ta sẽ được tạo cơ hội để thảo luận về một số vấn đề khi buổi sinh hoạt kết thúc.

Kết thúc buổi sinh hoạt:

Người chủ trì cần thâu tóm lại những kết luận và tóm tắt nội dung thảo luận. Những vấn đề không hoặc chưa giải quyết được có thể được thừa nhận và thảo luận về những vấn đề cần thực hiện trong buổi gặp lần sau. Người bệnh những người đã chia sẻ và nêu lên những vấn đề quan trọng liên quan đến việc hồi phục của họ được định hướng sẽ tiếp tục thảo luận về các vấn đề này trong buổi sinh hoạt nhóm tiếp theo của họ. Yêu cầu những người có dấu hiệu lo lắng, giận dữ, phiền muộn hoặc những người đề cập đến cơn thèm muốn trong suốt buổi sinh hoạt cần phải tiếp tục ở lại sau buổi sinh hoạt. Hãy nói chuyện một cách ngắn gọn với họ về những vấn đề của cá nhân và lập kế hoạch cho họ có buổi can thiệp tư vấn cá nhân càng sớm càng tốt. Lưu ý nên kết thúc buổi sinh hoạt bằng một lưu ý mang tính tích cực. Tất cả các buổi sinh hoạt nên kết thúc bằng một lời hứa có sự tin tưởng và một cam kết sẽ tham gia nhóm vào tuần sau.

Mục đích:

1. Cho phép người bệnh liên hệ qua lại với các người khác trong qúa trình hồi phục.

2. Cung cấp các tài liệu cụ thể liên quan đến dự phòng tái nghiện.

3. Cho phép người đồng chủ trì chia sẻ với nhóm kinh nghiệm duy trì không sử dụng lại trong một thời gian lâu dài.

4. Tạo ra một số sự gắn kết giữa các bệnh nhân.

5.Cho phép người chủ trì nhóm tận mắt chứng kiện sự liên hệ qua lại giữa các bệnh nhân.

6. Cho phép bệnh nhân tận dụng việc tham gia vào các trải nghiệm của nhóm một cách lâu dài.

 

 

 

 

Chỉ dẫn cho người trị liệu

 

 

1. Rượu – Loại lại ma tuý hợp pháp

Vì rượu là một phần lớn trong đời sống hàng ngày của con người, nên người ta thường không nghĩ nó là một loại ma tuý. Bài tập này được thiết kế nhằm giúp người bệnh nhìn nhận ra các tình huống mà họ sẽ có thể phải đối mặt ở những nơi mà việc uống rượu dường như giống nha một điều gì đó cần phải làm. Lập các kế hoạch trước để đối phó với các tình huống như vậy có thể giúp người bệnh đối phó dễ dàng hơn với việc phải duy trì tình trạng kiêng khem không sử dụng.

2. Sự buồn chán:

Trong quá trình điều trị, điều cần thiết là phải luôn luôn lấp đầy cuộc sống bằng những hoạt động mới. Nhu cầu này không dừng lại sau một vài tháng kiêng khem không sử dụng mà còn kéo dài. Các sở thích, cách thức phản ứng tình huống hoặc các mối quan tâm mới sẽ góp phần làm cho cuộc sống trở nên thú vị. Sự buồn chán là một dấu hiệu cho thấy tình trạng trì trệ đang được thiết lập. Đây là một dấu hiệu cảnh báo về tình trạng tái nghiện và sẽ dẫn đến việc quay trở lại sử dụng ma tuý trừ khi thực hiện một số biện pháp nào đó. Sự buồn chán sẽ không dễ dàng qua đi, do vậy cần phải làm một số điều gì đó để đối phó với tình trạng này

.3. Tránh xu hướng tái nghiện trở lại/các đường mỏ neo:

Bài tập về các đường mỏ neo sẽ giúp ích cho người nghiện xác định rõ những gì họ đang làm là thực sự có ích và giám sát được các hành vi trong tương lai nhằm đảm bảo việc tiếp tục không sử dụng.

4. Việc làm và sự phục hồi:

Có một số vấn đề xung quanh việc làm và vì sao tình trạng về việc làm của người nghiện lại ảnh hưởng đến quá trình phục hồi. Tài liệu phát tay này sẽ giải quyết một số trong số các vấn đề như vậy ví dụ liệu người nghiện đó có đang thất nghiệp (?), có là người tham công tiêc việc hay đang có việc làm, tất cả những điều này đều có tác động dẫn đến việc khó khăn cho người đó phục hồi.

5. Mặc cảm tội lỗi và sự xấu hổ:

Mục đích của nhóm này là nhằm giúp người nghiện nhận thức được sự khác nhau giữa việc tham gia vào một hành vi xấu với việc trở thành một người xấu. Điều quan trọng là phải gán cho một số cảm xúc tiêu cực, những cảm xúc mà người nghiện sẽ cảm nhận được trong quá trình phục hồi như là việc có liên quan đến các hành vi chứ không phải là bản chất của con người đó. Cần khuyến khích người bệnh cởi mở chia sẻ những vấn đề này, nhưng nếu nhóm vẫn chưa tìm ra được một nơi an toàn cho một người bệnh cụ thể nào đó, thì hãy đừng bắt ép họ chia sẻ, tiết lộ các thông tin mà họ cảm thấy xấu hổ.

6. Duy trì trạng thái luôn bận rộn:

Cấu trúc không thể tồn tại trong một kế hoạch mà không có các hoạt động. Các thành viên trong nhóm có thể hỗ trợ cho nhau trong việc đưa ra các gợi ý về các hoạt động mang tính tích cực mà người bệnh có thể thực hiện để làm đầy thời gian nhàn rỗi của mình. Tài liệu phát tay này sẽ giúp giải thích cho người bệnh hiểu vì sao các khoảng thời gian nhàn rỗi có thể là một tác nhân có thể dễ dẫn đến người ta nghĩ đến việc sử dụng trở lại.

7. Động lực để phục hồi:

Trong qúa trình người bệnh trải qua giai đoạn phục hồi, các lý do khiến họ duy trì tình trạng không sử dụng cũng sẽ thay đổi theo. Hãy cố gắng nêu bật được những sự thay đổi này. Hãy khuyến khích người bệnh tập trung vào các lợi ích mà họ có thể có được khi phục hồi. Mỗi người bệnh nên được tạo cơ hội để chia sẻ một lý do giúp họ duy trì được việc không còn sử dụng như hiện nay. Còn đối với những người không thể làm được điều đó, thì có thể thảo luận về vấn đề của họ là gì và cần được giúp đỡ như thế nào để cam kết không sử dụng nữa.

8. Sự thành thực:

Sự thành thực là một trong những điều quan trọng nhất trong quá trình phục hồi. Bài tập này đưa ra ý tưởng rằng sự thành thực trong việc chống lại việc sử dụng là khác nhau giữa bản chất thực sự và hình thức thể hiện bề ngoài. Sự thành thực của người bệnh là điều thiết yếu để xây dựng nền tảng cho qúa trình phục hồi trong thực tế thay vì những ảo tưởng về tình trạng nghiện. Chủ đề này cần được nêu ra một cách nghiêm túc. Các câu hỏi ở phần cuối của tài liệu phát tay này cung cấp cho người bệnh một cơ hội để được thảo luận về các lĩnh vực mà trong đó sự thành thực vẫn còn là một vấn đề đối với cá nhân. Những ai đã dũng cảm thừa nhận rằng mình có sử dụng trở lại một cách thành thực cần phải được hoan nghênh vì sự thành thực của họ.

9. Kiêng sử dụng hoàn toàn:

Mỗi bệnh nhân đều đã có cam kết ngay khi bắt đầu tham gia chương trình điều trị rằng sẽ không sử dụng bất kỳ một loại ma tuý dạng thay thế nào hoặc chất cồn (rượu, bia). Đôi khi giá trị của cam kết này không rõ ràng đối với bệnh nhân. Việc thảo luận về chủ đề này cần được đưa vào chương trình sau khi người bệnh đã đồng ý đồng thời cũng cần đánh giá cao việc các thành viên trong nhóm giám sát nhau việc thực hiện các cam kết của chính họ.

10. Tình dục và sự phục hồi:

Mục đích của nhóm này là nhằm hỗ trợ người bệnh hiểu được sự khác nhu giữa quan hệ tình dục, như là việc mở rộng mối quan hệ thân mật, với các hành vi tình dục có tính kích thích. Đối với đa số, các hành vi tình dục có tính kích thích có liên quan chặt chẽ đến việc sử dụng ma tuý, trong khi quan hệ tình dục thông thường lại không. Cần phải chuẩn bị tinh thần để đối phó với những câu chuyện khôi hài từ các thành viên trong nhóm khi đề cập đến vấn đề này. Và do vậy người chủ trì và người đồng chủ trì cần phải giữ thái độ nghiêm túc để duy rì một không khí phù hợp khi thảo luận về vấn đề quan trọng này.

11. Dự phòng tái nghiện:

Tái nghiện không xảy ra một cách bất ngờ. Có những dấu hiệu cảnh báo về hành vi và suy nghĩ của người bệnh do vậy họ cần được chỉ bảo, hướng dẫn cách để kiểm soát tình huống. Ngoài ra, cũng thường có những cảm xúc xuất hiện trước khi người ta tái nghiện trở lại. Đây là một khái niệm rất nhạy cảm và khó phát hiện. Người nghiện cần được hướng dẫn về các dấu hiệu chỉ báo về tình trạng căng thẳng, hoặc hồi họpp ví như chứng mất ngủ, hồi hộp hoặc đau đầu, và để từ đó người nghiện biết nhìn nhận ra những điều đó chính là các dấu hiệu khiến họ có thể bị tái nghiện trở lại. Một khi các dấu hiệu chỉ báo về tái nghiện được xác đinh, cần nhanh chóng xúc tiến xây dựng một kế hoạch nhằm ứng phó với các nhu cầu thèm muốn của cá nhân. Việc học hỏi kinh nghiệm từ những lần tái nghiện trước để rút ra cách ứng phó cho các lần tiếp theo là vô cùng quan trọng.

12.  Sự tin tưởng:

Các mối quan hệ của người bệnh đã bị phá hỏng trong suốt quá trình người đó nghiện. Cần phải có thời gian để mối quan hệ đó bắt đầu được cải thiện ngay cả khi việc sử dụng ma tuý chưa được người nghiện từ bỏ hoàn toàn. Bài tập này cho phép người bệnh thừa nhận một thực tế là gia đình và bạn bè của họ có những lý do để nghi ngờ họ, và cần phải thảo luận về việc chính những phản ứng của họ dẫn dến sự nghi ngờ đó. Điều cần thực hiện ở đây là con người không thể đơn giản quyết định tin tưởng một ai, mà lòng tin chỉ có thể có được trở lại như là kết quả của việc người đó tiếp tục kiêng không sử dụng ma tuý.

13. Lịch thiệp, không mạnh mẽ:

Điểm mấu chốt của bài tập này là việc bạn không thể mạnh mẽ hơn việc nghiện. Muốn trở thành người từ bỏ được ma tuý vẫn là chưa đủ, cho dù ý nghĩ đó mạnh mẽ đến chừng nào. Điều cần thiết là phải duy trì một khoảng cách tối đa tránh xa ma tuý bằng việc tránh các nguy có và thiết lập được các hoạt động mang tính tích cực, không có liên quan đến ma tuý. Đây là một nguyên tắc cơ bản trong qúa trình phục hồi. Giữ một khoảng cách không để việc tái nghiện xảy ra, bản thân điều này đã là việc phục hồi. Tuy nhiên, điều này cho phép hướng đến kết quả phục hồi toàn diện.

14. Xác định các vấn đề thuộc về tinh thần:

Phần này tập trung vào việc giúp người bệnh hiểu được sự khác biệt giữa tôn giáo và tinh thần như được nêu trong chương trình 12 bước. Điều cực kỳ quan trọng đối với những ai nghĩ rằng các chương trình tự giúp đỡ là tôn giáo chứ không mở rộng khái niệm về các vấn đề tinh thần. Chủ đề này cần được thảo luận thoải mái và không nêu ra như một yếu tố thúc đẩy chương trình điều trị 12 bước.

15. Quan tâm đến việc kinh doanh/quản lý tiền:

Nhiều nhiệm vụ bình thường trong cuộc sống thường ngày của người nghiện bị phớt lờ khi họ sống trong một cuộc sống chìm đắm trong nghiện ngập. Hãy khuyến khích các thành viên trong nhóm thảo luận về những nhiệm vụ cụ thể mà họ đã phớt lờ, bỏ qua và bổ thêm các nhiệm vụ khác tương tự cho họ. Cần đảm bảo chắc chắn là người bệnh không cảm thấy qúa tải và bị chìm đắm trong các nhiệm vụ sau khi họ tham gia thảo luận vấn đề này.

Hãy trao đổi về thời gian và tiền bạc chính là hai nguồn chính mà mỗi chúng ta phải tiết kiệm vì chúng ta phải lựa chọn chúng cẩn trọng. Hãy chỉ ra cho ho thấy những sự lựa chọn này sẽ quyết định chất lượng cuộc sống một con người. Việc sử dụng các câu hỏi nhằm thảo luận với mỗi bệnh nhân về tình huống, điều kiện của cá nhân họ liên quan đến tiền. Phần này cung cấp cho người nghiện một cơ hội tuyệt vời để giảm bớt cảm giác xấu hổ và tội lỗi mà chính những cảm giác này vẫn tồn tại làm ảnh hưởng đến các hành vi liên quan đến tiền trong quá khứ của người nghiện. Nhấn mạnh vào sự khác biệt giữa hành vi của người nghiện đối với tiền và hành vi của người không nghiện đối với tiền.

16. Lý lẽ bào chữa cho việc tái nghiện I:

Suy nghĩ cho rằng bản chất của một người dẫn đến việc người ta dùng ma tuý là nội dung xem xét trong phần này. Điều phải làm ở đây là cần phải nhấn mạnh rằng một người có thể ít bị ảnh hưởng bỏi các lý lẽ bào chữa cho việc tái nghiện nếu những lý lẽ này được xác định và đánh giá trước về thời gian. Hãy đề nghị người bệnh chỉ ra những lý lẽ cụ thể về tình trạng tái nghiện để từ đó họ có thể bị tái nghiện trong quá khứ.

17. Quan tâm, chăm sóc bản thân:

Nội dung phần này tập trung là nhằm nâng cao nhận thức của người bệnh về các kinh nghiệm thực tế phổ biến về việc tự quan tâm, chăm sóc bản thân và đánh giá xem đến nay họ đã thực hiện được việc từ bỏ được các thói quen trước khi nghiện như thế nào. Nhấn mạnh việc chăm sóc bản thân về mặt sinh lý có thể cải thiện như thế nào sự tự tin và nhấn mạnh đến việc tự quan tâm, chăm sóc bản thân , từ đó gắn kết với vấn đề phục hồi.

18. Các cảm xúc nguy hiểm:

Một số loại trạng thái tiêu cực là yếu tố dễ dàng thúc đẩy người nghiện sử dụng ma tuý trở lại. Tài liệu phát tay này sẽ giải thích về một số trạng thái cảm xúc thường gặp. Việc thảo luận có thể hỗ trợ các thành viên nhóm trong việc xác định những yếu tố cảm xúc nào có thể, hoặc dễ dàng thúc đẩy người ta sử dụng ma tuý trở lại.

19. Ốm đau:

Bị ốm hoặc thiếu năng lực sẽ khiến con người yếu đi về mặt thể lực và làm gián đoạn động lực trong quá trình phục hồi. Tần suất tái nghiện tiếp theo các giai đoạn này khiến người bệnh phải ngạc nhiên. Họ thường xuyên cảm thấy là họ không phải chịu trách nhiệm về quá trình này, và do vậy, họ cũng thất bại trong việc chịu trách nhiệm về việc có thể thực hiện được quá trình phục hồi hay không. Được cảnh báo trước tức là đã được trang bị trước.

20. Nhận biết tình trạng căng thẳng (stress):

Đây là một bài tập nhằm giúp người bệnh có thể nhận thức rõ hơn về bản thân mình và từ đó nhận biết được tốt hơn các dấu hiệu về tình trạng stress đối với những gì đang diễn ra. Thông tin này có thể được sử dụng trong các nhóm trong tương lai khi có bằng chứng về các chỉ báo được xác định liên quan đến tình trạng stress. Người bệnh có thể chỉ ra một cách rõ ràng các dấu hiệu về tình trạng stress nhưng vẫn chưa giỏi xác định các dấu hiệu của chính bản thân mình. Người chủ trì và các thành viên trong nhóm có thể có khả năng giúp mang đến những dấu hiệu để thu hút sự chú ý của người bệnh.

21. Lý lẽ bào chữa cho sự tái nghiện II:

Chủ đề này là một sự tiếp tục của lý lẽ bào chữa cho sự tái nghiện I với một số dạng lý lẽ bổ sung thêm được mô tả.

22. Giảm stress:

Một khi các dấu hiệu của tình trạng stress được nhận biết thì điều quan trọng là khả năng có thể biến hành vi thành việc giảm mức độ. Khi người bệnh trở nên quen thuộc với nhiều kỹ thuật khác nhau, họ cũng nên được khuyến khích áp dụng các kỹ thuật này vào trong cuộc sống hàng ngày của mình để nhằm ngăn ngừa việc tích tuỹ các trạng thái stress thái quá.

23. Quản lý sự tức giận:

Sự tức giận nhiều lần được định nghĩa như là một yếu tố thúc đẩy các trạng thái cảm xúc tiêu cực không chống cự được. Mục đích của bài tập này là nhằm cung cấp cho người bệnh nhiều cách để đối phó với cơn tức giận, nhằm tránh cảm giác quá ức chế, và tránh việc dẫn đến tái nghiện.

24. Chấp nhận:

Chấp nhận thực tế rằng bạn là một người nghiện, và vì vậy bạn cần duy trì một số ngưỡng giới hạn nhất định, là một điều khó khăn. Đây tương tự như bước đầu tiên của quá trình tư vấn AA. Sử dụng bản tài liệu phát tay này nhằm giúp cho người bệnh hiểu rằng “việc từ bỏ không sử dụng ma tuý” là bước đầu tiên trong quá trình lấy lại được sự kiểm soát về cuộc sống của chính họ.

25. Kết bạn với những người bạn mới:

Những người bắt đầu bước vào giai đoạn phục hồi thường nỗ lực duy trì các mối quan hệ liên quan đến ma tuý trong khi họ lại muốn từ bỏ không dùng ma tuý. Tài liệu phát tay phần này có xu hướng được sử dụng nhằm giúp những bệnh nhân bắt đầu có những cách nhìn nhận chỉ trích những người mà lựa chọn việc dành thời gian vô bổ cho việc sử dụng ma tuý. Những người mới đi theo con đường từ bỏ ma tuý cần được giúp đỡ để hiểu về quá trình gặp gỡ và kết bạn với những người bạn mới và dần dần quyết định rằng liệu những người đó có thể xứng đáng là bạn bè của mình hay không. Giúp họ phân biệt được giữa những người bạn khác những người họ quen và nghĩ đến những nơi mới để gặp gỡ những người mới.

26. Chuẩn bị cho các mối quan hệ:

Bài tập này có thể được giới thiệu khi có một số vấn đề cần chú ý tức thời hoặc đối với những người mới tham gia chương trình điều trị, có một số việc cần phải suy nghĩ và chú ý sau này. Với một số tài liệu phát tay, phần đầu tiên của bảng biểu này có thể được hoàn thành và thảo luận trước khi chuyển đến các câu hỏi cuối cùng. Người bệnh sẽ cần giúp đỡ trong việc quyết định xem những can thiệp nào là phù hợp. Chủ đề này được giới thiệu song hành với bước 8 trong chương trình 12 bước.

27. Cầu nguyện sự thanh thản:

Khái niệm về việc có khả năng phân biệt sự khác nhau giữa những điều có thể bị kiểm soát với những điều không thể bị kiểm soát là một khái niệm cơ quan và quan trọng để tiếp tục phục hồi. Việc không hiểu được khái niệm này có thể dẫn đến sự thất vọng, giận dữ, căng thẳng và dễ dẫn đến tái nghiện trở lại. Không nên nhấn mạnh vào tầm quan trọng của việc sử dụng một bài thơ như một lời cầu nguyện. Hãy sử dụng những ví dụ trong việc giải quyết tình trạng giao thông, việc làm, xử trí các mối quan hệ với chính vấn đề giao thông, việc làm hay mối quan hệ đó để áp dụng với việc nghiện ma tuý.

28. Các hành vi có xu hướng ép buộc/Phòng chống tái nghiện đối với tình dục

Không có một câu trả lời nào là chung cho tất cả mọi người về vấn đề này. Một số người cần từ bỏ mọi thứ ngay một lúc và điều đó có thể có kết quả đối với họ. Nhưng những người khác có thể cố gắng để làm như vậy nhưng vẫn tái nghiện vìhọ không thể đạt được một mục tiêu mà đối với họ là không thể làm được. Hãy cố gắng giúp đỡ người bệnh hiểu rằng không có một “con đường nào là đúng duy nhất” và cần phải nâng cao nhận thức của họ để họ hiểu được thực sự những gì là có hiệu quả đối với họ. Việc đặc biệt khinh thường đối với việc nghiện có thể dẫn đến những hành vi/vấn đề mang tính cưỡng ép.

29. Giải quyết các cảm giác/suy yếu thể lực:

Nội dung tập trung chủ yếu của phần buổi tư vấn/can thiệp này là cần phải giúp người nghiện trở nên nhận thức hoặc chấp nhận được các cảm xúc của chính họ hoặc từ chối chúng. Một số bệnh nhân sẽ có đủ nhận thức để tiến tới việc xử lý các phản ứng. Các câu hỏi được đưa ra nối tiếp theo mức độ nhận thức. Hãy tập trung vào các mức độ nhận thức phù hợp của mỗi cá nhân.

Có một vấn đề thường gặp đối với những người nghiện mới từ bỏ ma tuý. Đối với một số người, các triệu chứng chỉ đơn thuần là một chỉ báo cho thấy quá trình hồi phục đang tiến triển. Tất cả những gì họ đều cần phải hành động là duy trì tình trạng không sử dụng đó và các triệu chứng sẽ giảm bớt. Đối với những người khác, tình trạng rối loạn dẫn đến suy yếu về thể lực thực sự bộc lộ trong suốt các giai đoạn không sử dụng. Đối với những người này, việc đánh giá và điều trị hợp lý tình trạng rối loạn suy yếu thể lực là cần thiết.

30. Chương trình 12 bước:

Mục đích của tài liệu phát tay này là nhằm thúc đẩy sự tác động trong các chương trình tự hỗ trợ. Đối với những người không đi theo tôn giáo, hãy nhấn mạnh đến các lợi ích đối với xã hội. Còn đối với những người hay ngại ngùng tham gia các hoạt động nhóm, hãy chú ý đến nhóm nhỏ, hoặc tính chất tham gia các buổi gặp gỡ được giữ kín tên cá nhân hoặc không có tính bắt buộc. Đối với những người đã tham gia các buổi gặp gỡ thì hãy sử dụng bảng biểu này để đánh giá về các loại hỗ trợ khác nhau mà họ đã nhận được trong qúa trình điều trị và thông qua các buổi gặp. Cả 2 loại hỗ trợ trên đều có giá trị nhưng mức độ tác động là khác nhau.

31. Nhìn về phía trước: Giải quyết những thời gian chết.

Việc lập kế hoạch về những hòn đảo nghỉ ngơi và tái tạo trong tương lai nhằm duy trì qúa trình phục hồi tránh không tình trạng không có điểm dừng và rồi thất bại. Những ốc đảo này cung cấp một vài việc để làm để tiến tiếp và chúng cũng giúp thư giãn để tiến tới việc có thể vượt qua được khó khăn. Khuyến khích người bệnh xác định được những hòn đảo tiềm năng. Nhấn mạnh với họ rằng việc xây dựng hòn đảo cần được duy trì để trở thành một hoạt động liên tục trong suốt qúa trình phục hồi.

32. Một ngày trong qúa khứ:

Hầu hết bệnh nhân bắt đầu một qúa trình phục hồi bằng một đống đổ nát trong qúa khứ, những điều có thể quy cho là, và là một phần tương đối lớn, đối với lịch sử về việc sử dụng ma tuý hoặc rượu/bia của họ. Việc dọn sạch đống đổ nát này thường dẫn tới cảm giác qúa thất vọng và làm tê liệt các nỗi sợ hãi về tương lai của bản thân có thể sẽ bị “đào thải”. Những cảm giác tiêu cực này dựa trên một mức độ căng thẳng khác, điều mà có thể dẫn đến việc họ tái nghiện trở lại. Chủ đề này sẽ giúp người bệnh tập trung vào hiện tại và hy vọng là có thể giúp cho các khách hàng tránh được các cảm giác bị quá tải.

33. Các chủ đề tự chọn:

Sử dụng một chủ đề tự chọn phù hợp từ phần được nêu dưới đây:

Các hoạt động mang tính tái tạo:

Bệnh nhân chắc hẳn đã được nhắc nhở về tầm quan trọng của việc đưa thêm những hoạt động mới vào đời sống của mình đồng thời duy trì tránh không sử dụng. Phục hồi giúp làm cho cuộc sống trở nên vui tươi và hấp dẫn với những hoạt động mới có tính tái tạo. Hãy thận trọng với những bệnh nhân mà tất cả các hoạt động mới đều không khiến họ vui ngay được, mà tất cả các sở thích và hoạt động tái tạo trước kia dường như cũng không giống trước khi không có ma tuý. Không phụ thuộc vào việc các cảm giác đó như thế nào, điều cần thiết là phải tiếp tục thử với các hoạt động mới.

Xem xét, đánh giá tình trạng của bệnh nhân:

Việc xem xét, đánh giá này sẽ giải quyết nhiều vấn đề trong phòng ngừa tái nghiện: như việc vui chơi, luyện tập, các mối quan hệ, các cơn thèm nhớ,… Phạm vi rộng lớn của các vấn đề liên quan đến phục hồi được làm rõ qua việc xem xét, đánh giá này. Điều này cần được làm rõ với việc lưu ý rằng việc dự phòng tái nghiện thành công được đòi hỏi một sự đánh giá, nhìn nhận qua từng thời kỳ đối với những lĩnh vực này trong suốt quá trình phục hồi. Thảo luận về các lĩnh vực có khó khăn, nhận được các gợi ý để cải thiện tình hình khó khăn đó. Không nên đọc qua các mục của tất cả mọi người một cách tuần tự. Mà thay vào đó hãy chọn mục ở dưới cùng trang giấy rồi thảo luận vấn đề cụ thể đó.

Các kỳ nghỉ và quá trìnhphục hồi:

Các kỳ nghỉ, cụ thể như mùa Giáng sinh Năm mới, có thể là một thời điểm khó khăn. Hãy bổ sung thêm chủ đề này vào kế hoạch của cuối năm hoặc vào những dịp nghỉ khác, như là ngày 4/7. Nhận thấy được khó khăn của các giai đoạn này đối với những người mới phục hồi và giúp đỡ họ đưa ra những ý tưởng để giải quyết khó khăn trong những thời điểm như vậy.

 

NHÓM GI ÁO D ỤC GIA Đ ÌNH

 

 

 

 

Triết lý

Nhóm này thường là nhóm đầu tiên với sự tham dự của người bệnh và gia đình của họ. Nhóm này cung cấp một môi trường không có tính răn đe mà trong đó các thông tin về việc nghiện có thể được trình bày. Đây là một cơ hội giúp cho người bệnh và gia đình của họ cảm thấy thoải mái và được hoan nghênh trong việc hỗ trợ người nghiện điều trị. Các tư liệu được nêu ra trong những phần thảo luận này cung cấp một phạm vi rộng lớn các thông tin về vấn đề nghiện, điều trị, phục hồi và làm thế nào để tác động được đến gia đình. Một số chủ đề được sử dụng cụ thể trọng mô hình Matrix này trong khi có một số chủ đề khác lại giải quyết nhiều vấn đề chung hơn.

Nhóm giáo dục gia đình tương tự như một dạng nhóm nhiều gia đình, chỉ trừ một điểm khác biệt đó là các buổi sinh hoạt thường rất tập trung và dựa trên cơ sở thông tin. Điều quan trọng là các thành viên trong gia đình được mời tham gia với tư cách cá nhân bởi cán bộ trị liệu ban đầu để tham gia vào chuỗi các buổi thảo luận. Sự tương tác mang tính tiêu cực của các gia đình ngay khi bắt đầu điều trị thường dẫn đến việc người bệnh cho rằng mình sẽ phải thực hiện chương trình điều trị môt mình. Nghiên cứu mang tính hệ thống về gia đình đã cho thấy nếu cha mẹ có liên quan chặt chẽ đến các yêú tố quan trọng khác, các thành viên này là một phần trong qúa trình phục hồi khi họ có tham dự hoặc không tham dự tại phòng khám. Những thay đổi của việc thành công trong điều trị tăng lên rõ rệt nếu những thành viên quan trọng khác trong gia đình có thể được giáo dục về những thay đổi có thể dự đoán được trước sẽ diễn ra trong mối quan hệ với người bệnh trong suốt qúa trình phục hồi. Cán bộ trị liệu ban đầu cần giáo dục, khuyến khích và tạo điều kiện hỗ trợ cho sự tham gia của những thành viên quan trọng khác cũng như cha mẹ người nghiện trong nhóm giáo dục gia đình.

Hình thức

Một seri các buổi sinh hoạt gia đình mang tính giáo dục bao gồm 12 tuần đưa ra các vấn đề, chủ đề mang tính thông tin dưới nhiều dạng khác nhau.

3 chủ đề được trình bày bằng slide và 6 chủ đề dạng băng video. 9 buổi sinh hoạt với 9 chủ đề này và thời lượng 1,5 giờ/chủ đề bắt đầu bằng một phần trình bày từ 40-45 phút cung cấp thông tin và tiếp sau đó là thảo luận về tài liệu vừa được trình bày.

Một trong số 12 buổi sinh hoạt dưới dạng trình bày đối thoại. Hình thức trình bày đối thoại bao gồm giới thiệu chung về các nội dung sẽ trình bày, từng thành viên trình bày ý kiến cá nhân về một vấn đề/câu hỏi và trả lời liên quan tiếp theo dẫn chứng mộtcâu chuyện cụ thể và cuối cùng người chủ trì sẽ tóm lược lại các thông tin do thành viên đó chia sẻ.

3 trong số các chủ đề được đưa ra dưới dạng thảo luận nhóm có sử dụng các bảng tài liệu phát tay. Trong buổi sinh hoạt này người chủ trì nhóm, sử dụng các tài liệu phát tay trong vòng từ 10-15 phút, trình bày về chủ đề. Tiếp theo phần trình bày là thảo luận về chủ đề với việc người chủ trì nhóm đóng vai trò như một người hướng dẫn/hỗ trợ nhóm thảo luận.

Tài liệu bao gồm nội dung của 3 phần trình bày slide, đề cương và tài liệu phát tay để thảo luận nhóm, hướng dẫn cho người trình bày về dạng trình bày đối thoại, tóm tắt băng video, tài liệu phát tay cho học viên đi kèm với phần trình bày bằng video, và một danh sách các địa chỉ/địa điểm có thể có được các băng video theo gợi ý.

Chủ đề cần được đưa ra có trật tự, có sự chuẩn bị sắp xếp nhằm đảm bảo phù hợp với tất cả người bệnh và gia đình họ. Hướng dẫn bao gồm một trật tự cá chuỗi chủ đề đã được gợi ý, đảm bảo một chương trình mang tính toàn diện. Các chủ đề tập trung vào ma tuý, rượu bia hoặc các vấn đề của gia đình được bố trí sao cho có thể được trình bày sắp xếp trong vòng phù hợp với giai đoạn 4 tuần.

Người chủ trì nhóm có trách nhiệm tổ chức ghế ngồi, các thiết bị nói, video, slide và tài liệu phát tay. Nếu có điều kiện, các ghế ngồi nên được bố trí dưới dạng bán vòng tròn (hình chữ C) để khuyến khích, thúc đẩy các thành viên tham gia thảo luận. Người chủ trì nhóm cũng nên đóng vai như người chủ nhóm, chào mừng các bậc cha mẹ và các gia đình, và giới thiệu về bản thân anh ta/chị ta với các thành viên mới. Các bảng biểu để đăng ký được truyền cho nhau và người chủ trì nhóm cần đảm bảo được rằng cả cha mẹ và các thành viên trong gia đình đều được khen ngợi vì đã tham gia vào hoạt động này.

Các phần trình bày cần bắt đầu đúng giờ. Người chủ trì nhóm giới thiệu về mình, đề nghị những người sẽ trình bày giới thiệu về bản thân họ và trình bày chủ đề của buổi sinh hoạt tối ngày hôm đó. Đối với những bài trình bày bằng slide, cần lưu ý để đèn phòng tối đi một chút và bắt đầu trình bày. Khi chiếu băng video, người chủ trì nên giới thiệu chung và sau đó ở lại trong phòng cùng mọi người xem khi băng chạy. Nếu là trường hợp trình bày đối thoại, người chủ trì cần hỗ trợ cho các thành viên đối thoại và những khán giả khác trong nhóm giới thiệu để họ làm quyen với nhau. Người chủ trì đóng vai trò như một người trung gian của nhóm. Các nhóm thảo luận cũng được tiến hành với sự chủ trì của người chủ trì nhóm – người có trách nhiệm hỗ trợ giới thiệu và hướng dẫn quá trình thảo luận.

Trước khi cho chạy băng video, người chủ trì phân phát các tài liệu phát tay đã được thiết kế nhằm tập trung sự chú ý của khán giả và khuyến khích, thúc đẩy họ thảo luận sau khi xem xong. Trong khi trình bày bằng slide và băng video, người chủ trì có thể dừng lại và đưa ra một số lời nhận xét, giải thích cụ thể về phần tư liệu đang được trình chiếu. Người bệnh và các thành viên trong gia đình cần được khuyến khích nêu câu hỏi. Các thảo luận tại cuối phần trình bày sẽ trên cơ sở xuất phát từ các vấn đề nêu trong các tài liệu phát tay và phần giải thích, bình luận của người hướng dẫn.

Người chủ trì nên nhận biết rằng các thảo luận về việc sử dụng ma tuý và rượu/bia có thể như một yếu tố kích thích tác động đến người bệnh và có thể kích thích các cơn thèm nhớk, đặc biệt là đối với những người nghiện các chất kích thích. Bất kỳ ai có tác động này xảy ra đều nên ở lại sau buổi sinh hoạt nhóm và trao đổi với cán bộ trị liệu về vấn đề của mình cho đến khi họ cảm thấy mình có thể tập trung lại được. Họ cũng có thể sẽ muốn gọi điện về nhà và để cho các thành viên trong gia đình biết họ đã bắt đầu trên đường trở về nhà. Người chủ trì cần thắt chặt mối quan hệ với nhóm bằng việc cảm ơn mọi người đã tham dự và nhắc mọi người về chủ đề của tuần tiếp theo.

Khi các thành viên rời nhóm và văn phòng, người chủ trì nên ở lại để sẵn sàng trả lời các câu hỏi và trò chuyện với bất cứ bệnh nhân nào có thể có xảy ra một vấn đề gì đó trong buổi thảo luận hoặc là người mong muốn trò chuyện riêng với người chủ trì.

Mục đích:

1. Nhằm trình bày các thông tin một cách chính xác về vấn đề nghiện, phục hồi, điều trị từ đó dẫn đến khuyến khích sự tham gia thông qua việc trình bày các tài liệu cập nhật nhất hiện có.

2. Nhằm giảng dạy, thúc đẩy và khuyến khích từng cá nhân cha mẹ, thành viên trong gia đình trong các mối quan hệ liên quan đến nghiện ma tuý.

3. Nhằm cung cấp một không khí có tính chuyên môn cao nơi cha mẹ và gia đình người bệnh được đối xử trong phẩm giá và tôn trọng.

4. Nhằm cho phép người bệnh và gia đình có cơ hội thoải mái trong việc hỗ trợ người nghiện điều trị, phục hồi.

5. Nhằm cung cấp cho cha mẹ và các thành viên trong nhóm một hình thức sinh hoạt nhóm không mang tính răn đe và trải nghiệm với những người khác đang trong giai đoạn phục hồi và gia đình họ.

6. Nhằm cung cấp một hợp phần chương trình được thiết kế cho người bệnh và gia đình họ để trong đó họ có thể cùng tham gia với nhau.

7. Nhằm giúp đỡ người bệnh hiểu về quá trình phục hồi có thể tác động đến các mối quan hệ hiện tại và tương lai như thế nào.

 

 

 

NHÓM HỖ TRỢ XÃ HỘI

 

 

 

Triết lý:

Các nhóm trong các giai đoạn tập trung của chương trình điều trị Matrix này tập trung vào việc hỗ trợ người bệnh trong suốt giai đoạn đầu của quá trình phục hồi. Nhóm giáo dục gia đình quan trọng như một phương tiện để chuyển tải thông tin giáo dục và để huy động sự tham gia của các yếu tố quan trọng khác trong quá trình điều trị. Nhóm kỹ năng phục hồi ban đầu và Giới thiệu các kinh nghiệm về phục hồi dạy về các kỹ năng phục hồi cơ bản, hướng dẫn và hỗ trợ sự tham gia 12 bước và khuyến khích người bệnh xây dựng quản lý được thời gian của bản thân thông qua việc lập lịch trình cá nhân. Nhóm dự phòng tái nghiện tập trung vào việc giữ và duy trì tình trạng không sử dụng để vượt qua quãng thời gian ban đầu không sử dụng nhằm chuyển đến giai đoạn giữa của quá trình không sử dụng.

Trong suốt giai đoạn giữa của qúa trình phục hồi, có một nhu cầu đối với người bệnh là cần có cơ hội để học tập các kỹ năng tái hoà nhập xã hội. Người phục hồi từ nghiện ma tuý, người đã học được cách làm thế nào để dừng việc sử dụng và làm thế nào để tránh bị tái nghiện sẽ sẵn sàng phát triển và duy trì một cách sống không ma tuý và điêù này sẽ hỗ trợ quá trình phục hồi mới.

Nhóm hỗ trợ xã hội được tổ chức như một cách để hỗ trợ người bệnh là những người đang ở giai đoạn giữa của quá trình phục hồi học tập được cách để tái hoà nhập xã hội với những người đã đoạn tuyệt với ma tuý ở mức độ cao hơn trong một môi trường thân thiện và an toàn. Người bệnh sau đó sẽ có cơ hội làm quen với các kỹ năng, nếu không phải là từ bạn bè, để hoà nhập hơn nữa vào quá trình sinh hoạt giống như cuộc sống ở ngoài trung tâm cai nghiện.

Nhóm này đặc biệt có ích với những người mà bản thân họ đóng vai trò như những điển hình, khuyến khích và tăng cường quá trình phục hồi của họ và buộc họ phải nhận thức và biết cách duy trì tình trạng không sử dụng ma tuý của mình.

Hình thức

Những người đủ điều kiện tham gia Nhóm hỗ trợ xã hội là những người đạt được sự phục hồi ổn định và đã hoàn thành giai đoạn tập trung trong Chương trình điều trị Matrix. Nhóm này luôn sẵn sàng tiếp nhận những bệnh nhân của chương trình Matrix IOP trong các tháng từ 4-12 và cho các bệnh nhân IRP trong các tuần từ 7-52. Các bệnh nhân cũng được yêu cầu phải là những người đóng vai trò như người đồng chủ trì trong các nhóm phục hồi theo mô hình Matrix. Những người ngoài cũng có thể được mời tham gia với sự suy xét kỹ càng của người chủ trì nhóm.

Các nhóm được định hướng về chủ đề sinh hoạt bởi một chủ đề một thế giới. Người chủ trì nhóm mở đầu buổi sinh hoạt bằng việc chào mừng các bệnh nhân, đề nghị họ giới thiệu về bản thân khi cần thiết, thông báo một số thông báo cần thiết và giới thiệu chủ đề của buổi sinh hoạt tối hôm đó. Sau khi giới thiệu chủ đề, người chủ trì nhóm sẽ hướng dẫn, hỗ trợ thảo luận. Nội dung thảo luận có thể bao gồm chủ đề của buổi sinh hoạt, vấn đề kiêng không sử dụng, các vấn đề hiện tại mà bệnh nhân có thể đang phải trải qua trong quá trình xây dựng, thiết lập một cách sống không có ma tuý.

Các nhóm thảo luận nên hạn chế số lượng khoảng từ 8-10 người để mỗi bệnh nhân đều có thời gian tham gia. Nếu nhóm lớn hơn, người trưởng nhóm có thể chọn một số thành viên đã từng là người đồng chủ trì nhóm và quan sát sự hỗ trợ của họ cho nhóm thảo luận dưới sự giám sát của người chủ trì. Những người hỗ trợ nhóm thảo luận cần được sàng lọc cẩn thận để đảm bảo một số tiêu chí như có mức độ ổn định về cảm xúc, có ưu điểm trong phục hồi, và tư duy tốt. Họ nên làm một cam kết tham gia đều đặn 6 tháng và cần gặp gỡ, trao đổi với người chủ trì nhóm trước buổi sinh hoạt nhóm để người chủ trì tóm tắt về chủ đề và một số vấn đề liên quan trước mắt đến các thành viên nhóm. Một tài liệu phát tay dành cho những người hướng dẫn nhóm được xây dựng kèm theo trong phần này. Các đề cương về thông tin cần được rà soát, xem xét bởi người chủ trì và người hướng dẫn trước phiên làm việc của người đó trong nhóm. Cuộc gặp gỡ trao đổi nhóm sẽ bố trí trong khoảng 1,5 giờ, nếu được chia thành các thảo luận nhỏ hơn, thì sau đó sẽ tập hợp lại trong nhóm lớn để tóm lược và sau đó giải tán bởi người chủ trì. Nếu có các vấn đề liên quan đến y tế cần có sự chú ý của người chủ trì trước khi cho nhóm giải tán, người hướng dẫn cần lưu ý cho người chủ trì biết để xử lý.

Mục đích:

1. Cung cấp một mô hình để tổ chức nhóm mang tính an toàn, thân thiện, ít cồng kềnh về cơ cấu, là nơi các bệnh nhân có thể bắt đầu luyện tập các kỹ năng tái hoà nhập xã hội của mình.

2. Hướng dẫn, hỗ trợ để tiếp cận những học viên hoàn thành chương trình – những người có thể đóng vai trò như những điển hình cho các bệnh nhân trong giai đoạn giữa của quá trình phục hồi.

3. Khuyến khích người bệnh tiếp tục mở rộng hệ thống hỗ trợ bản thân từ các bạn bè người đang hồi phục và không sử dụng.

4. Cung cấp một nhóm hỗ trợ cho bệnh nhân chuyển từ giai đoạn đầu của chương trình sang giai đoạn thứ hai của chương trình.

5. Cung cấp cho bệnh nhân cơ hội để sắp xếp đi ra ngoài các buổi gặp cùng với những học viên khác đã hoàn thành các chương trình điều trị theo mô hình Matrix.

 

 

 

 

Chỉ dẫn cho người trị liệu

 

Các chủ đề 1 từ sau đây là phù hợp để sử dụng trong các buổi sinh hoạt Nhóm hỗ trợ xã hội. Dưới mỗi từ là một số câu hỏi có thể được sử dụng để giới thiệu về chủ đề để thảo luận. Bạn có thể thêm các từ và tập trung các câu hỏi của mình. Tránh các câu hỏi “Tại sao” – nhằm tìm kiếm các động cơ bên trong có xu hướng làm cho các thành viên phản kháng lại. Các chủ đề có thể được sử dụng theo bất kỳ trật tự nào.

AA

1. Bạn cảm thấy như thế nào về các chương trình 12 bước?

2. Bạn đã tham gia khi nào và ở đâu?

3. Bạn có suy nghĩ như thế nào về việc chương trình nên hoặc không nên đối với bạn?

AGING (Vấn đề tuổi tác)

1. Vấn đề tuổi tác liệu có ảnh hưởng gì đến việc bạn từ bỏ không sử dụng?

2. Bạn nhìn nhận về vấn đề tuổi tác như thế nào?

3. Bạn mong đợi điều gì sẽ xảy ra khi bạn có tuổi?

ANGER (Sự giận dữ)

1. Bạn cảm thấy như thế nào về cách kiềm chế sự giận dữ của mình?

2. Bạn có cảm thấy như thế nào mỗi sự tức giận nhằm vào bạn?

3. Liệu sự giận dữ có phải là một trong những yếu tố dễ gây kích thích bạn sử dụng lại không?

CODEPENDENCY (cùng phụ thuộc)

1. Từ đó có ý nghĩa gì đối với bạn?

2. Liệu điều đó có diễn tả được hành vi của bạn không?

3. Bạn đang thay đổi những hành vi đó như thế nào?

COMMITMENT (Cam kết)

1. Điều đó có nghĩa gì đối với bạn?

2. Khi nào bạn nhìn thấy hoặc rơi vào tình thế như thế?

3. Bạn có cần thêm điều đó trong cuộc sống của bạn hiện nay không?

COMPULSIONS (Sự ép buộc)

1. Bạn đã bao giờ học về những gì bạn có thể và không thể kiểm soát chưa?

2. Bạn có thể buông tha các vấn đề mà bạn không thể kiểm soát không?

3. Bạn thay đổi những gì bạn có thể chứ?

CRAVINGS (Cơn thèm nhớ)

1. Bạn vẫn còn cảm thấy thèm nhớ phải không?

2. Khi nào bạn nhận ra các cơn thèm nhớ?

3. Bạn thèm nhớ cái gì?

DEPRESSION (Suy yếu về thể lực)

1. Liệu sự suy yếu về thể lực có phải là một yếu tố kích thích bạn sử dụng trở lại không?

2. Bạn giải quyết sự suy yếu bằng cách nào?

3. Điều trì góp phần làm cho bạn bị suy yếu?

EMOTIONS (cảm xúc)

1. Liệu đàn ông và phụ nữ có khác nhau về cảm xúc không?

2. Bạn có thể trở nên nhận biết tốt hơn về các cảm xúc của mình không?

3. Các cảm xúc của bạn có kiểm soát bạn từng thời điểm không?

FEAR (Nỗi sợ hãi)

1. Bạn sợ nhất điều gì?

2. Bạn đã được dạy phải sợ những gì?

3. Có những nỗi sợ kìm giữ bạn không?

FRIENDSHIP (Tình bạn)

1. Từ này có nghĩa gì đối với bạn?

2. Khi nào và bằng cách nào bạn đề nghị điều đó?

3. Bạn có cảm thấy thoải mái không khi đón nhận tình bạn?

FUN (niềm vui)

1. Bạn đã làm gì để mình vui?

2. Nghĩa của từ này có thay đổi không?

3. Bạn cảm thấy vui với ai?

GRIEF (Nỗi đau buồn)

1. Bạn đã bao giờ trải qua nỗi đau buồn?

2. Bạn làm thế nào để đối phó với cảm giác đó?

3. Bạn làm gì để tránh sự đau buồn?

GUILTY (Mắc lỗi)

1.Bạn cảm thấy có lỗi lần gần đây nhất là khi nào?

2. Việc mắc lỗi khác như thế nào so với xấu hổ?

3. Bạn có thể làm thế nào để giảm việc mắc lỗi của mình?

HAPPINESS (Hạnh phúc)

1. Hạnh phúc là gì?

2. Bạn có thể có được trạng thái đó không?

3. Bạn trải qua điều đó khi nào?

HONESTY (Tính chân thật)

1. Từ này đối với bạn quen thuộc như thế nào?

2. Liệu sự chân thật có tính tương đối không?

3. Phẩm chất này có quan hệ như thế nào với tự trọng?

INTIMACY (Sự thân mật, gần gũi)

1. Điều đó có ý nghĩa gì?

2. Bạn có sợ từ đó/cảm giác đó không?

3. Bạn đã bao giờ trải qua cảm giác đó chưa?

ISOLATION (Sự cô lập)

1. Đã bao giờ bạn trải qua tình trạng cô lập chưa ?

2. Cảm giác này liên quan đến việc bạn sử dụng ma tuý như thế nào ?

3. Làm thế nào để bạn tránh được cô lập ?

JUSTIFICATIONS (Sự bào chữa, biện hộ)

1. Bạn dễ bị tác động bởi lý lẽ nào nhất dẫn đến bị tái nghiện trở lại ?

2. Làm thế nào để bạn có thể giải quyết những lý lẽ biện hộ có thể xảy ra ?

3. Bạn có đang biện hộ cho những hành vi của người nghiện hiện nay không ?

MASKS (Sự nguỵ trang)

1. Bạn có thể hiện bản thân mình như mình đang cảm nhận không ?

2. Bạn có xử sự khác với những gì là con người thực của bạn không ?

3. Bạn thường nguỵ trang bản thân thường xuyên nhất là tại những nơi nào ?

OVERWHELMED (Cảm giác bị lấn át)

1. Những điều gì góp phần khiến bạn có cảm giác như vậy ?

2. Bằng cách nào bạn có thể đối phó với cảm giác đó ?

3. Lần cuối cùng bạn cảm thấy như thế nào là khi nào ?

PATIENCE (Sự kiên nhẫn)

1. Bạn có hài lòng với sự kiễn nhẫn thường ngày của mình không ?

2. Bạn có thể quá kiên nhẫn không ?

3. Bạn kiên nhẫn hơn với bản thân hay với người khác ?

PHYSICAL (thể lực)

1. Bạn cảm thấy như thế nào về thể lực của bản thân?

2. Bạn đang thay đổi về mặt thể lực như thế nào?

3. Bạn có nhìn nhận bản thân mình như người khác nhìn nhận bạn không?

RECOVERY (Phục hồi)

1. Bạn cảm thấy như thế nào về bản thân mình?

2. Bạn đang tập trung vào điều gì trong quá trình phục hồi?

3. Bạn có một mô hình phục hồi riêng không?

REJECTION (Bác bỏ)

1. Bạn có e sợ gì về điều này không?

2. Nếu điều đó xảy ra với bạn thì đó là việc gì?

3. Khi nào điều đó xảy ra với bạn?

RELAXED (thư giãn)

1. Bạn đã đạt được trạng thái này bằng cách nào?

2. Bạn có thích cảm giác này không?

3. Bạn đã nhìn thấy người những người lớn thư giãn như thế nào khi bạn lớn lên?

RULES (các quy tắc)

1. Bạn đáp lại các quy tắc bằng cách nào?

2. Bạn có xây dựng những quy tắc cho bản thân mình không?

3. Những quy tắc nào có hiệu quả đối với bạn?

SCHEDULING (Lập kế hoạch)

1. Bạn đã bao giờ học công cụ này chưa?

2. Khi nào bạn sử dụng công cụ này?

3. Điều gì khiến cho việc lập kế hoạch trở nên khó khăn?

SEFISH (Sự ích kỷ)

1. Có phải sự ích kỷ luôn là một vấn đề tiêu cực?

2. Bạn ích kỷ theo những cách như thế nào?

3. Bạn muốn thay đổi như thế nào liên quan đến khái niệm này?

SEX (Quan hệ tình dục)

1. Đây là một khái niệm tích cực và tiêu cực?

2. Những suy nghĩ gì khiến từ này trở thành một yếu tố gây kích thích tái nghiện?

3. Hãy đưa ra một điều gì mà bạn chưa bao giờ nghĩ là bạn sẽ trao đổi với nhóm.

SMART (Sự khéo léo, tài tình)

1. Bạn có thể khéo léo hơn khi bạn nghiện không?

2. Bạn đã từng cố gắng để trở nên mạnh mẽ hơn chưa?

3. Những điều gì là bạn đang đấu tranh mà bạn có thể tránh được?

THOUGHTS (Suy nghĩ)

1. Gần đây bạn có phải sử dụng đến kỹ năng dừng không suy nghĩ không?

2. Bạn có thường xuyên sử dụng kỹ năng này không?

3. Bạn nhìn thấy những điều gì trong suốt quá trình phục hồi này?

TRIGGERS (Yếu tố kích thích gây bùng phát)

1. Những yếu tố kích thích gì vẫn còn tồn tại trong cuộc sống hàng ngày của bạn?

2. Bạn đang cố gắng thay đổi điều đó như thế nào?

3. Liệu có những yếu tố/tính huống kích thích nào mà bạn không thể tránh khỏi không?

TRUST (Sự tin tưởng)

1. Sự tin tưởng là gì?

2. Đã bao giờ bạn tin tưởng ?

3. Người khác có tin tưởng bạn không ?

WORK (Làm việc)

1. Làm việc như thế nào và bạn phục hồi được năng lực làm việc của mình như thế nào ?

2. Công việc có ý nghĩa gì trong gia đình bạn ?

3. Bạn cảm thấy như thế nào về mối quan hệ của bản thân với công việc ?

 

XÉT NGHIỆM NƯỚC TIỂU

 

Triết lý

Những người đang trong quá trình điều trị ngoại trú cần càng nhiều công cụ càng tốt để hỗ trợ họ phục hồi. Để lấy lại được khả năng kiểm soát được cuộc sống của bản thân, người bệnh cần tận dụng các cấu trúc/yếu tố xung quanh cách cư xử của bản thân họ. Xét nghiệm nước tiểu là một phần trong cấu trúc có thể giúp họ kiểm soát và phòng chống được việc sử dụng ma tuý của bản thân. Xét nghiệm nước tiểu là một công cụ có giá trị được tiến hành đối với các bệnh nhân như là một cách nào đó có ích, hỗ trợ họ trong quá trình phục hồi. Công cụ này không nên áp dụng hoặc thực hiện ngay từ đầu như một biện pháp nhằm giám sát người bệnh, mà cần coi đó như một phương tiện để tìm hiểu "thực sự điều gì đang diễn ra" đối với người bệnh, việc xét nghiệm này cần được đưa ra sử dụng như một cách để giúp người một người không sử dụng ma tuý. Cũng không nên thực hiện việc xét nghiệm này như một cách để cho thấy cóviệc không tin tưởng vào sự trung thực của một người nào đó. Xét nghiệm nước tiểu sẽ giúp cán bộ trị liệu và người bệnh giữ cho cách cư xử của người bệnh phù hợp với tiến độ phục hồi.

Các kết quả xét nghiệm có thể ít khi cho thấy tình trạng sử dụng ma tuý mà trước đó chưa được khai báo. Các kết quả xét nghiệm có thể cung cấp một số dữ liệu về y tế có giá trị khác liên quan đến tình trạng nghiện của bệnh nhân ví dụ như đối với trường hợp đã xảy ra việc tái nghiện nhưng bệnh nhân lại không thể nói điều đó. Thực tế của tình trạng tái nghiện và việc che giấu sự thật làm cho việc xét nghiệm nước tiểu trở thành một thành tố thiết yếu trong bất kỳ một chương trình điều trị nghiện ma tuý ngoại trú nào.

Cuối cùng, xét nghiệm nước tiểu là một cách chứng tỏ không có tình trạng nghiện hoặc cho thấy đang nghiện. Các cá nhân bị gia đình, bạn bè hoặc chủ cơ quan nghi ngờ là đang có vấn đề liên quan đến ma tuý và nhừng người đang bị đánh giá như vậy có thể tham gia vào một chương trình xét nghiệm nước tiểu để được sáng tỏ về kết quả liên quan đến ma tuý hoặc không. Xét nghiệm nước tiểu có thể được thực hiện với các cá nhân trong những trường hợp trên như là một cách hữu ích về việc có tài liệu giúp ích cho những bất đồng liên quan đến vấn đề này được sáng tỏ. Ngoài ra, một xét nghiệm có kết quả dương tính sẽ cung cấp một bằng chứng không thể bác bỏ được. Nên có một thoả thuận thống nhất giữa các bên liên quan trước khi bắt đầu chương trình xét nghiệm để có cơ sở giải quyết những gì sẽ xảy ra nếu kết quả xét nghiệm là dương tính hay âm tính.

Hình thức 

Tất cả bệnh nhân đều được yêu cầu cung cấp một mẫu xét nghiệm để phân tích các yếu tố liên quan đến ma tuý mỗi tuần một lần. Ngày xét nghiệm không được định trước nhưng nên là một ngày nào đó gần những thời điểm có nguy cơ tái nghiện cao (như dịp cuối tuần, ngày thăm gặp,…). Những xét nghiệm ngoài kế hoạch cũng có thể được yêu cầu nếu hành vi của người bệnh cho thấy điều đó. Bỏ lỡ không tham những buổi hẹn gặp mà không có lý do hoặc giải thích, những cách cư xử không bình thường trong các buổi sinh hoạt nhóm, hoặc gia đình báo cáo là có những hành vi khác thường có thể là cơ sở cho thấy việc cần phải có xét nghiệm ngoài kế hoạch. Cán cán bộ cũng nên nhạy cảm trước những biểu hiện lúng túng/bối rối của bệnh nhân và tránh bất kỳ một cuộc thảo luận không cần thiết nào tại nơi đông người hoặc đùa cợt về việc xét nghiệm.

Chai đựng nước tiểu cần được dán nhãn và đưa cho bệnh nhân để lấy mẫu xét nghiệm. Cần phải cẩn thận trong việc xử lý các mẫu xét nghiệm và nên đi găng tay cao su trong lúc đóng gói mẫu. Cán bộ cần đề nghị những người giám sát hướng dẫn đối với các trường hợp bệnh nhân viêm gan hoặc là người nhiễm HIV. Mẫu xét nghiệm được sàng lọc để phục vụ riêng mục đích kiểm tra chất ma tuý. Các sàng lọc khác có thể được yêu cầu thực hiện chỉ khi có những lý do cụ thể (ví dụ giám sát giảm đau, tiền sử sử dụng ma tuý, gia đình hoặc chủ lao động báo cáo có sử dụng loại ma tuý khác).

Cũng nên ít đề nghị sàng lọc xét nghiệm chất cồn. Cán bộ có thể dựa vào mùi hoặc hơi thở để phát hiện có sử dụng cồn hay không. Việc sàng lọc chất cồn sẽ không cho thấy điều gì liên quan đến tình trạng sử dụng cồn của bệnh nhân ngoại trừ khẳng định mức độ cồn hiện tại trong máu. Ví dụ, nếu bạn có thể phát hiện ra mùi cồn, xét nghiệm nước tiểu cũng sẽ cho kết quả dương tính. Tuy nhiên, xét nghiệm sẽ không có kết quả dương tính nếu người bệnh đã sử dụng cồn trước đó 24 giờ và từ đó đến lúc xét nghiệm họ không dùng tiếp.

Sàng lọc tổng thể cần được thực hiện trong những trường hợp có một số lý do để nghi ngờ một người đã sử dụng loại ma tuý mà trước đó chưa khai báo. Cần phải chờ ít nhất 4 tuần trước khi một sàng lọc THC đối với một người sử dụng cần sa lâu năm có thể có ý nghĩa. Trong một số trường hợp, có thể sẽ là cần thiết phải chờ đến 8 tuần trước khi tiến hành xét nghiệm THC. Đối với những người sử dụng ít, việc sàng lọc có thể được thực hiện ngay sau 10 ngày từ thời điểm họ bắt đầu kiêng không sử dụng. Nếu có lý do hợp lý để thu thập được thông tin về mức độ cần sa cụ thể hơn, thì có thể bố trí thực hiện các xét nghiệm đặc biệt về chất lượng.

Xử lý khi kết quả xét nghiệm nước tiểu là dương tính

Trong điều trị, một xét nghiệm nước tiểu cho kết quả dương tính không mong đợi là một sự kiện hết sức đáng quan tâm. Điều đó có thể có nghĩa là người đó đã có 1 lần sử dụng ma tuý hoặc có thể điều đó chỉ ra rằng anh ta đang quay lại việc sử dụng nhiều lần. Để ứng phó với kết quả dương tính này :

1. Hãy đánh giá lại trong một thời gian gần thời điểm tiến hành xét nghiệm. Liệu còn có những chỉ báo khác cho thấy vấn đề sử dụng lại như là vắng không có mặt tại các buổi hẹn gặp, có những cư xử hoặc thảo luận không bình thường trong các buổi sinh hoạt nhóm hoặc các buổi điều trị hay gia đình báo cáo về những hoạt động khác thường ?

2. Không nên đối đầu với người bệnh. Mà thay vào đó, hãy cho anh ta cơ hội để giải thích về kết quả đó. Ví dụ, "tôi đã nhận được kết quả dương tính trong xét nghiệm nước tiểu của anh từ phòng thí nghiệm chuyển lên từ chủ nhật trước. Liệu có điều gì đã xảy ra trong kỳ nghỉ cuối tuần vừa rồi mà bạn đã quên chưa nói với tôi không ?

3. Không nên bàn luận về tính chính xác của kết quả xét nghiệm (ví dụ như phòng thí nghiệm đã có sai sót, chai mẫu thí nghiệm bị lẫn lộn với mẫu của những người khác). Hãy chuyển chủ đề sang bàn luận về các vấn đề khác.

4. Không cần để ý những sự giải thích của người bệnh hoặc là người bệnh không giải thích, mà hãy đảm bảo chắc chắn rằng như vậy là ít nhất đã có một lần người đó sử dụng lại ma tuý. Sau đó có lẽ cũng sẽ cần phải thường xuyên tăng dần tần xuất xét nghiệm đối với người đó để biết được rõ hơn về mức độ anh ta đã sử dụng.

Một số bệnh nhân sẽ thừa nhận ngay việc mình đã sử dụng lại. Sự chân thật này cần phải được khích lệ và coi đó như một điều quan trọng trong quá trình trị liệu. Phản ứng này hiếm khi có thể dẫn đến việc thừa nhận về những lần sử dụng ma tuý khác mà không bị phát hiện.

Đôi khi một bệnh nhân sẽ thú nhận một phần về việc mình sử dụng lại ma tuý. Ví dụ, anh ta đã tham gia một bữa tiệc và được mời sử dụng ma tuý nhưng anh ta đã không sử dụng. Những thông tin thú nhận này thường có liên quan rất gần đến việc có thể người đó có thể thực sự thừa nhận là mình đã sử dụng lại. Cán bộ trị liệu không cần phải cố gắng yêu cầu người bệnh hoàn toàn thừa nhận mà từ đó có thể cho rằng như vậy là đã xảy ra việc anh ta sử dụng lại và chuyển sang các vấn đề khác.

Hiếm khi bệnh nhân sẽ phản ứng một cách giận dữ. Mà điển hình là cán bộ trị liệu sẽ buộc tội cho bệnh nhân là không thành thật và bực tức cho rằng người đó đã sử dụng lại. Những phản ứng như thế này có thể rất thuyết phục và có thể khiến cho cán bộ sẽ nhanh chóng phản ứng mang tính kháng cự lại. Người bệnh cần được thông tin về sự cần thiết phải trao đổi về kết quả xét nghiệm dương tính và cần phải đặt câu hỏi về sự quan tâm thực sự nhất của anh ta lúc này là gì. Cán bộ trị liệu nên cố gắng chuyển sang các vấn đề khác. Và khi trao đổi về các vấn đề khác, có thể cán bộ sẽ lồng vào trao đổi về sự thành thật và rồi cho người bệnh một cơ hội để trao đổi về kết quả xét nghiệm.

Nếu kết quả xét nghiệm nhiều lần lặp là dương tính, thì có thể sẽ cần phải có sự trao đổi thẳng thắn mang tính trực diện nào đó. Thậm chí khi bệnh nhân bác bỏ việc anh ta đã sử dụng lại, cán bộ trị liệu vẫn cần trao đổi trực diện như thể là chắc chắn anh ta đã sử dụng. Cũng cần phải phân tích về những lần tái sử dụng (sử dụng sơ đồ phân tích về tình trạng tái nghiện) hoặc cần phải nhờ đến các kỹ thuật của bệnh viện. Đối với điểm này thì việc sự tin tưởng và chắc chắn của cán bộ trị liệu vào kết quả xét nghiệm là quan trọng và có thể là phương tiện mang lại sự giải thích trung thực về những gì đã xảy ra.  

Những mẫu xét nghiệm đã bị làm giả mạo/sai lệch

Việc người bệnh cố gắng che giấu việc mình đã sử dụng lại ma tuý bằng cách can thiệp vào mẫu nước tiểu xét nghiệm là hiếm. Các thủ đoạn có thể bao gồm việc mang nộp một mẫu nước tiểu đã được đổ nước vào, hoặc cho một chất (thường là chất nước) chứ không phải là nước tiểu, hoặc đôi khi là nước tiểu của một người khác. Các mẫu làm giả đó thường là có thể phát hiện thấy ngay bằng việc quan sát (ví như nhìn trong hơn, không có màu vàng) hoặc nhiệt độ (chai đựng mẫu nước tiểu đó quá lạnh so với thân nhiệt của cơ thể người). Đối với những mẫu đó không nên gửi đến phòng xét nghiệm nữa. Ngay lúc mang nộp mẫu, cần chú ý ngay đến bệnh nhân đó và hỏi anh ta xem lý do vì sao anh ta lại mang nộp một mẫu giả như vậy. Bệnh nhân có thể hoặc là trao đổi ngay về những gì đã xảy ra đối với mình hoặc sẽ đưa ra một mẫu khác. Nếu sự việc trên vẫn lặp lại đối với một bệnh nhân, thì có thể sẽ cần phải giám sát bệnh nhân đó khi họ đi lấy mẫu.

Những mẫu xét nghiệm bị bệnh nhân làm giả là một chỉ bảo cho thấy có thể người đó đã sử dụng ma tuý trở lại. Những bệnh nhân có liên quan đến việc làm giả mẫu xét nghiệm hiếm khi thừa nhận điều đó. Đây là một tình huống quan trọng trong khi điều trị và có thể là dấu hiệu của việc tái nghiện nghiêm trọng. Việc sử dụng ma tuý liên quan đến việc che giấu sự thật có thể cho thấy quá trình trị liệu đã thất bại. Việc quan sát bậnh nhân trong khi anh ta đang lấy mẫu để nộp xét nghiệm là nỗ lực cuối cùng về việc thiết lập những gì đang thực sự diễn ra không kể đến việc anh ta đã sử dụng trở lại và cũng là để khuyến khích anh ta trung thực.

Một ví dụ ít nghiêm trọng hơn liên quan đến việc làm giả mẫu nước tiểu của bệnh nhân là việc hãy cố gắng để các mẫu cùng nhau. Những người cố cãi rằng họ không thể đi tiểu (như là sẽ nói "Tôi vừa mới đi tiểu trước khi tôi đến đây", hoặc "Có thể để lần sau tôi mới xét nghiệm được không ?", hay "Tôi không thể đi được") hoặc những người dường như quá sốt sắng đòi đến ngay phòng xét nghiệm để chứng minh nhưng thực chất là dựng lên một cái cớ là bọng đái của mình trống rỗng, không thể đi tiểu được lúc này có thể là những người đang cố gắng che giấu việc bản thân đã sử dụng lại. Có thể sẽ cần đưa cho anh ta nước hoặc đồ uống và đề nghị anh ta chờ đến khi muốn đi tiểu thì lấy mẫu hoặc quay lại sau để lấy mẫu nhưng cùng trong ngày hôm đó.

Giám sát việc đi tiểu để lấy mẫu

Nếu một tình huống cho thấy cấn phải giám sát việc lấy mẫu, hãy yêu cầu một người giám sát đồng ý và hướng dẫn. Đây là một việc không thoải mái và có thể sẽ xúc phạm đến bệnh nhân. Cũng cần phải giải thích cho bệnh nhân rằng việc giám sát anh ta như vậy là trường hợp hiếm cần thiết chỉ nhằm mục đích có cơ sở để chắc chắn và tin tưởng đối với giá trị của việc xét nghiệm này. Nếu bệnh nhân đưa nộp những mẫu nóng, lạnh hoặc có màu trong, cần nói với anh ta rằng có những sự không chắc chắn đối với mẫu anh ta mang nộp. Không nên đối đầu. Hãy cố gắng để bệnh nhân cảm thấy thoải mái nhưng tránh đưa ra những lời nói làm dịu căng thẳng mà có thể liên quan đến thông điệp sai lệch về mục đích của những gì đang diễn ra./.

QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ CAI NGHIỆN – DỰA TRÊN CƠ SỞ CỦA PHƯƠNG PHÁP CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU

QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG ĐIỀU

TRỊ CAI NGHIỆN – DỰA TRÊN CƠ SỞ CỦA PHƯƠNG PHÁP CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU

 

KHÁI NIỆM CƠ BÁN VỀ ĐIỀU TRỊ – PHỤC HỒI
 

Bài viết này sẽ cố gắng làm sáng tỏ những quan niệm chưa chính xác về các phương pháp điều trị cai nghiện. Nội dung của nó sẽ bao gồm một sô nguyên tắc cơ bản trong điều trị – phục hồi cho người nghiện ma túy đã được khoa học nghiên cứu trong những điều kiện văn hoá khác nhau. Những nguyên tắc này rất hữu ích và tiêu chuẩn để so sánh, đánh giá sự thích hợp hoặc không thích hợp của một phương pháp điều trị cụ thể đối với người nghiện ma túy.

Nhìn chung nghiện ma túy bao gồm sự lệ thuộc của thể chất và tinh thần vào ma túy. Nói một cách đơn giản, cơ thể của người nghiện phải phụ thuộc vào ma túy vì thiếu nó sẽ khiến cho anh ta phái chịu đựng những hành hạ về thể chất. Hơn nữa, thói quen sử dụng ma túy thì đi đôi với trạng thái phê thuốc hoặc kích thích cao độ, giảm bớt những cảm giác đau đớn, tăng cảm giác khoẻ mạnh, thậm chí có thể tăng cảm giác kiểm soát được sự ảnh hưởng cua thực tế. Tác động của các loại ma túy đôi với người sử dụng là những bằng chứng điển hình chứng tỏ rằng tình trạng lệ thuộc vào ma túy về mặt tinh thần thì khó vượt qua hơn là phụ thuộc về mặt thể chất.

Vì tính chất bắt buộc của thói quen sử dụng ma túy, cuộc sống của người nghiện nói chung là chỉ xoay quanh việc duy trì sử dụng ma túy. Nó trở thành phương tiện để anh ta tồn tại và làm ảnh hưởng đến nhiều mặt trong đời sống của anh ta. Xã hội, gia đình, công việc và cả những chức năng lâm lý của anh ta đều cùng một lúc chịu ảnh hưởng. Càng sử dụng ma túy lâu bao nhiêu hoặc có thói quen sử dụng ma túy càng sớm bao nhiêu thì sẽ có càng nhiều lĩnh vực hoặc yếu tố trong cuộc sống của anh ta bị xáo trộn. Chúng ta hãy thử hình dung một người luôn tìm cách để chạy trốn ngay cả những thất bại nhỏ nhât trong cuộc sông hoặc tránh né việc đối diện những thách thức của cuộc sông đời thường. Thay vì phải sử dụng tính chín chắn và lòng tự trọng để giải quyết khó khăn của mình thì anh ta lại đổ lỗi cho một ai đó để rồi tìm đến sự lãng quên thực tại bằng cách dùng một liều ma túy. Sau một thời gian nhất định, anh ta dần dần đánh mất những khả năng xử lý lình huống vốn dĩ là một phần quan trọng của hành vì con người, những yếu tố sống còn để cho phép anh ta có một cuộc sống bình thường như bao người khác. Anh ta cũng có thể là người đang lãng phí tuổi thanh xuân để hưởng thụ những cảm giác lạ và phải trả giá bằng việc không thực hiện được những nghĩa vụ mà vào lứa tuổi đó anh ta phải làm. Nguyên nhân dẫn dắt anh ta đến với ma túy cũng có thể là một chấn thương tâm lý từ thời thơ ấu và chỉ có giải quyết tận gốc nguyên nhân này mới khiến anh ta có thể phục hồi một cuộc sống bình thường. Bên cạnh những tác hại có thể thấy được do việc sử dụng ma túy còn có những hậu quả không lường trước được sử dụng ma túy kéo dài. Những tác động của ma túy đối với bộ não con người có thể là tạm thời hoặc vĩnh viễn ảnh hưởng đến khả năng xử lý những thông tin và cản trở khả năng nhận thức của anh ta.

Để có thể hiểu biết thấu đáo về vấn đề nghiện ma túy chúng ta phải xem xét nó dưới nhiều góc độ kể cả về nguyên nhân, yếu tố thuận lợi lẫn hậu quả trước mắt và lâu dài do việc sử dụng ma túy gây ra. Chúng ta có thể chia vấn đề lạm dụng ma túy làm nhiều khía cạnh: thái độ, hành vi thuần phong mỹ tục của dân tộc hay nghề nghiệp … Xét về mặt hành vi người nghiện thường có nhiều thói quen xấu trong thời gian lạm dụng ma túy. Hầu hết những thói quen xấu này là do anh ta buộc phải sử dụng ma túy để tồn tại, nó ngăn cản không cho anh ta có một cuộc sống lành mạnh. Anh ta cũng phải chịu hàng loạt những khó khăn về mặt tinh thần từ việc mất đi lòng tự trọng đến hạn chế nhận thức, mất ý chí phấn đấu, không còn khả năng thây trước được hậu quả do hành vi của anh ta gây ra. Tất cả những yếu tố này ngăn cản sự hiểu biếtquá trình nhận thức của anh ta. Tóm lại, anh ta thiếu hẳn ý thức về luân lý hoặc ý thức về giá trị con người thiết yếu cho một cuộc sống lành mạnh. Những giá trị đó đầu bắt nguồn từ những chuẩn mực đạo đức, thuần phong mỹ lục của dân tộc, của tôn giáo … Hậu quả là tiêu phí toàn bộ tuổi thanh xuân vào việc sử dụng ma túy mà không có trong tay công việc nào có thể kiếm ra tiền nhằm duy trì một cuộc sống độc lập và lành mạnh. Sự thiếu hụt của anh ta trong các khía cạnh này lại càng khiến anh ta mặc cảm rằng mình không được xã hội chấp nhận như một thành viên bình thường. Mặc dù những vấn đề có liên quan đến nghiện ma túy có những nét khác nhau giữa người này với người khác nhưng tóm lại người nghiện phải gánh chịu nhiều hậu qủa về tinh thần, xã hội do chính mình gây ra và điều này cản trở lớn cho quá trình điều trị cai nghiện.

Sau khi kết thúc điều trị, nhiều người dễ tái nghiện không chỉ bởi vì sự cám dỗ của ma túy đối với thể chất mà còn bởi vì những yếu tố nguy cơ dẫn đến việc quay trở lại sử dụng ma túy không được hoàn toàn giải quyết. Và người nghiện sẽ tìm đến ma túy như một giải pháp thậm chí chỉ sau một thời gian ngắn nếu như chương trình điều trị cai nghiện không phù hợp với anh ta. Giai đoạn quan trọng mang tính chất quyết định đó là khi người nghiện đến với chúng ta lần đầu tiên. Trong giai đoạn này, anh ta bước đầu được cách ly khỏi môi trường ma túy trước kia và đây là cơ hội tốt không những có thể làm cho anh ta giảm dần sự dính líu đến ma túy, mà còn giáo dục và thúc đẩy anh ta tìm kiếm sự giúp đỡ nhằm giải quyết những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghiện của anh ta. Tuy nhiên, một biện pháp điều trị cai nghiện thì không đảm bảo thỏa mãn hết được mọi nhu cần của người nghiện cho nên chúng ta phải sử dụng sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố, nhiều biện pháp điều trị. Việc tiếp tục thiếu những chương trình điều trị – phục hồi toàn diện nhằm loại trừ dần lạm dụng ma túy bất hợp pháp đã ngăn cản chúng ta trong việc tối đa hóa nỗ lực để giảm cầu ma túy.

 

NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN ĐỂ VIỆC  ĐIỀU TRỊ – PHỤC HỒI CÓ HIỆU QUẢ:

     I/ Phải có một sự điều trị khoa học, tổng hợp, linh động, kịp thời và xuyên suốt: 

Việc áp dụng những biện pháp điều trị tổng hợp là hết sức quan trọng trong công tác cai nghiện phục hồi. Không có mô hình cai nghiện chung nào cho đối tượng cai nghiện ma túy mà chỉ có những nguyên tắc cơ bản, mô hình tốt với người này chưa hẳn tốt với người khác.

    II/ CÁC DỊCH VỤ ĐIỀU TRỊ PHẢI LUÔN SẴN SÀNG: 

Người nghiện luôn sẵn sàng nhận sự giúp đỡ khi đã suy sụp nhưng đến khi nào anh ta đến giai đoạn suy sụp thì ta không đoán trước được, vì vậy “ sự giúp đỡ” luôn luôn phải sẵn sàng vào những thời điểm mang tính quyết định – đó là khi anh ta tự nguyện đến điều trị cai nghiện. Những thủ tục phức tạp trong quá trình tiếp nhận đối tượng đến tham gia điều trị có thể khiến chúng ta bỏ sót những đối tượng đang cần sự giúp đỡ.

   III/ ĐIỀU TRỊ CAI NGHIỆN CHỈ CÓ HIỆU QUẢ: 

Khi chúng ta đáp ứng được những nhu cầu phức tạp của đối tượng trong quá trình phục hồi. Để việc điều trị có hiệu quả phải xác định được các vấn đề liên quan đến khía cạnh, thái độ, hành vi, tâm tư tình cảm, khía cạnh đạo đức, yếu tố nghề nghiệp và quan hệ xã hội của đối tượng bên cạnh tiền sử lạm dụng ma tuý của anh ta. Một chương trình điều trị phục hồi toàn diện phải bao gồm những hướng dẫn hoặc sự can thiệp đáp ứng được tính chất phức tạp của người nghiện ma tuý bao gồm cả những hoạt động chuẩn bị cho đối tượng tái hoà nhập cộng đồng và trang bị cho đối tượng những kỷ năng phòng chống tái nghiện..

   IV/ MỘT KẾ HOẠCH CAI NGHIỆN CỦA CÁ NHÂN CẦN PHẢI ĐƯỢC XÂY DỰNG, ĐƯỢC ĐÁNH GIÁ THEO TỪNG THỜI KỲ VÀ ĐƯỢC SỬA ĐỔI KHI CẦN THIẾT: Để đảm bảo rằng kế hoạch đó luôn phù hợp với những nhu cầu thay đổi của đối tượng. Một kế hoạch điều trị cai nghiện cũng như là một bản đồ hướng dẫn hành trình của đối tượng đi đến phục hồi, trong đó có quy định đến những điểm mốc cho từng giai đoạn và đích cuối cùng của quá trình điều trị. Kế hoạch này cho chúng ta xác định được mục tiêu đề ra và đánh giá được những gì chúng ta đã đạt được hoặc những thất bại và những thiếu sót được sửa chữa và xác định những lĩnh vực mới cần phải được củng cố cho đối tượng của chúng ta.

   V/ DUY TRÌ VIỆC ĐIỀU TRỊ TRONG MỘT THỜI GIAN ĐỦ DÀI MỚI CÓ THỂ ĐẢM BẢO HIỆU QUẢ CAI NGHIỆN: 

Khoảng thời gian thích hợp với từng cá nhân trong việc duy trì cai nghiện phụ thuộc vào những khó khăn và nhu cầu của cá nhân đó. Nghiên cứu chỉ ra rằng đối với hầu hết đối tượng thời gian cần thiết để tạo ra những tiến bộ có ý nghĩa trong cai nghiện là khoảng 3 tháng (Day top ). Sau khi đạt đến ngưỡng này những biện pháp điều trị bổ sung có thể được áp dụng để đạt được những bước tiến xa hơn nhằm tiến đến phục hồi. Những điều trên chỉ đúng khi đối tượng được cung cấp đầy đủ các dịch vụ cai nghiện. Điều quan trọng là phải cũng cố được quyết tâm của đối tượng không cho họ rời bỏ điều trị một cách quá sớm. Thời gian cai nghiện lý tưởng trung bình khoảng hai năm, tối thiểu là 6 tháng.

  VI/ CÁC BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ KHÔNG DÙNG THUỐC – LIỆU PHÁP CÓ HIỆU QUẢ TRONG CAI NGHIỆN – PHỤC HỒI:

Những đối tượng cai nghiện ma tuý có những cơ hội trong điều trị để thảo luận về những vấn đề liên quan đến động cơ điều trị, xây dựng kỹ năng xã hội và thói quen chống lại việc sử dụng ma tuý, học tập những hành vi mới, nhận thức được khó khăn và có biện pháp khắc phục hữu hiệu. Trị liệu hành vi và trao đổi, thảo luận giúp nâng cao mối quan hệ giữa người với đối tượng trong gia đình và trong cộng đồng. Trao đổi, thảo luận là phương pháp quan trọng trong điều trị, nó giúp cho đối tượng đi từ quá trình học tập đến thích nghi với môi trường điều trị cũng như thích nghi với việc phải đương đầu với những khó khăn tồn tại khi quay trở lại gia đình hoặc cộng đồng, phòng chống tái nghiện.

  VII/ TIẾN HÀNH  SONG SONG CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU KẾT HỢP VỚI ĐIỀU TRỊ BỆNH TÂM THẦN:

Đối tượng cai nghiện thường có những rối loạn tâm thần kèm theo, tùy theo mức độ nặng nhẹ của bệnh l‎ý tâm thần – phương pháp cộng đồng trị liệu phải linh động áp dụng cho đối tượng với những mức độ khác nhau.

  VIII/ CẮT CƠN NGHIÊN MA TÚY KHÔNG PHẢI LÀ CAI NGHIỆN MA TÚY MÀ ĐÓ CHỈ LÀ GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ CHO MỘT QUÁ TRÌNH CAI NGHIỆN – PHỤC HỒI LÂU DÀI:

Không có một biện pháp điều trị đơn thuần (thuốc, châm cứu, bấm huyệt, …) nào có thể chữa được bệnh nghiện ma túy mà đòi hỏi phải có những biện pháp điều trị tổng hợp, đồng bộ lâu dài thông qua các liệu pháp không dùng thuốc như:

–         Tư vấn.

–         Liệu pháp tâm l‎ý.

–         Liệu pháp giáo dục.

–         Liệu pháp xã hội.

Để nhằm chuyển đổi nhận thức, hành vi, nhân cách, giải quyết các chấn thương tâm lý, mâu thuẫn nội tâm của các đối tượng.

 

LÀM THẾ NÀO ĐỂ XÂY DỰNG MỘT MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ CAI NGHIỆN

MỘT SỐ YẾU TỐ QUAN TRỌNG CỦA MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ

I. CƠ CẤU ĐIỀU TRỊ:

1) Việc tuân thủ lịch sinh hoạt 24h/ngày được giám sát chặt chẽ.

2) Mỗi thành viên có một vị trí trong hệ thống phân công công việc của cơ sở điều trị.

3) Có một đường dây thông tin và chỉ đạo thông suốt từ trên xuống dưới.

4) Việc đảm bảo tuân thủ những quy tắc, quy định về hành vi được giám sát chặt chẽ và thường xuyên.

5) Phải xây dựng được những tiêu chí trong cộng đồng nhằm khuyến khích tích cực điều chỉnh hành vi.

6) Phương pháp điều trị phải dựa trên triết lý điều trị nhằm đáp ứng nhu cầu khác nhau của người nghiện.

II/ THẾ NÀO LÀ TRIẾT LÝ ĐIỀU TRỊ:

1) Phương pháp điều trị không bao giờ được xâm phạm đến nhân phẩm con ngườiphải được xây dựng dựa trên những hiểu biết sâu sắc về nghiện và người nghiện.

2) Phải áp dụng biện pháp điều trị toàn diện bao gồm cả việc điều chỉnh hành vi, giải quyết những vấn đề tâm lý, giáo dục dạy nghề v.v…

3) Một kế hoạch chung cho tất cả các đối tượng phải đảm bảo cung cấp đủ thông tin và sự giúp đỡ cần thiết cho công tác tái hòa nhập cộng đồng và phòng chống tái nghiện.

III/ MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ AN TOÁN:

1) Đối tượng có lòng tin vào cán bộ điều trị.

2) Đối tượng cảm nhận được sự chăm sóc và giúp đỡ chân thành của cán bộ điều trị.

3) Đối tượng phải cảm nhận được sự chăm sóc của cả cộng đồng đối với quá trình tiến bộ của anh ta.

4) Đối tượng luôn luôn cảm thấy an toàn cả về thể chất lẫn về tâm lý.

5) Môi trường điều trị phải tạo ra được sự trung thực và tính cởi mở trong hành vi và trong cảm giác.

IV/ NHỮNG HOẠT ĐỘNG KHÍCH LỆ SỰ CHUYỂN BIẾN HÀNH VI:

1) Cần phải có một cơ chế giải quyết mọi hành vi vi phạm có liên quan đến những quy định của cộng đồng mà không cần phải sử dụng vũ lực.

2. Cần phải có những hoạt động nhằm giúp đỡ về tâm tư tình cảm, khuyến khích việc bày tỏ suy nghĩ, cảm nhận đối tượng một cách trung thực (ví dụ như tư vấn cá nhân, tư vấn nhóm hay các hình thức điều trị nhóm khác).

3) Cần tổ chức những buổi nói chuyện cho đối tượng để họ có thể giải bày tâm sự về quá khứ của mình một cách cởi mở, trung thực mà không lo ngại có sự chế diễu hay phản đối từ phía đối tượng khác.

4) Cần phải tạo cơ hội cho đối tượng luyện tập và thích nghi dần với những hành vi mới.

5) Cần phải giúp đối tượng củng cố lòng tin vào bản thân và những người xung quanh.

V. XÂY DỰNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HỮU HIỆU SINH HOẠT CỦA ĐỐI TƯỢNG 24h/NGÀY:

1) Sử dụng hệ thống quản lý trách nhiệm: Đối tượng được nhóm, tổ chức hoặc phòng nội trí phân công việc.

2) Sử dụng nhóm đồng đẳng tự quản lý lẫn nhau.

3) Sử dụng sổ nhật ký, sổ báo cáo giao ban hay lịch phân công lao động để quản lý.

4) Giám sát nghiêm ngặt việc tuân thủ các loại quy định, nguyên tắc của cộng đồng.

VI/ XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐÁNH GIÁ TIẾN ĐỘ ĐIỀU TRỊ CỦA ĐỐI TƯỢNG:

1) Sử dụng công cụ đánh giá để xây dựng hệ thống thông tin cơ sỏ cho tất cả các đối tượng mới đến tham gia điều trị:

Xác định những vấn đề mấu chốt phải giải quyết trong quá trình điều trị.

Xây dựng một kế hoạch điều trị nhằm đạt được mục tiêu yêu cầu đề ra.

Xác định những hoạt động điều trị cụ thểchỉ định người chịu trách nhiệm giúp đỡ đối tượng đạt được mục tiêu yêu cầy điều trị đề ra.

2) Dựa vào kế hoạch điều trị để theo dõi tiến độ điều trị của đối tượng.

3) Thiết kế những giai đoạn điều trị mà tất cả các đối tượng đều phải trải qua:

– Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá sự tiến bộ.

– Xây dựng mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn điều trị.

4) Tổ chức họp kiểm điểm rút kinh nghiệm cho từng trường hợp đối tượng.

5) Sử dụng hồ sơ quản lý đối tượng để phân công cán bộ hoặc nhân viên tư vấn quản lý theo dõi:

– Nhận xét của nhân viên tư vấn về sự tiến bộ của đối tượng.

– Biên bản của những buổi tư vấn cá nhân, tư vấn nhóm.

– Báo cáo tiến độ điều trị thường kỳ hàng tháng.

VII/ XÂY DỰNG HỆ THỐNG KHEN THƯỞNG:

1) Sử dụng vị trí, vai trò trong hệ thống phân công công việc làm phần thưởng cho biểu hiện tích cực trong hành vi.

2) Sử dụng một số ưu đãi làm phần thưởng cho tinh thần trách nhiệm (viết thư, gọi điện).

3) Tặng vật lưu niệm.

4) Cho phép gia đình đến thăm hoặc đi giã ngoại bên ngoài cơ sở điều trị.

5) Cho về thăm gia đình…

 

NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN VÀ CÁC YẾU TỐ CẦN THIẾT ĐỂ XÂY DỰNG MỘT MÔI TRƯỜNG CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU CÓ HIỆU QUẢ

I/ NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN:

        Vì tính chất đa dạng của bệnh nghiện ma tuý nên nếu sử dụng một vài biện pháp thì không đảm bảo đáp ứng hết được mọi yêu cầu cho công tác cai nghiện mà phải sử dụng sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố, nhiều biện pháp để phục vụ cho điều trị. Tuy Một số nguyên tắc cơ bản phải thực hiện:

1/ XÂY DỰNG NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA CỘNG ĐỒNG:

1.1 Tôn trọng lẫn nhau.

1.2 Có trách nhiệm với gia đình, cộng đồng. Lòng biết ơn.

1.3 Tự tin vào giá trị bản thân.

1.4 Biết thương yêu và quan tâm đến người khác.

1.5 Phối hợp trong công việc.

1.6 Trung thực – trách nhiệm – khiêm tốn – cởi mở.

1.7 Năng động sáng tạo – khả năng nhận thức tốt.

1.8 Tích cực lao động.

2/ XÂY DỰNG MỘT MÔI TRUỜNG ĐIỀU TRỊ AN TOÀN VÀ LÀNH MẠNH:

2.1 Không ma tuý.

2.2 Không có hành vi bạo lực hay đe dọa bạo lực.

2.3 Không có hành vi tình dục.

2.4 Không trộm cắp.

2.5 Luôn luôn nhắc nhở và kiểm tra thực hiện các nguyên tắc cộng đồng đề ra.

2.6 Đặt ra những quy định mới nếu thấy cần thiết.

3/ NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC:

3.1 Việc tuân thủ lịch sinh hoạt 24h/ ngày được giám sát chặt chẽ.

3.2 Phân công công việc rõ ràng cho từng thành viên.

3.3 Có sự chỉ đạo thông suốt từ trên xuống dưới và sự phản ánh kịp thời từ dưới lên.

3.4 Đảm bảo tuân thủ những quy tắc, quy định. Mọi hành vi được giám sát chặt chẽ và thường xuyên.

3.5 Xây dựng được những tiêu chí trong cộng đồng nhằm khuyến khích việc tích cực điều chỉnh hành vi.

3.6 Phương pháp điều trị phải dựa trên nguyên tắc nhằm đáp ứng những nhu cầu khác nhau của người nghiện.

4/ NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ:

4.1 Phương pháp điều trị không bao giờ được làm tổn thương đến nhân phẩm đối tượng và phải được xây dựng trên những hiểu biết sâu sắc về ma túy và người nghiện.

4.2 Phải áp dụng biện pháp điều trị toàn diện bao gồm nâng cao sức khoẻ và điều chỉnh, phục hồi nhận thức – hành vi – nhân cáchthông qua tư vấn – tâm lý trị liệu, giáo dục trị liệu, hoạt động trị liệu, huấn nghiệp trị liệu, lao động trị liệu.

4.3 Đối tượng có lòng tin vào cán bộ điều trị.

4.4 Đối tượng cảm nhận được sự chăm sóc và giúp đỡ chân thành của cán bộ điều trị.

4.5 Đối tượng cảm nhận được sự chăm sóc của cả cộng đồng đối với quá trình tiến bộ của đối tượng.

4.6 Đối tượng luôn luôn cảm thấy an toàn cả về thể chất lẫn về tinh thần.

4.7 Phải tạo được môi trường điều trị – phục hồi an toàn.

4.8 Môi trường điều trị phải tạo ra được sự trung thực và tính cởi mở trong nguyên tắc cộng đồng đề ra.

4.9 Kết hợp liệu pháp dùng thuốc và không dùng thuốc (xem mục PHÒNG CHỐNG TÁI NGHIỆN tại website này)

5/   NHỮNG BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY NHANH SỰ CHUYỂN BIẾN VỀ NHẬN THỨC – HÀNH VI – NHÂN CÁCH ĐỐI TƯỢNG:

5.1 Phải có những nguyên tắc giải quyết mọi hành vi vi phạm có liên quan đến những quy định của cộng đồng mà không cần sử dụng đến vũ lực.

5.2 Phải có những hoạt độngnhằm giúp đỡ về tâm tư tình cảm, khuyến khích việc bày tỏ suy nghĩ, cảm nhận đối tượng một cách trung thực (ví dụ như tư vấn cá nhân, tư vấn nhóm hay các hình thức điều trị khác…).

5.3 Tổ chức những buổi nói chuyện cho đối tượng để họ có thể giải bày tâm sự về quá khứ của mình một cách cởi mở, trung thực mà không lo ngại có sự chế diễu hay phản đối từ phía đối tượng khác.

5.4 Giúp đối tượng cũng cố lòng tin vào bản thân và những người xung quanh qua biện pháp giáo dục tâm lý – xã hội cho dối tượng.

6/   XÂY DỰNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HỮU HIỆU:

6.1 Sử dụng hệ thống quản lý trách nhiệm.

6.2 Đối tượng được nhóm, tổ chức phân công việc.

6.3 Sử dụng nhóm đồng đẳng quản lý lẫn nhau.

6.4 Sử dụng sổ nhật ký, sổ báo cáo, giao ban hay lịch phân công lao động để quản lý.

6.5 Giám sát nghiêm ngặt tuân thủ các loại quy định, nguyên tắc của cộng đồng.

7/   XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐÁNH GIÁ TIẾN ĐỘ ĐIỀU TRỊ CỦA ĐỐI TƯỢNG:

7.1  Kế hoạch điều trị:

–   Xác định những vấn đề mấu chốt phải giải quyết trong quá trình điều trị.

–   Xây dựng một kế hoạch điều trị nhằm đạt được mục tiêu yêu cầu đề ra.

–   Kế hoạch này phải có những mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn điều trị.

–   Xác định những hoạt động điều trị cụ thể và chỉ định người chịu trách nhiệm giúp đỡ đối tượng đạt được mục tiêu yêu cầu điều trị đề ra.

–   Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá sự tiến bộ.

7.2 Theo dõi tiến độ điều trị của đối tượng theo kế hoạch đã đề ra: Tổ chức họp kiểm điểm rút kinh nghiệm cho từng trường hơp đối tượng.

7.3 Sử dụng hồ sơ quản lý đối tượng, phân công người quản lý theo dõi.

7.4 Nhận xét của nhân viên tư vấn về sự tiến bộ của đối tượng.

7.5 Biên bảncủa những buổi tư vấn cá nhân, nhóm, gia đình.

7.6 Báo cáo tiến độ điều trị thường kỳ hàng tháng.

8/   XÂY DỰNG HỆ THỐNG KHEN THƯỞNG:

8.1 Dựa trên các tiêu chuẩn đã đề ra để khen thưởng các học viên tích cực.

8.2 Sử dụng một số ưu đãi làm phần thưởng như: viết thư, tặng quà lưu niệm, biểu dương trước tập thể…

8.3 Đi dã ngoại bên ngoài cơ sở điều trị.

8.4 Cho về thăm gia đình.

     Việc khen thưởng này tùy thuộc vào từng hoàn cảnh trung tâm – trường – trại – địa phương.

II/ CÁC YẾU TỐ CẦN THIẾT:

1/   NHÂN VIÊN ĐIỀU TRỊ PHẢI LÀ NGƯÒI XỨNG ĐÁNG VÀ MẪU MỰC:

Đội ngũ điều trị phải làm thế nào để đối tượng tôn trọng. Họ phải là tấm gương sáng cho đối tượng để có thể ảnh hưởng giáo dục nhằm chuyển đổi nhận thức, hành vi, nhân cách của học viên.

Người nghiện ma tuý thường thực hiện nhiều hành vi không tốt, nhưng họ ít thấy và hay biện minh cho bản thân mình, trong khi đó họ lại rất tinh ý và nhạy bén nhận xét những điều không tốt của người khác. Do đó, nếu nhân viên điều trị không gương mẫu khó có thể chuyển đổi đối tượng.

Đối với đồng nghiệp nhân viên điều trị phải tuân thủ những quy định, những mối quan hệ thân thiện.

Đối với đối tượng nhân viên điều trị phải thương yêu và đồng cảm nhưng cũng phải xác định một ranh giới không thể vượt qua của người quản lý và đối tượng.

2/   MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ PHẢI ĐẢM BẢO KHÔNG CÓ MA TUÝ HOẶC CÁC CHẤT GÂY NGHIỆN KHÁC:

Một môi trường trị liệu để lọt ma tuý vào sẽ gây lây lan bệnh tật, tinh thần học viên không bình ổn, thiếu quyết tâm cai nghiện, dễ bức xúc phá vỡ chương trình điều trị.

Đây là yếu tố tiên quyết vì nếu không giải quyết được vấn đề này sẽ phá huỷ toàn bộ kế hoạch, hệ thống hoạt động của Trung Tâm.

3/   MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ PHẢI LÀ MỘT NƠI AN TOÀN KHÔNG CÓ TÌNH TRẠNG BẠO LỰC: 

Mọi hoạt động diễn ra một lối sống không có ma tuý, không có cảnh ức chế nhau, nơi mà hành vi của một người luôn được các người khác xem xét, góp ý mà không hề do một áp lực nào, một ý đồ xấu nào và được giáo dục liên tục về một nếp sống nề nếp chuẩn mực.

4/   MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ PHẢI LÀ NƠI ĐỂ CÁC ĐỐI TƯỢNG CÓ THỂ GIÚP ĐỠ ĐIỀU CHỈNH SAI LẦM CHO NHAU.

5/   MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ PHẢI CÓ NHỮNG CHUẨN MỰC VỀ HÀNH VI VÀ NHÂN CÁCH NHƯ MỘT XÃ HỘI GƯƠNG MẪU nhằm những tiêu chuẩn sau đây:

+Trách nhiệm quan tâm đến người khác.

+Trung thực, không dối trá.

+Thương yêu, cởi mở, chân thành.

+Đoàn kết.

+Kỷ luật.

+Nhận biết được bổn phận, trách nhiệm.

6/   MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU PHẢI DỰ KIẾN MỌI BIỆN PHÁP KHI CÓ TÌNH HUỐNG XẤU: 

Phải can thiệp ngay kịp thời khi xảy ra những vi phạm nghiêm trọng về những quy tắc xã hội và chuẩn mực hành vi.

7/   CÁC ĐIỀU KIỆN Y TẾ – GIÁO DỤC – QUẢN LÝ – CÁC BIỆN PHÁP TRỊ LIỆU KHÁC VÀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÓ TRÌNH ĐỘ VÀ NHIỆT TÌNH ĐỂ SẴN SÀNG ĐÁP ỨNG ĐƯỢC VÀ KỊP THỜI MỌI TÌNH HUỐNG.

8/   CẦN CÓ MỘT THOẢ THUẬN ĐIỀU TRỊ NÓI LÊN QUAN HỆ GIỮA NHÂN VIÊN ĐIỀU TRỊ VÀ NGƯỜI CAI NGHIỆN: 

Thỏa thuận phải nêu rõ những mục tiêu điều trị mà hai phía đều quan tâmNội dung thoả thuận điều trị phải bao gồm những nội dung giúp đỡ người nghiện có kế hoạch cho đời sống hàng ngày nhằm tiến đến một sự phục hồi nhân cách, một cuộc sống hữu ích cho xã hội và thu thập những kỹ năng để vượt qua thử thách tái nghiện.

9/   NHỮNG NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ MỘT MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG CÓ HIỆU QUẢ:

9.1 Môi trường cộng đồng trị liệu là một môi trường học tập tích cực. Vai trò của những người có trách nhiệm, uy tín trợ giúp một cách hữu hiệu cho việc học tập của các thành viên.

9.2 Họ nhận thức được mối quan hệ chặt chẽ giữa lời nói và việc làm của những người có vị trí trách nhiệm đối với các thành viên trong cộng đồng. Phải biết rằng các thành viên trong cộng đồng luôn theo dõi việc các cán bộ điều trị có tuân thủ các quy tắc và giá trị của cộng đồng hay không, cũng như theo dõi mối quan hệ qua lại giữa các thành viên trong cộng đồngkhông được để các vấn đề mâu thuẫn nảy sinh trong cộng đồngBất kỳ mâu thuẫn nào xảy ra giữa lời nói và hành vi sẽ bộc lộ điểm yếu của hệ thống điều trị và có thể sẽ được người nghiện lợi dụng để có những biểu hiện, hành vi không đúng.

9.3 Để thực hiện tốt vai trò của mình, người cán bộ điều trị phải nắm rõ các quy tắc của cộng đồng. Những người quản lý thành công nhất là, những người luôn được đối tượng xem là tấm gương để họ học tập là những minh họa cụ thể trong giáo dục người nghiện. Những người quản lý không chỉ đảm bảo sự tồn tại, duy trì hoạt động của “môi trường trị liệu cộng đồng” mà còn phải biến nó thành một môi trường học tập thật sự cho người nghiện ma túy.

9.4 Người đã cai nghiện thành công là hiện thân của niềm hy vọng của người cai nghiệnđã và đang đấu tranh để vượt qua chính bản thân mình. Họ là bằng chứng sống của việc chiến thắng sự cám dỗ của ma tuý, mà chủ yếu họ là người rất thông hiểu suy nghĩ và cảm xúc của người nghiệnKhả năng của họ trong việc bày tỏ bản lĩnh của mình đối với những người nghiện khác là không gì sánh nổi. Họ đoán trước được hành vi của người nghiện trong từng hoàn cảnh cụ thể. Điều này biến họ thànhnhững người hướng dẫn rất có hiệu quả trong môi trường trị liệu cộng đồng – một môi trường điều trị mà việc thành công hay thất bại có liên quan chặt chẽ với việc thông hiểu những suy nghĩ, thậm chí cả những mánh lới của đối tượng. Tuy nhiên việc sử dụng người cai nghiện thành công vào công tác quản lý của Trung tâm là vấn đề phức tạp như việc dùng dao hai lưỡicó thể tốt nhưng cũng có thể rất nguy hiểm nếu họ có ý đồ xấu thiếu trình độ hoặc tái nghiện lại. Do đó, để xử lý tình huống, người cán bộ quản lý phải có khả năng đoán trước sự việc xảy ra và những nguyên nhân gây ra sự việc đó.

 

YÊU CẦU VỀ CƠ CẤU – HOẠT ĐỘNG – MỐI QUAN HỆ ĐỂ MỘT MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG CÓ HIỆU QUẢ:

I/ HỆ THỐNG TỔ CHỨC:

   1/ SƠ ĐỒ TỔ CHỨC:

preview

   2/ NHIỆM VỤ CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO: 

Là vô cùng quan trọng đòi hỏi phải có TRÌNH ĐỘ và NHẠY BÉN trong công việc:

       + Điều chỉnh cơ cấu cho phù hợp.

       + Điều chỉnh các dịch vụ điều trị.

       + Điều chỉnh vai trò các cán bộ điều trị.

       + Phân công nhiệm vụ của cán bộ điều trị và nhân viên tư vấn phù hợp.

       + Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng kiến thức và kinh nghiệmcho tập thể CBNV để có thể triển khai chương trình điều trị.

       + Lập kế hoạch xây dựng chương trình điều trị – phục hồi dựa vào trung tâm và dựa vào cộng đồng.

       + Tổng kết tiến độ triển khai các chương trình từng giai đoạn.

  3/ NHIỆM VỤ CỦA CÁC PHÒNG BAN CHỨC NĂNG:

   Cơ bản gồm 4 bộ phận chính:

      + Y tế.

      + Giáo dục.

      + Quản lý.

      + Phục vụ.

Tất cả các bộ phận trên đều phải tác nghiệp trên một thể thống nhất nhằm vào công tác điều trị, điều chỉnh, phục hồi nhận thức – hành vi – nhân cách cho đối tượng cai nghiện, nhưng nhiệm vụ ai người đó làm.

Tổ chức như trên nhằm mục tiêu:

        + Đảm bảo sức khỏe cho đối tượng cai nghiện – phát hiện vàngăn chặn kịp thời các bệnh cơ hội – dịch bệnh – bệnh mắc phải.

        + Sử dụng các phương pháp điều trị không dùng thuốc thông qua tư vấn – liệu pháp tâm l‎ý – liệu pháp giáo dục – liệu pháp xã hội,…

        + Theo dõi tiến độ của học viên thông qua các hoạt động của cá nhân, nhóm, tổ chức, huấn nghiệp trị liệu, lao động trị liệu, sản xuất trị liệu, ….

        + Đảm bảo môi trường điều trị an toàn.

        + Tạo một môi trường sẵn sàng đáp ứng kịp thời cho công tác cai nghiện (xây dựng cơ sở vật chất – vệ sinh môi trường – chuẩn bị cho công tác quản lýcũng như phục vụ cho mọi hình thức trị liệu, …).

II/ NHIỆM VỤ THỰC HIỆN:

      _ Xác định nhiệm vụ rõ ràng cho từng cá nhân, từng nhóm, từng tổ chức của học viên và người phụ trách.

      _ Xác định nhiệm vụ người giám sát.

      _ Xác định nhiệm vụ của điều phối viên.

III/ PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC:

      _ Sắp xếp công việc cụ thể cho từng đối tượng.

      _ Cho phép đối tượng đăng ký với cán bộ điều trị nhận công việc cho mình, tất nhiên sự lựa chọn phải dựa vào khả năng từng người và tiến độ điều trị.

      _ Trách nhiệm của từng người trong công việc được giao, nếu như không đáp ứng được yêu cầu cần làm rõ vì những lý do bệnh lý hoặc lý do hành vi.

IV/ LỊCH SINH  HOẠT HẰNG NGÀY:

Mục đích của việc bố trí lịch sinh hoạt là để điều hành hoạt động của Trung tâm, tạo cho đối tượng có ý‎ thức tổ chức kỷ luậthình thành thói quen tốt và nhận thức tốt.

Một ví dụ của lịch sinh hoạt:

           6 :00  Thức dậy/ dọn giừơng/ vệ sinh phòng ngủ/ điểm danh.

           6 :30  Thể dục buổi sáng/ tắm rửa.

           7 :00  Ăn sáng.

           8 :00  Giao ban buổi sáng (là không thể thiếu được).

           8 :45  Cán bộ họp giao ban/ Họp nhóm đối tượng/ Sinh hoạt cộng đồng.

           9 :30  Lao động trị liệu – Huấn nghiệp trị liệu.

           11 :30 Tắm rửa.

           12 :00 Ăn trưa – nghỉ trưa.

           14 :00  Sinh hoạt nhóm điều trị.

           15 :30  Lao động trị liệu.

           17 :00  Hoạt động trị liệu.

           18 :00  Tắm rửa.

           18 :30  Ăn tối.

           19 :30  Tư vấn, họp nhóm, giải trí…

           21 :00 Họp toàn thể cộng đồng/ thông báo chung.

           22 : Điểm danh tối/ đi ngủ.

Lịch sinh hoạt này thay đổi tùy theo từng giai đoạn điều trị và điều kiện của từng đơn vị.

V/ NHỮNG NGUYÊN TẮC TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC NHÂN VIÊN ĐIỀU TRỊ:

   Tình đồng đội và sự tôn trọng lẫn nhau là nguyên tắc cơ bản của các nhân viên điều trị trong cộng đồng. Các đối tượng là thành viên của cộng đồng cũng phải coi hai nguyên tắc đó là nền tảng mối quan hệ trong công việc của mình.

          Để xây dựng được môi trường trị liệu cộng đồng có hiệu quả, các nhân viên điều trị phải có khả năng phối hợp làm việc trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau. Để tạo ra được một thái độ làm việc như vậy những người lãnh đạo tổ chức phải là tấm gương của cộng đồng trị liệu. Người cán bộ lãnh đạo phải tuân thủ nguyên tắc này trong khi giao tiếp với các nhân viên của mình.

VI/ NHỮNG NGUYÊN TẮC TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÂN VIÊN ĐIỀU TRỊ VỚI ĐỐI TƯỢNG:

          Cộng đồng có mục tiêu là tạo một môi trường cho sự điều chỉnh nhận thức – hành vi – nhân cách của đối tượng. Cộng đồng sẽ thất bại nếu như thiếu đi lòng quyết tâm của những người lãnh đạo và những người có uy tín trong cộng đồng. Môi trường cộng đồng trị liệu bao gồm nhiều thành phần khác nhau: Có những đối tượng ích kỷ, mang chủ nghĩa anh hùng cá nhân, nhưng cũng có những sự hy sinh bản thân để giúp đỡ các đối tượng khác. Đa số người cai nghiện có trạng thái tình cảm không ổn định, nhưng điều đáng chú ý là chính những cán bộ điều trịchuyên đi hàn gắn vết thương này đôi khi không giải quyết được những khó khăn của chính bản thân mình. Tuy nhiên dù tình huống nào, người cán bộ điều trị, những người được xem là tấm gương sáng để toàn thể cộng đồng noi theo, luôn luôn phải cư xử với các thành viên của cộng đồng với một thái độ có trách nhiệm. Những cơ chế của cộng đồng được thể hiện ở những nghi thức và quy tắc xã hội, có thể giúp ngăn chặn việc vô tình hay cố tình sử dụng sai nguyên tắc về sức mạnh và quyền hạn trong mọi đối tượng điều trị tại cộng đồng.

          Nhằm nâng cao những quy tắcchuẩn mực của cộng đồng cần phải quan tâm đến việc đào tạo những cán bộ điều trị trở thành những nhân viên chuyên nghiệp có trình độ. Việc chuyên môn hóa đội ngũ điều trị có thể sẽ giúp cải thiện chất lượng điều trị của cộng đồng nói chung và của những người cán bộ quản lý nói riêng.

VII/ CƠ CẤU CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI  ĐỐI TƯỢNG:

          Môi trường cộng đồng trị liệu nổi tiếng là nhờ nó được sự tổ chức tốt, có nguyên tắc, có cơ sở vật chất đầy đủ các yếu tố trên sẽ khích lệ những hành vi lành mạnh. Môi trường sẽ phản ánh bản chất của cộng đồng sống trong môi trường đó. Mặc dù có một vài mô hình cộng đồng buộc phải thích nghi với cơ sở vật chất sẵn có ví dụ như là nhà tù, các khu nhà cũcơ sở khám chữa bệnh thiếu thốn nhưng chúng ta phải quyết tâm từng bước nâng cấp môi trường sao cho phù hợp với yêu cầu của một môi trườngcộng đồng trị liệu.

          Cộng đồng trị liệu phải mang dáng dấp một gia đình nhiều hơn là một trung tâm điều trịNgay cả ở trong tù hay trong trại cải tạo, trại giáo dưỡng trẻ em vị thành niên: không khí “nhà tù” cũng không còn nữa, nhằm khiến cho cộng đồng trở thành một môi trường nhẹ nhàng, tin cậy cho việc điều trị – phục hồian toàn cả về thể chất lẫn tinh thần cho đối tượng: Đó phải là chỗ mà đối tượng có thể chịu trách nhiệm về sự lựa chọn và hành vi của chính mình. Trong khi nhà tù tạo ra không khí thiếu an toàn, nơi màđối tượng muốn sinh tồn thì phải dựa hoàn toàn vào mánh khoé và luật rừng, thì môi trường cộng đồng tạo ra những hành vi xã hội lành mạnh như tin tưởng và giúp đỡ lẫn nhau trong bầu không khí gia đình.

          Những thành công lớn của môi trường cộng đồng trị liệu có được là nhờ một cơ cấu hoạt động chặt chẽ. Cần tổ chức tốt lịch sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng tùy theo người  hay ngườimới tham gia điều trị. Tuy nhiên, mọi đối tượng cai nghiện đều phải hiểu được trách nhiệm của mình và các mục tiêu chung do cộng đồng đề ra.

 

XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG

"Một mình bạn có thể làm được việc đó nhưng bạn không thể thành công nếu làm việc đó một mình"

Triết lý bất thành văn của TC.

Có một vài điều kiện cần phải chú ý để có thể coi một môi trường điều trị là TC. TC là một môi trường điều trị được tạo ra nhờ tác động tương hỗ giữa một vài yếu tố. Những yếu tố chính tạo ra TC bao gồm:

1)    Yếu tố con người và những mối quan hệ giữa những người có uy tín trong cộng đồng.

2)    Việc sắp xếp lịch sinh hoạt hàng ngày.

3)    Những quy định và nguyên tắc cơ bản trong cộng đổng

4)    Phương pháp được áp dụng để điều chỉnh hành vi

5)    Phương pháp giải quyết các khó khăn, vướng mắc về tâm lý cũng như tăng cường nhận thức bản thân .

6)    Nâng cao lòng tự tin và năng lực bản thân.

I/ VAI TRÒ CỦA NHỮNG NGƯỜI CÓ VAI VẾ, UY TÍN TRONG CỘNG ĐỒNG.

Cộng đồng trị liệu là một môi trường học tập tích cực. Nó trợ giúp một cách hữu hiệu cho việc học tập khi thành viên của nó nhận thức được mối quan hệ chặt chẽ giữa lời nói và việc làm của những người có vai vế, uy tín trong cộng đồng. Thành viên của cộng đồng cũng trong chờ vào việc các cán bộ điều trị có tuân thủ các quy tắc và giá trị của cộng đồng hay không. Những quy tắc chi phối quan hệ qua lại giữa các thành viên của cộng đồng. Những thành viên đang trong giai đoạn phục hồi thì đã khá quen với thuật ngữ "nói chuyện tay đôi" và sự mâu thuẫn trong việc áp dụng các quy tắc xã hội trong cuộc sống hàng ngày. Muốn xây dựng được một môi trường điều trị và những hoạt động của nó ta cũng phải có hiểu biết sâu sắc về những mâu thuẫn này. Bất kỳ một mâu thuẫn nào xảy ra giữa lời nóihành vi sẽ bộc lộ điểm yếu của hệ thống điều trị và có thể sẽ được người nghiện lợí dụng để có những biểu hiện, hành vi không đúng.

Muốn thực hiện tốt vai trò của mình, người cán bộ điêu trị phải nghiên cứu kỹ các quy tắc của cộng đồng. Những người quản giáo thành công nhất, những người luôn được đối tượng xem là tấm gương để học tập, thì cũng chính là người biết sử dụng những ví dụ minh hoạ trong giáo dục người nghiện. Những người chịu trách nhiệm đảm bảo sự tồn tại của "cộng đồng trị liệu" thì có vai trò chính không chỉ trong việc duy trì hoạt động của cộng đồng mà còn phải biến nó thành một môi trường học tập thực sự cho người nghiện ma túy.

Những thành viên của TC mới ngừng sử dụng ma túy thì sự phục hồi chưa thực sự ổn định. Họ còn chịu ánh hưởng của nhiều yếu tố bên ngoài trong việc duy trì trạng thái cai nghiện không nên quá đề cao vai trò của các thành viên đã ngừng sử dụng ma túy lâu năm trước những người mới ngừng sử dụng ma túy. Người đã cai nghiện thành công là hiện thân của niềm hy vọng của người nghiện, đã và đang đấu tranh để vượt qua chính bản thân mình. Họ là bằng chứng sống của việc chiến thắng sự cám dỗ của ma túy và vượt qua được các giai đoạn điều trị. Giá trị của những người này không chỉ nằm ở chỗ là họ đã từng vượt qua sự cám dỗ của ma túy, mà chủ yếu họ là người rất thông hiểu suy nghĩ và cảm xúc của người nghiện. Khả năng của họ trong việc bày tỏ sự thông cảm đôi với những người nghiện khác là không gì sánh nổi. Họ đoán trước được những hành vi của người nghiện trong từng hoàn cảnh cụ thể. Điều này biến họ thành những nhân viên điều trị rất có hiệu qủa trong môi trường TC – một môi trường điều trị mà việc thành công hay thất bại có liên quan chặt chẽ với sự thông hiểu những suy nghĩ, thậm chí cả những mánh lới của đối lượng. Cách thức mà TC xử lý tình huống là hoàn toàn dựa vào khả năng đoán trước sự việc xảy ra và những nguyên nhân gây ra sự việc đó.

Một môi trường điều trị lành mạnh và cách ứng xử gương mẫu của các nhân viên điều trị vốn là người nghiện trước kia là những tiêu chuẩn của Cộng đồng trị liệu. Thế còn những nhân viên khác thì sao, những người trước kia không phải đối tượng nghiện ma túy? Liệu họ có thể trở thành chuẩn mực để đối tượng noi theo hay không? về vấn đề này có thể nói: tất cả mọi người đều có khả năng trở thành nhân viên điều trị gương mẫu bất kể họ có xuất phát điểm như thế nào. Mặc dù ảnh hưởng của những nhân viên điều trị trước kia là người nghiện thì không thể so sánh được, nhưng đối tượng nghiện cũng cần phải có những chuẩn mực khác nữa để làm theo nếu như anh ta muốn trang bị cho mình những kỹ năng xã hội thích hợp. Một người dã từng nghiện ma túy thì có thể sẽ kém hơn những nhân viên điều trị khác về các kỹ năng xã hội cho nên trong giai đoạn cuối của qúa trình phục hồi đòi hỏi phải trang bị cho đốì tượng những kỹ năng cần thiết để họ tái hòa nhập cộng đồng thì vai trò của các nhân viên điều trị chuyên nghiệp là không thể thiếu được.


II/ NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC NHÂN VIÊN ĐIỀU TRỊ

Tinh thần đồng đội (khả năng làm việc theo nhóm) và sự tôn trọng lẫn nhaunguyên tắc cơ bản của các nhân viên điều trị TC. Điều quan trọng là hai nguyên tắc này cũng phải được những ngươi có vai vế, uy tín trong cộng đồng tôn trọng và lấy đỏ làm gương cho các thành viên khác của cộng đồng. Các đối tượng là thành viên của cộng đồng cũng phải coi hai nguyên tắc đó là nền tảng mối quan hệ trong công việc của mình. Khả năng làm việc theo nhóm có nghĩa từng thành viên của nhóm hiểu rõ vai trònghĩa vụ của mình. Tinh thần đồng đội, khả năng làm việc nhóm cũng như sự tôn trọng lẫn nhau trong quá trình giao tiếp giữa những người có uy tín với các thành viên của cộng đồng sẽ khuyến khích việc các thành viên giao tiếp với nhau.
Để xây dựng được môi trường trị liệu cộng đồng có hiệu quả, các nhân viên điều trị phải có khả năng phối hợp làm việc trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau. Việc làm thế nào để tạo ra được một thái độ làm việc như vậy là hoàn toàn nhờ vào uy tín và sự lãnh đạo của những người tổ chức hay đứng đầu cộng đồng trị liệu. Người cán hộ lãnh đạo muốn vậy cũng phải tuân thủ nguyên tắc này trong khi giao tiếp với các nhân viên của anh ta.

III/ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÂN VIÊN ĐIỀU TRỊ VỚI ĐỐI TƯỢNG

Mặc dù TC có mục tiêu rõ ràng là tạo ra môi trường phù hợp cho sự điều chỉnh hành vi của đối tượng, nhưng TC cũng có thể sẽ thất bại nếu như thiếu đi lòng quyết tâm của nhà lãnh đạonhững người có uy tín trong cộng đồng. Người ta nhận thấy rằng, lĩnh vực điều trị cai ngiện thu hút đủ loại người. Ta có thể gặp trong môi trường điều trị những người nghiện với những câu chuyện đáng ngạc nhiên về chủ nghĩa anh hùng cá nhân, sự hy sinh bản thân để chăm sóc người thân hay việc lạm dụng sức lao động của những người trong hoàn cảnh tuyệt vọng v.v… Trong ấn bản năm 1989, Maeder – một tác giả đã viết rằng các chuyên gia tư vấn tâm lý và thành viên của cộng đồng tôn giáo (những người mà sau này được gọi là người hàn gắn vết thương) dường như thu hút một lượng lớn những người có trạng thái tình cảm không ổn định. Nhưng điều đáng chú ý là chính những người chuyên đi hàn gắn vết thương này đôi khi không giải quyết được những khó khăn của chính bản thân mình.

Quy luật tương tự như vậy cũng chi phối mối quan hệ giữa cán bộ điều trị và đối tượng nghiện. Cán bộ điều trị, những người được xem là tấm gương sáng để toàn thể cộng đồng noi theo thì luôn phải cư xử với các thành viên của cộng đồng với một thái độ có trách nhiệm. Nhưng cơ chế của TC được thể hiện ở những nghi thức và quy tắc xã hội, có thể giúp ngăn chặn việc vô tình hay cố tình sử dụng sai nguyên tắc sức mạnh và quyền hạn trong mọi tầng lớp đối tượng điều trị tại cộng đồng. Tất nhiên là nếu thiếu sự hướng dẫn tận tình của những người lãnh đạo có trách nhiệm trong một mô hình TC không hoàn chỉnh thì những cơ chế này có thể không được xây dựng và thực hiện đầy đủ.

Nhằm nâng cao những quy tắc chuẩn mực của TC, chúng ta cần phải quan tâm hơn nữa đến việc đào tạo những cán bộ điều trị kể cả các nhân viên chuyên nghiệp lẫn những cán bộ quản giáo trước kia đã từng là người nghiện ma túy. Việc chuyên môn hóa đội ngũ điều trị có thể sẽ giúp cải thiện chất lượng điều trị của cộng đồng nói chung và của những người cán bộ quản giáo nói riêng.

IV/ CƠ CẤU CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI

Sở dĩ, môi trường (trị liệu TC nổi tiếng là nhờ nó được tổ chức tốt và là môi trường có cơ cấu hoạt động chặt chẽ. Sạch sẽ và thoải mái là 2 nguyên tắc được ưu tiên hàng đầu trong việc sắp xếp cơ sở vật chất của TC. Người ta liên tưởng rằng môi trường điều trị sạch sẽ và dễ chịu sẽ khích lệ những hành vi lành mạnh. Môi trường tự nhiên sẽ phản ánh bản chất của cộng đồng sống trong môi trường đó. Mặc dù có một vài mô hình TC buộc phải thích nghi với cơ sở vật chất sẵn có ví dụ như nhà tù, các khu nhà cũ, cơ sở khám chữa bệnh hay thậm chí một trường học cũ nhưng người ta cũng không quên tái thiết lại môi trường sao cho phù hợp với yêu cầu của một cộng đồng trị liệu.

Hầu hết các cộng đồng trị liệu ngày nay hoại động trong những cơ sở với trang thiêu bị hiện đại nhưng nó vẫn mang dáng dấp một gia đình nhiều hơn là một trung tâm điều trị. Ngay cả ở trong tù hay trong trại cải tạo trẻ em vị thành niên, không khí "nhà tù” cũng không còn nữa. Để thực hiện được điều này, các nhà lãnh đạo TC đã bỏ đi tất cả những gì gợi nên khung cảnh nhà tù với luật rừng thay vào đó là hệ thống chuẩn mực hành vi trong một khung cảnh mang tính chất gia đình. Nhằm khiến cho TC trở thành một môi trường tin cậy cho việc điều trị – phục hồi. Chúng ta phải tạo ra bằng được sự an toàn cả về thể chất lẫn tinh thần cho đối tượng. Đó phải là chỗ mà đối tượng có thể chịu trách nhiệm về sự lựa chọn và hành vi của chính mình. Trong khi nhà tù tạo ra bầu không khí thiếu an toàn, nơi mà đối tượng muốn sinh tồn thì phải dựa hoàn toàn vào mánh khoé và cái gọi là luật rừng, thì môi trường TC lại tạo ra những hành vi xã hội lành mạnh như tin tưởng giúp đỡ lẫn nhau trong bầu không khí gia đình.

Những thành công lớn của TC trong việc duy trì hoạt dộng điều trị – phục hồi có được là nhờ một cơ cấu hoạt động chặt chẽ. Cơ cấu hoạt động này bao gồm cả việc tổ chức tốt lịch sinh hoạt hàng ngày cho các thành viên của cộng đồng kể từ người cũ cho đến người mới tham gia điều trị. Cơ cấu phân bậc các thành viên cũ và mới cho phép hình dung được thể hiện rõ trong lịch sinh hoạt hàng ngày của mỗi thành viên. Tuy nhiên, cho dù mỗi người có một vai trò và nhiệm vụ khác nhau trong cộng đồng nhưng họ đều hiểu được vị trí của mình trong mục tiêu chung là TC đề ra. Hệ thông phân cấp theo vai trò và lịch sinh hoạt hàng ngày được gọi là "cơ cấu hoạt động".

Chúng ta không cần phải quá chú trọng đến giá trị của cơ cấu hoạt động trong việc cung cấp những điều kiện cần thiết để người nghiện gặt hái được thành công dù là trong những hoàn cảnh cỏ nhiều hạn chế. Điều quan trọng là việc phân cấp cơ cấu tổ chức lịch sinh hoạt thường ngày cũng là một dạng kỷ luật và nó tạo ra cho người nghiện cảm giác ổn định. Giờ đây cuộc sống của anh ta đi vào khuôn khổ và có kế hoạch cụ thế ngược lại hẳn với cuộc sống trước kia của anh ta ngoài xã hội đầy rẫy những bất trắc – một lốì sống điển hình của người nghiện. Cơ câu hoạt động này còn khuyến khích việc đặt kế hoạch cho sự ổn định lâu dài thay vì tự hài lòng với những điều đạt được trước mắt. Những điều này nghe chừng có vẻ đơn giản và dễ thực hiện. Tuy nhiên, một khi người nghiện đã lệ thuộc vào ma túy thì khả năng nhận thức cuộc sống của anh ta cũng bị hạn chế. Điều này thể hiện ở thói quen có liên quan dến việc sử dụng ma túy, làm thế nào để có ma túy và kiếm ma túy ở đâu ? Anh ta không hành động như một người bình thường với những mơ ước, hoài bão là động lực khiến anh ta lên kế hoạch cho mình để có thể biến những ước mơ đó thành hiện thực. Tất cả những người bình thường chúng ta đều hành động theo cách này và ai cũng có một "cơ cấu hoạt động" của riêng mình. Nó cho phép chúng ta cân nhắc việc gì nên ưu tiên làm trước, việc gì làm sau để đạt được những mục đích trước mắt và mục đích lâu dài của bản thân. Nhưng người nghiện thì đánh mất hoặc quên mất cơ cấu hoạt động nàythay vào đó là cơ cấu hoạt động nhằm đạt được trạng thái "phê thuốc". Một trong những yếu tố quyết định sự thành công của việc điều trị cho đối tượng là giúp anh ta có thể quay trở lại áp dụng "cơ cấu hoạt động" bình thường khiến anh ta bước đầu đạt được những thành công nhỏ do chính anh ta dự định trong quá trình phục hồi.

Tóm lại, có thể nói TC là một môi trường điều trị tích cực , năng động chứ không phải là một môi trường tĩnh. Những thay đổi có ý nghĩa mà người nghiện đạt được chính là kết quả của trạng thái đấu tranh tích cực bên trong bản thân người nghiện nhằm loại bỏ những yếu tố làm suy yếu ý chí con người, những yếu tố thường được người nghiện sử dụng để bảo chữa cho thất bại của mình. Bằng cách loại bỏ những yếu tố này, chúng la còn có thể khiến cho họ học lập những thái độ đúng những hành vi phù hợp. Thêm vào đó, nếu chúng ta thành công trong việc thu hút sự tham gia tích cực của người nghiện vào chương trình điều trị, anh ta sẽ có nhiều cơ hội hơn để phục hồi và lấy lại sự tự tin cho bản thân mình.


V/ NHỮNG BIỆN PHÁP ĐIỀU CHỈNH HÀNH VI

"Hãy tin tưởng vào môi trường sống của bạn"

Triết lý bất thành văn của TC.

Những biện pháp điều chính hành vi của TC như kiểm điểm, cạo gáy, giao ban buổi sáng, nhóm đối kháng, họp gia đình hay họp chung v.v.. được xây dựng nhằm sửa đổi những hành vi vi phạm những quy tắc mà TC đề ra. Việc tuân thủ nghiêm ngặt những quy định của cộng đồng hay những quy tắc cốt yếu của TC như không sử dụng ma túy. không có hành vi bạo lực hoặc đe doạ bạo lực, không có hành vi tình dục, không trộm cắp là điều hết sức quan trọng trong việc duy trì sự lành mạnh và sự an toàn của môi trường điều trị. Tuy nhiên chính những thói quen mà người nghiện còn giữ khi anh ta sống ngoài xã hội đã khiến cho anh ta có những hành vi không đúng. Điều này được thể hiện ỏ sự đề phòng và thái độ cảnh giác của người nghiện. Bí quyết của những biện pháp điều chỉnh hành vi là tạo ra cảm giác an toàn nhằm xóa đi thái độ đề phòng, cảnh giác của người nghiện. Không chỉ có vậy, những biện pháp này còn được sử dụng như là công cụ để ngăn chặn, trừng phạt những hành vi làm xói mòn tập quán, sự an toàn và tính lành mạnh của môi trường ví dụ như sự vi phạm những quy tắc cơ bản của cộng đồng.

Hiệu quả của các biện pháp điều chỉnh hành vi là nằm ở cách áp dụng nó như thế nào. Những biện pháp này cũng có thể bị lạm dụng và gây ra những kết quả trái ngược nếu như rơi vào tay những người không hiểu biết thấu đáo về động lực của cộng đồng trị liệu. Nếu thiếu sự tổ chức môi trường trị liệu TC chuẩn mực và thiếu tinh thần trách nhiệm trong việc áp dụng những biện pháp này thì chúng trở nên có hại nhiều hơn có lợi. Vấn đề sử dụng biện pháp nào với mức độ vi phạm như thế nào được quyết định bởi mức độ điều chỉnh hành vi từ thấp đến cao.

Nhẹ nhất là biện pháp kiểm điểm và trao đổi (tư vấn trực tiếp) được áp dụng cho những vi phạm nhẹ. Đối với những môi trường trị liệu được tổ chức tốt thì ít khi phải áp dụng những biện pháp mạnh.

Việc phải tăng cường sử dụng những biện pháp mạnh là dấu hiệu cho thấy môi trường điều trị đó đang có nguy cơ do không được tổ chức tốt đòi hỏi phải xem xét lại trách nhiệm của các thành viên cộng đồng đốì vói những quy tắc và chuẩn mực của TC.

Những biện pháp điều chỉnh hành vi có hiệu qủa trong môi trường TC. Những biện pháp này nếu được sử dụng đúng thì sẽ làm tăng trách nhiệm của các thành viên đối với việc tuân thủ các quy tắc mà TC đề ra. Khi một đối tượng bị gọi lên kiểm điểm trong một lần giao ban buổi sáng hay bị khiển trách trong một lần cạo gáy để những thành viên khác trong cộng đồng sửa chữa hành vi không đúng cửa anh ta , thì anh ta vừa nói chuyện vổi cộng đồng và vừa chính với bản thân mình. Trong quá trình áp dụng những biện pháp này thì điều căn bản là phải đảm bảo chỉ lên án những hành vi sai trái chứ không cố gắng đánh vào lòng tự trọng của đối tượng. Do vậy trong các buổi cạo gáy chỉ nên chú trọng vào phân tích sự vi phạm cứa đối tượng và ảnh hưởng của nó tới bản thân anh ta cũng như tới những người khác. Điều này được thể hiện rõ ở cảm giác biết ơn của đối tượng đối với sự quan tâm và tình thương của các thành viên khác dành cho anh ta thông qua việc giúp đỡ anh ta sửa đổi những thái độ, hành vi không đúng.

Hiệu quả của các biện pháp điều chỉnh hành vi trong việc thay đổi cách ứng xử của cả các nhân viên điều trị chuyên nghiệp được thể hiện ở việc áp dụng thành công giao ban buổi sáng trong khóa tập huân này thường diễn ra trong vòng một tuần và ngay từ ngày đầu tiên các giảng viên cùng với các học viên xây dựng nên những quy tắc phải tuân thủ trong quá trình học tập. Hiệu quả là từ các thành viên của cuộc tập huấn chúng ta đã hình thành được một cộng đồng con tương tự TC. Việc kiểm điểm trong các buổi giao ban buổi sáng nhìn chung đã giải quyết được sự vi phạm quy tắc của các học viên. Khi những quy tắc này được bảo đảm, việc học tập cũng trở nên thuận lợi và đạt kết qủa tốt. Những khóa tập huấn của chúng tôi thường đạt tỷ lệ tham gia đúng giờ và duy trì học tập cao là nhờ có giao ban buổi sáng. Nếu một học viên đã từng bị kiểm điểm vì đến muộn tại giao ban buổi sáng thì anh ta hay chị ta thường ít khi lặp lại hành vi đó lần nữa. Các học viên dường như cũng cảm thấy quan tâm nhiều đến hình thức này. Trong 10 năm vừa qua tôi chưa từng gặp trường hợp các thành viên tham gia hay toàn bộ khóa tập huấn đạt tỷ lệ thành công thấp trong giao ban buổi sáng. Thay vào đó, các học viên đều nói rằng bên cạnh những kiến thức mà họ có được từ bài giảng , họ còn nhận thức thêm được nhiều điều từ chính bản thân mình.

QUY TẮC TRONG GIA ĐÌNH : XÂY DỰNG GIỚI HẠN HÀNH VI VÀ HÀNH VI THEO QUY TẮC

Một trong những điều mà người mới tham gia điều trị trong môi trường TC thường phàn nàn đó là có quá nhiều quy tắc được áp dụng. Những quy tắc quan trọng nhất cần được áp dụng đó là: 

1)    Không sử dụng ma túy.

2)    Không có hành vi bạo lực hay đe dọa sử dụng bạo lực.

3)    Không có hành vi tình dục.

4)    Không trộm cắp.

Việc các thành viên của cộng đồng phải triệt để tuân thủ các quy tắc này là điều bắt buộc. Bất kỳ hành vi vi phạm nào đều được coi là đe dọa đối với sự ổn định và lành mạnh của môi trường điều trị và sẽ phải có cách xử lý thích hợp. Thông thường, những người vi phạm quy tắc nếu không bày tỏ sự hối hận, ăn năn về hành vi của mình và tiếp tục gây hại cho người khác thì sẽ bị trục xuất ra khỏi cộng đồng. Trước khi chính thức kết nạp một thành viên mới vào cộng đồng, người ta sẽ giải thích cặn kẽ cho anh ta hiểu những quy tắc của cộng đồng và anh buộc phải có trách nhiệm tuân thủ tuyệt đối nếu muốn tham gia điều trị.

Nhờ việc xây dựng các giới hạn hành vi mà các cán bộ quản giáo có thế duy trì một môi trường điều trị an toàn và lành mạnh. Các biện pháp điều chỉnh hành vi được sử dụng như là công cụ củng cố và nhắc nhở các thành viên nhớ tới kết cục của việc vi phạm các quy tấc đề ra hay không tuân thủ các quv tắc này.


VI/ CÁC BIỆN PHẤP HÀN GẮN, XOA DỊU VẾT THƯƠNG 

"Bạn sẽ không thể chịu đựng nổi nó trừ khi bạn chia sẻ với người khác"

Triết lý bất thành văn của TC


Những biện pháp điều chỉnh hành vi chỉ là bước đầu trong quá trình kiểm soát, quản lý hành vi của thành viên cộng đồng. Hiệu quả của những biện pháp này hoàn toàn mang tính tạm thời và chủ yếu dựa vào những tập quán quy tắc do cộng đồng xây dựng. Nhằm đạt được sự ổn định trong việc thay đổi hành vi cần phải chú ý phân tích nguyên nhân sâu xa để xây dựng mối liên hệ cần thiết giữa giá trị của hành vi mới với mục tiêu của lối sống đúng mực.

Những biện pháp điều chỉnh hành vi đỏng vai trò ngăn cản yếu tố khiến cho đối tượng không thể có một cuộc sống bình thường.

Còn những biện pháp hàn gắn, xoa dịu vết thương giúp cho đối tượng có được nhận thức sâu sắc hơn về bản thân mình.

Hai biện pháp này bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau. Việc quá chú trọng vào một biện pháp cụ thể nào đó cũng không cho kết quả tốt hơn là tiến hành cả hai biện pháp song song hỗ trợ lẫn nhau. Nói một cách khác, nếu như chúng ta chỉ áp dụng các biện pháp điều chỉnh hành vi một cách đơn thuần, thi các đối tượng của chúng ta sẽ cư xử không khác gì người gỗ. Đồng ý là họ sẽ có hành vi đúng trong môi nường cuộc sống tập thể nhưng những hành vi đó sẽ mất đi một khi họ rời khỏi môi trường điều trị.

Tư vấn trong môi trường tc

Tư vấn cho dù là nhóm hay cá nhân đều đem lại cho đối tượng cơ hội khám phá quá khứ, tiền sử cá nhân có liên quan đến việc sử dụng ma túy của anh ta. Việc một người nghiện ma túy phủ nhận sự thật sẽ càng được củng cố theo năm tháng, bề dày của quá trình anh ta sử dụng ma túy. Xóa tan sự phủ nhận này cũng đồng nghĩa với việc bắt anh ta phải đôi đầu vởi sự thật phũ phàng của cuộc đời mà bấy lâu nay anh ta vẫn thường né tránh. Một phần của sự phủ nhận thể hiện ở việc anh ta thường hợp lý hoá thất bại của mình trong việc từ bỏ ma túy. Việc tháo gỡ cho đối tượng những vướng mắc loại này cũng tương tự như khi chúng ta bóc vỏ hành từng lớp một. Biện pháp tư vấn điển hình được áp dụng trong môi trường TC là biện pháp đối diện trực liếp, nó thử thách niềm tin và trách nhiệm cá nhân của mỗi người nghiện.

Nhóm định hướng, nhóm điều tra, nhóm mở rộng và nhóm marathon

Cộng đồng trị liệu TC đã xây dựng một số liệu pháp nhóm từ đơn giản đến phức tạp nhầm nâng cao chất lượng của việc điều trị cai nghiện. Mỗi loại nhóm nhằm giải quyết một khía cạnh khác nhau. Có những mục tiêu nhất định mà người nghiện buộc phải đạt được trước khi chuyển sang điều trị ở nhóm khác. Ví dụ như, một người mới tham gia chương trình điều trị cai nghiện cần phải tham gia sinh hoạt nhóm định hướng hàng tuần nhằm giải quyết những mục tiêu trước mắt hay phát hiện những lĩnh vực của cuộc sống mà họ đang gặp khó khăn và cần phải học hỏi để vượt qua trở ngại, khó khăn đó.

Nhóm điều tra là bước tiếp theo ngay sau đó với yêu cầu cao hơn nhằm giúp đối tượng tự cởi mở về cuộc sống cá nhân, đặc biệt là những phạm trù tế nhị như yếu tố tâm lý tình dục có liên quan đến tiền sử nghiện của đốì tượng. Khi tham gia nhóm điều tra, đốì tượng được khuyến khích bàn luận những vấn đề có liên quan đến đời sống tình dục của anh ta, ảnh hưởng của nó đến nhận thức của cá nhân anh ta. Nhóm mở rộng nhóm marathon là hai nhóm phức tạp nhất trong các biện pháp nhóm trị liệu. Việc tham gia sinh hoạt 2 nhóm này có thể kéo dài cả ngày hay thậm chí 2 ngày trong phòng điều trị cách biệt. Vấn đề được đưa ra thảo luận là khía cạnh tiền sử của đối tượng có liên quan đến kế hoạch giải quyết các khó khăn, trở ngại cùa anh la như thế nào. Hai nhóm này đòi hỏi đối tượng phải có sự cởi mở và trung thực khá cao cùng một số nhận thức nhất định về bản thân.

Nhìn chung, đối tượng của chúng ta thường vấp phải khó khăn khi tâm sự một cách cởi mở bởi lẽ họ thiếu sự tin cậy vào người khác. Thông thường, việc thiếu tin tưởng vào những người xung quanh có liên quan đến cảm giác tự ti và thiếu tự trọng. Một khi đối tượng biết gạt bỏ đi sự phủ nhận, quay lại đối diện với thực tại, anh ta sẽ thấy rằng những ngày tháng vừa qua của anh ta trong nghiện ngập là thực sự đáng tiếc. Ngược lại, những người mới tham gia chương trình điều trị thì cảm thấy dường như xung quanh anh ta đâu cững là điều xấu. Chúng ta không thể trông đợi ở việc một người mới tham gia chương trình mà lại có thể có lòng tự tin và sự cởi mở ngay được. Tuy nhiên, có nhiều cách để giúp cho một người thành viên của cộng đồng đối diện với thực lại và cởi mở nói ra sự thật về cuộc đời anh ta. Cuộc sống tập thể trong cộng đồng TC giúp cho người nghiện lấy lại được sự kiểm soát cuộc đời anh ta và nhất định anh ta sẽ thành công nếu như cộng đồng đó có cơ hội giúp đỡ anh ta.

Nhóm đối kháng

Nhóm đôi kháng được tổ chức ít nhất tuần 2 buổi nhằm ra cơ hội cho các thành viên cộng đồng bày tỏ thái độ khó chịu mà bấy lâu nay họ phải kìm nén trong mình. Việc tỏ thái độ khó chịu, tức giận đối với những người không tham gia nhóm đối kháng là hoàn toàn bị cấm. Quá trình sinh hoạt nhóm được diễn ra dưới sự giám sát chặt chẽ của các nhân viên, cán bộ điều trị giàu kinh nghiệm. Những nguyên tắc chặt chẽ được áp dụng nhằm điều chỉnh các hành vi của đối tượng tham gia nhóm đôi kháng. Việc diễn giải bằng lời những khó chịu, tình cảm tiêu cực trong một môi trường được giám sát chặt chẽ sẽ mang lại hiệu quả hàn gắn và tạo ra cơ hội cho các thành viên hiểu rõ hơn suy nghĩ của người khác dành cho mình và qua đó tăng cường nhận thức về bản thân. Những đối tượng có khả năng lợi dụng hình thức sinh hoạt nhóm này để giải tỏa cảm giác bực bội cũng thường gạt hái được nhiều thành công hơn vong quá trình phục hồi. Mặc dầu các thành viên được khuyến khích để biểu lộ thái độ, quan điểm về nhau nhưng không được sử dụng những từ ngữ mang tính chất xúc phạm nhau. Điều không kém phần quan trọng trong qúa trình bày tỏ thái độ của đối tượng là khả năng nhận thức được tại sao người đó lại làm mình khó chịu và nhận thức đó ảnh hưởng đến cảm giác của bản thân anh ta như thế nào. Thông thường, việc nói ra được cảm giác của bản thân sẽ xây dựng nên những thông tin cá nhân về các thành viên trong nhóm và những thông tin đó có thể được sử dụng trong sinh hoạt các nhóm khác.

Nếu một chương trình điều trị có thể áp dụng thành công sinh hoạt nhóm đối kháng thì cũng sẽ dễ dàng thành công trong việc tiến hành các nhóm trị liệu khác của TC . Những chương trình trị liệu loại này có xu hướng giáo dục được những thành viên tốt hơn trong một môi trường trị liệu ổn định hơn. Những thành công mà đối tượng gặt hái được sau khi tham gia nhóm đối kháng, đặc biệt là về nhận thức bản thân giúp cho họ có được sự chuẩn bị tốt hơn khi bước sang sinh hoạt ở nhóm khác. Tuy nhiên, muốn đạt được thành công nhất định từ các biện pháp trị liệu nhóm, đối tượng phải sẵn sàng chấp nhận thử thách thông qua việc cởi mở bản thân mình.


VII/ NHỮNG BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC BẢN THÂN

"Lao động khiến cho con người trưởng thành"

Khalil Gibran


Cộng đồng trị liệu coi lao động là yếu tố quan trọng giúp đối tượng phục hồi nhanh chóng từ tình trạng nghiện. Lao động có liên quan đến nhận thức của một người về vai trò của anh ta trong cộng đồng. Suy cho cùng lao động giúp anh ta ở vị trí nào trong bậc thang xã hội. Một người khi biết rằng anh ta là thành viên có ích cho xã hội thì anh ta không mấy khi lại dính líu tới những hành vi sai trái. Điều này giúp chúng ta hiểu được vai trò của lao động trong đời sống xã hội của con người cũng như trong quá trình phục hồi của đối tượng được điều trị tại môi trường TC. Tất cả mọi thành viên đều đóng góp sức mình vào công việc hàng ngày nhằm duy trì chương trình điều trị, duy trì cơ sở vật chất và hoạt động của cộng đồng.

Cơ cấu tổ chức của TC


Cộng đồng trị liệu được tổ chức theo một cơ cấu chặt chẽ dựa trên nguyên lý cấp bậc trách nhiệm tăng dần do các thành viên của cộng đồng đảm nhiệm, những người ở giai đoạn khác của chương trình điều trị. Để có được một vị trí trong cộng đồng, đối tượng phải có nhận thức đúng đắn về tầm quan trong hoạt động hàng ngày. Cơ cấu tổ chức này đảm bảo công việc được hoàn thành đúng lúc dưới sự giám sát chặt chẽ.

Cơ cấu tổ chức của TC là một hệ thống phân công lao động rất hiệu quả. Nó khiến cho TC có thể tự sản tự tiêu bằng cách tận dụng được tối đa nguồn nhân lực dồi dào của cộng đồng. Cơ cấu này còn cho phép tập trung vào một yếu tố kỹ thuật trong việc điều hành một chương trình điều trị hơn là triển khai những hoạt động vụn vặt, lẻ tẻ. Hệ thống này khuyến khích các thành viên phấn đấu để đạt được những vị trí nhât định ưong cộng đồng, khuyến khích tinh thần tự lập…

Mặc dầu vậy, những người quản lý TC thường không quan tâm đến việc xây dựng một lịch lao động sát sao đến từng phút như việc chuẩn bị bữa ăn, dọn dẹp vệ sinh v.v… nhưng họ giám sát rất chặt chẽ thái độ và hành vi của thành viên TC. Trong cơ cấu tổ chức này, mọi thông tin đều rõ ràng. Dựa trên những thông tin phản hồi về điều đã và đang xảy ra trong cộng đồng, các vụ việc sẽ lần lượt được nâng cấp bậc trong cộng đồng xử lý. Những vụ việc có thể gây hại nghiêm trọng cho sức khỏe của thành viên cộng đồng hay sự an toàn của môi trường điều trị như sự xuất hiện thẩm lậu ma túy trong cộng đồng ngay lập tức sẽ được cấp cao nhất của cộng đồng quan tâm xử lý.


Sự thăng cấp và giáng cấp trong hệ thống phân công công việc của TC


Nhằm giáo dục đối tượng trở thành một thành viên có ích của cộng đồng, TC chú trọng vào việc giúp đỡ đối tượng trước hết hiểu thêm về chính bản thân mình, hiểu được nhược điểm của mình ví dụ như cảm giác tự ti trong một hoàn cảnh xã hội nào đó. Giả sử, một người không dám làm việc ở một vị trí đang đòi hỏi phải có năng lực lãnh đạo, phải biết quyết định … Vị trí làm việc đó khiến cho anh ta luôn luôn phải lo lắng. Để có thể giúp anh ta vượt qua sự lo sợ ta phải khuyến khích anh ta chấp nhận sự thử thách của công việc. Muốn giao cho đối tượng một công việc ta phải cân nhắc kỹ thái độ, hành vi và đặc biệt là khả năng chấp nhận thử thách của anh ta. Vì nói cho cùng, lao dộng cũng là một trong những biện pháp trị liệu cho nên ở một số chương trình điều trị, thất bại là sử dụng đốì tượng điều trị như một dạng nhân công rẻ mạt cho sản xuất.

Những đối tượng tích cực trong công việc và có thái độ đúng đắn đối với lao động thì thường có xu hướng coi trọng công việc mà họ đang làm và vị trí của họ trong công việc. Như vậy không có nghĩa là cứ làm việc tốt là đủ. Đối tượng phải có thái độ và hành vi đúng với quá trình làm việc. Việc không tuân thủ những quy tắc mà TC đề ra trong lao động thường dẫn đến sự giáng cấp trong hệ thòng phân công công việc của TC. Việc luân chuyển, thay đổi công việc diễn ra thường xuyên trong TC cho phép các đôi tượng có cơ hội tiếp xúc vơi nhiều loại vị trí công việc trong môi trường.

Bởi lẽ quan điểm của TC là đối tượng phải:

Tìm hiểu về chính bản thân anh ta trước.

Điều chỉnh thái độ và hành vi cho đúng.

Sau đó lao động tích cực để có được một vị trí trong cộng đồng cho nên những chương trình giáo dục dạy nghề của TC thường đạt tỷ lệ thành công cao với thời gian ngắn và chi phí thấp . Chương trình giáo dục dạy nghề thường không chính thức dành cho những thành viên mới của TC, những người cần phải có thời gian để điều chính thái độ hành vi trước khi được tham gia lao động học tập. Cộng đồng trị liệu quan niệm rằng chỉ có thái độ đúng với công việc mới có thể đảm bảo cho đốì tượng có việc làm ổn định khi đối tượng trở lại cộng đồng. Quá trình thăng cấp và giáng cấp trong hệ thống phân công công việc của TC là một quá trình học tập hữu ích cho những đối tượng vốn không có thói quen duy trì một việc làm ổn định trong một thời gian dài.


Chuấn bi tái hoà nhập cộng đồng:

Thu nhận được một hệ thống kiến thức sau khi tham gia điều trị — phục hồi và áp dụng những kiến thức đó vào thực tiễn công tác hàng ngày đòi hỏi phải có sự nhận thức sâu sắc về bản thân và mong muốn duy trì một cuộc sống lành mạnh không có ma túy. Giá trị của những gì đối tượng thu nhận được trong quá trình điều trị sẽ được kiểm chứng lại khi anh ta tái hoà nhập cộng đồng, trở về với cuộc sống thực tại. Khó có thể tưởng tượng được rằng một người nghiện rượu lâu năm, sau khi điều trị quay trở lại cộng đồng làm việc tại một quầy rượu lại vẫn có thể duy trì một cuộc sống lành mạnh không uống rượu.

Trong giai đoạn cuối của chương trình điều trị, TC sẽ cho người nghiện dần dần thoát ly môi trường có kiểm soát và tiếp xúc ngày một nhiều với môi trường xã hội. Đối tượng có thể tự đi tìm việc, trở lại nhà trường hay tham gia các hoạt động có ích khác. Đối tượng sẽ tự sắp xếp thời gian cho những hoạt động bên ngoài cộng đồng TC nhưng vẫn đảm bảo tham gia sinh hoạt nhóm tư vấn, chăm sóc sau cai của các chuyên gia về tái hoà nhập cộng đồng. Họ phải hoàn tất khóa học về phòng chống tái nghiện và chứng tỏ những kỹ năng xử lý tình huống có nguy cơ dẫn đến tái nghiện. Họ cũng có thể tham gia giúp đỡ nhừng thành viên khác của cộng đồng thực hiện các hoạt động điều trị.

Khả năng tìm được và duy trì một việc làm ổn định, hòa nhập được với gia đình, tiếp tục làm việc và duy trì trạng thái phục hồi là mục tiêu chính của giai đoạn này. Đối tượng lúc này nhận được sự giúp đỡ cả từ phía nhân viên điều trị và từ gia đình. Nếu tái nghiện xảy ra trong giai đoạn này, đối tượng có thể sẽ phải quay lại TC và được trang bị thêm những biện pháp can thiệp cho đến khi anh ta thực sự đủ khả năng duy trì trạng thái phục hồi.

VIII/ YẾU TỐ TINH THẦN TRỒNG PHƯƠNG PHÁP CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU

Trong bất cứ cuộc thảo luận nào về yếu tố tinh thần trong cộng đồng trị liệu hầu như người ta không tránh khỏi việc nói lạc sang chủ đề tôn giáo và tín ngưỡng. Phần lớn trong số chúng ta cũng không cho rằng những chủ đề này có gì khác nhau, thậm chí đôi khi chúng ta còn có thể hoán vị chúng với nhau. Nhằm tránh việc nhầm lẫn giữa yếu tố tinh thần và khái niệm tôn giáo, tinh thần trong cộng đồng trị liệu được định nghĩa là : "bất kỳ hành động hay hoạt động nào thể hiện, phản ánh lòng tốt của con người". Đây là một định nghĩa khái quát, nó bao gồm rất nhiều loạt hoạt động của con người kể cả hoạt động tôn giáo hay những việc làm có ích giúp tăng cường nhận thức của con người.

 

TRIẾT LÝ CỘNG ĐỒNG

Chúng ta từ nhiêu nơi sum họp về đây dù mỗi người có cá tính và hoàn cảnh khác nhau.

Chính nơi đây tôi đã gặp được ánh mắt, trái tim bạn bè.

Chính nơi đây tôi đã được dìu dắt bởi tấm lòng yêu thương của thầy cô và của cả cộng đồng.

Tôi đã cô đơn vì luôn sợ người khác biết về mình vì thế tôi càng không hiểu mình và cũng chẳng hiểu ai.

Tôi đã không ngừng lẩn trốn nhưng đến nay tôi đã nhận ra bản thân mình.

Tôi không còn cảm thấy bất an vì tôi đã chia sẽ những bí mật của đời mình với người khác.

Chính tại nơi đây tôi đã tìm thấy tấm gương để soi rọi mình.

Chính tại nơi đây nhờ gia đình nhờ mọi người cuối cùng tôi đã hiểu rõ về chính mình.

Tôi không phải người hùng trong những giấc mơ và không còn thấp hèn trong những cơn hoảng sợ.

Tôi đã biết phải kiềm chế những cám giỗ để làm chủ bản thân để tâm hồn bình an và thanh thản.

Tôi sẽ trở thành một thành viên của tập thể góp phần mình cùng xây dựng mục đích chung.

Tôi sẽ không còn cô đơn như trong cõi chết mà đang sống một cuộc sống cho mình và cho mọi người.

Chính tại nơi đây tôi mọc rễ đâm chồi và vươn lên. Có sự yêu thương của thầy cô, có sự giúp đỡ của bạn bè để cùng nhau tiến bộ. Tôi phải đi đến được mục đích cuối cùng là giải phóng được bản thân tôi.

IX/ HỆ THỐNG NIỀM TIN TRONG CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU

Niềm tin vào sự tồn tại của lòng tốt:

Cho dù một người gặp bất hạnh như thế nào trong cuộc đời thì anh ta cũng không nên đeo đẳng mã những suy nghĩ về những điều đã xảy ra. Khi chúng ta giúp đỡ anh ta đối diện với sự thật, nói ra những điều bí mật mà anh ta dấu diếm trong lòng cũng như tìm các học hỏi từ những vấp váp mà anh ta đã từng gặp phải. Chúng ta không đánh giá con người qua những việc mà anh ta đã làm trong quá khứ mà thái độ trung thực của anh ta tại thời điểm này trong việc sửa chữa những sai lầm của quá khứ. Người nghiện có thể thay đổi nhưng chỉ khi anh ta thực sự mong muốn mình thay đổi. Nếu như anh ta cố gắng nỗ lực không ngừng thì nhất định cuối cùng anh ta cũng duy trì được một lối sống lành mạnh. Đó chính là điều mà cộng đồng trị liệu tin tưởng ở con người.

Niềm tin vào khả năng hối cải và phục thiện của con người:

Có một thời gian khá dài cả xã hội đều tin chắc một điều rằng "người nghiện thì mãi mãi sẽ là người nghiện". TC đã bác bỏ điều này bằng cách đưa ra ví dụ thực tiễn, những người đã từng tham gia điều trị, đã vượt qua được sự cám dỗ của ma túy và nay đang sông một cuộc sống lành mạnh. Không ít người trong số họ vẫn đang tiếp tục cuộc chiến chống lại nguy cơ tái nghiện, tái sử dụng rượu và ma túy. Những ai không bỏ cuộc thì nhất định cuối cùng sẽ có một cuộc sống bình thường và ổn định. Khi một người nghiện mới tham gia môi trường điều trị TC thì điều làm anh ta ngạc nhiên đó là anh chỉ nhận được sự giúp đỡ vừa đủ để anh ta có thể tự giúp chính bản thân mình. Người ta không buộc anh ta phải hối tiếc về những điều sai trái dù lớn, dù nhỏ mà anh ta đã làm. Những người xung quanh cư xử với anh ta như một con người bình thường. Không ai giám sát anh ta nhưng tất cả mọi người đều quan tâm chăm sóc xem anh ta tiến triển như tbế nào. TC tạo ra một môi trường tự nhiên đến nỗi một người mới đến hầu như không thể tin được rằng thậm chí anh ta có thể tự do đi lại mà không có camera theo dõi 24/24, điều này nghe có vẻ hơi vô lý, nhưng có một điều rõ ràng là người nghiện sẽ dần nhận thức được: cuối cùng, chính tại nơi đây, TC cho anh la mộl cơ hội dành đưực một chỗ đứng dưới ánh sáng mặt trời.

Niềm tin vào việc giúp người khác cũng là giúp chính bản thân mình:

Một trong những phẩm phất quý báu mà đổì tượng sau khi điều trị ở môi trường TC có được đó là việc luôn sẵn lòng giúp đỡ những ai cần sự giúp đỡ. Khái niệm "cho” hầu như trở nên quen thuộc đối với mọi người. Đối tượng muốn duy trì một lôi sống lành mạnh thì anh ta phải biết chia sẻ những gì mà anh ta nhận được, anh ta mới là người sở hữu thực sự của chúng. Có một câu nói rất hay mô tả được hết ý nghĩa của khái niệm "cho" trong môi trường trị liệu TC: Bạn sẽ không thể chịu đựng nổi nó trừ khi bạn chia sẻ vơi người khác.

Niềm tin vào việc những điều lớn lao, vĩ đại hơn cả cá nhân con người:

Về vấn đề đức tin. Một khi đã là người nghiện, trong con người họ không còn chỗ dành cho Đức Chúa hay lòng nhân từ. Việc tin tưởng vào Chúa hay những điều răn trong kinh thánh có thể làm tăng mặc cảm phạm tội ở người nghiện. Vai trò của đức tin hay có niềm tín vào những điều lớn lao vĩ đại hơn cả cá nhân con người là yếu tố quan trọng trong việc vượt qua sự tự mãn vốn đĩ đã ăn sâu vào suy nghĩ của người nghiện. Có một điều gì đó hối thúc bên trong , biến chuyển tự nhiên khiến cho người nghiện từ bỏ suy nghĩ tự mãn, tự phụ để tìm đến niềm an ủi trong niềm tin vào Chúa hay Đấng sáng tạo.

Niềm tin vào phẩm giá của con người:

Có một phẩm chất đạo đức của con người mà ta luôn luôn phải coi trọng đó chính là phẩm giá hay giá trị của con người. Cộng đồng trị liệu TC sử dụng thuật ngữ phẩm giá để miêu tả khái niệm giá trị của con người thay vì thuật ngữ "Niềm tự hào về phẩm chât". Theo quan điểm của TC, người nghiện có niềm tự hào về phẩm giá của mình thường tích cực tham gia vào chương trình điều trị – phục hồi vì đó là biện pháp giúp họ nhanh chóng chuyển đổi thái độ và hành vi, nhằm lấy lại những gì mà họ đã mất.

Thành viên của TC thì phải có một cuộc sống mẫu mực, tuân thủ những quy tắc nhất định về thái độ, hành vi và phải có trách nhiệm đốì với hành vi đó. Thành viên nào vốn đã có niềm tự hào về phẩm chất thì thường tỏ ra là một công dân tốt của cộng đồng, tuân thủ các quy lắc về trách nhiệm đối với thái độ, hành vi của mình. Duy trì được niềm tự hào về phẩm chất trong lối sống sẽ giúp con người tránh xa ma túy và tránh xa được cả những yếu tố tiêu cực luôn đi kèm theo nó.

X/ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG YẾU TỐ TINH THẦN TRONG TC

Như chúng ta đã biết, TC không phải là một chương trình thuần túy nói về yếu tố tinh thần. Yếu tố tinh thần chỉ được sử dụng với khía cạnh giúp cho quá trình thay đổi, phục hồi của người nghiện thông qua việc nhìn nhận cuộc sống dưới một góc độ khác. Điều tôi sẽ trình bày ở đây là một quá trình điều trị nhằm tăng cường nhận thức về yếu tố tinh thần cho người nghiện trong giai đoạn phục hồi.

Giai đoạn 1:

Cuộc sống trong TC là một cuộc sông tập thể. Cuộc sông tập thể ở đây có một ý nghĩa khác với điều mà mọi người vẫn nghĩ về nó. TC tạo ra những điều kiện cần thiết cho người nghiện ma túy để họ có thể nhanh chóng phục hồi trong môi trường có định hướng rõ ràng về "mục đích và kết quả". Chúng ta không mấy ngạc nhiên khi một người nghiện cho dù nặng nhẹ thế nào nhưng nếu đã từng có một thời quá khứ tốt thì sẽ không gặp nhiều khó khăn trong việc thích nghi với cuộc sống kỷ luật của TC. Tuy nhiên, những người có lý lịch không tốt như bỏ nhà, sống bụi đời hay không có tuổi thơ thì thường gặp khó khăn hơn. Họ cần phải biết được thế nào là hành ví đúng trước khi có thể bước vào qúa trình phục hồi. Đây chính là một thử thách lớn không chỉ với họ mà còn với tất cả các nhân viên điều trị của TC.

Trong môi trường mới, người nghiện bắt đầu học cách thích nghi và học những khái niệm cơ bản của TC. Quá trình học hỏi này được tiến hành từ đơn giản đến phức tạp. Tất cả những điều người nghiện cần phải học đều được đơn giản hóa đến mức tối đa. Thông thường, trong giai đoạn này. đối tượng chưa cần phải hiểu cặn kẽ những gì mình được học. Đối tượng chỉ cần nhập tâm và tạm chấp nhận những khái niệm được đưa ra. Tóm lại, đối tượng có thể được giới thiệu về hệ thống điều trị của TC nhưng anh ta chưa cảm giác hay chưa thực sự hiểu về nó. Đây chỉ là giai đoạn chuẩn bị cho người nghiện bước sang giai đoạn thứ hai là giai đoạn bước vào chuyển đổi thái độ hành vi để dần dần phục hồi trong môi trường điều trị TC.

Giai đoạn 2:

Trong giai đoạn 2, nếu như người nghiện đà vượt qua giai đoạn 1, anh ta sẽ bắt đầu chủ động tìm kiếm cơ hội để tự điều chỉnh chính bản thân mình. Anh ta tham gia vào các hình thức sính hoạt nhóm khác nhau để chia sẻ và tâm sự với người khác về quá khứ của mình. Việc này sẽ động chạm đến những vấn đề gai góc nhất của cuộc đời anh ta.

Trong giai đoạn này, đối tượng đã quen với quy tắc thường nhật của TC. Môi trường an toàn và lành mạnh, cách xa những cám đỗ của ma túy sẽ giúp anh ta có thời gian suy ngẫm lại cuộc đời mình. Thông thường đây là giai đoạn khó khăn trong quá trình điều trị bởi vì người nghiện phải đối diện với tất cả những nỗi đau, sự xấu hổ, mất mát của cuộc đời mà bấy lâu nay anh ta thường né tránh. Một khi đối tượng đã vứt bỏ được sự mặc cảm, sự tự lừa dối mình, anh ta sẽ đạt được sự kiểm soát cuộc đời anh ta. Anh ta phát hiện được sức mạnh tiềm ẩn bên trong và nhận thấy rằng anh ta có thể điều khiển cuộc đời theo ý mình. Anh ta cũng nhận thức được một phần về cái tôi của mình và đó là điều cần thiết để anh ta tiếp lục trên con đường điều trị – phục hồi. Anh ta hiểu rằng không phải nghiện là vô hy vọng mà với sự giúp đỡ của những người xung quanh, anh ta có thể vượt qua những trở ngại trong điều trị. Anh ta cũng hiểu được rằng : Một mình bạn có thể làm được điều đó nhưng bạn sẽ không thành công nếu làm việc đó một mình”.

Giai đoạn 3:

Đến giai đoạn này, người nghiện bắt đầu tự sắp xếp lại những mảnh vỡ của cuộc đời anh ta. Những gì mà anh ta học được ở giai đoạn 2 thì bây giờ được đem ra áp dụng để tái thiết tại cuộc đời của anh ta. Trong giai đoạn này, người nghiện đã thực sự thích nghi với môi trường điều tri. Anh ta cảm thấy thoải mái với chính mình cũng như với những người xung quanh. Anh ta nhận thức rõ được những cảm giác của mình và đôi khi còn phát hiện ra những cảm giác mới mà trước đây anh ta chưa bao giờ có. Đây cũng là giai đoạn của sự thể nghiệm bản thân đối tượng, là giai đoạn đi tìm câu trả lời cho câu hỏi về mục đích sống của đời người. Khao khát muốn tìm hiểu có khi còn mạnh mẽ hơn cả nhu cầu tìm kiếm ma túy. Đối với những người có thiên hướng tôn giáo thì câu hỏi làm họ phải băn khoăn suy nghĩ đó là mối liên hệ giữa con người và Đức Chúa. Đôi khi cảm giác xấu hổ, mặc cảm tội lỗi trước Chúa được thay bằng cảm giác được sự bao dung, che chở trong tình yêu của Chúa. Việc đối tượng tìm kiếm câu trả lời về mục đích cuộc sống trong giai đoạn này có thể giúp anh ta hoạch định được một kế hạch để sống sao cho có ích trong tương lai.

Giai đoạn 4:

Sau khi đã tìm lại được chính bản thân mình, người nghiện bắt đầu quá trình học hỏi những gía trị của cuộc sống, hệ thống niềm tin trong TC, mối quan hệ xã hội, định hướng nghề nghiệp nhằm hướng tới một cuộc sống lành mạnh, không có ma túy . Sự thay đổi lớn lao trong thái độ của đối tượng ở giai đoạn này là rất đáng chú ý. Anh ta tỏ ra có triển vọng và trở nên đáng tin cậy nhờ có tinh thần trách nhiệm trong lao động và hành vi ứng xử. Anh ta có cuộc sống thăng trầm chìm nổi nhưng anh ta đã biết chấp nhận thực sự, biết kiểm soát nó và tìm kiếm sự giúp đỡ khi cần thiết. Anh ta hiểu rằng cuộc chiến chống lại cám dỗ của ma túy vẫn chưa chấm dứt và anh ta vẫn còn phải rèn luyện thêm những điều đã học để có thể duy trì một cuộc sống lành mạnh lâu dài. Anh ta hiểu, nghiện không đơn thuần là sự phụ thuộc vào ma túy mà còn là sự lệ thuộc vào quá khứ cùng những yếu tố xã hội đi liền với quá khứ ấy. Quay trở lại quá khứ cũng đồng nghĩa với việc đùa giỡn với lửa. Anh ta có thể đốt thành tro cất cả những nỗ lực bấy lâu nay nhằm đạt được sự phục hồi. Tránh mọi mối liên quan dẫn đến quá khứ tội lỗi đó là yếu tố tiên quyết để duy trì cuộc sống lành mạnh không còn ma túy.

Để duy trì được những gì mà anh ta được học, anh ta phải biết cách chia sẻ đúng cho người khác. Đối tượng đã hoàn tất giai đoạn này, phải biết cách dạy lại những thành viên mới bằng chính ví dụ cuộc đời anh ta. Vai trò của anh ta trong cộng đồng bây giờ là dạy lại nhừng điều mình được học . Chỉ có như vậy anh ta mới thực sự hiểu hết ý nghĩa của mọi vấn đề đã học và có trách nhiệm hơn đối với hệ thống niềm tin trong cộng đồng trị liệu TC.

XI/ PHỎNG VẤN BAN ĐẦU TRONG CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU TC

Ngay từ khi mới ra đời, cộng đồng trị liệu TC đã có một chương trình phỏng vấn mà bất kỳ người nghiện nào khi mới tham gia vào cộng đồng đều phải trải qua. Phỏng vân trước khi ra nhập cộng đồng trị liệu là loại phỏng vấn đặc biệt. Nó không hoàn toàn tuân theo trình tự và nội dung của một cuộc thăm hỏi tiền sử bệnh hay trắc nghiệm tâm lý. Thay vì phỏng vấn kiểu tay đôi giữa người được phỏng vấn và cán bộ tiếp đón, đối tượng có nguvện vọng tham gia cộng đồng trị liệu được một nhóm những người nghiện sau cai cùng đặt câu hỏi và buộc phải trả lời trung thực về quá khứ của mình. Sẽ không ai trong số những người phỏng vấn ghi chép gì. Nhưng bất kỳ một biểu hiện dối trá nào nhằm né tránh hay từ chối trả lời sẽ bị người phỏng vấn phát hiện và được nhắc nhở để người nghiện phải nói ra sự thật. Hình thức phỏng vấn này trong TC còn được gọi là phỏng vấn cảm xúc. Mục đích của phỏng vấn cảm xúc không phải là để thu thập thông tin về tâm lý xã hội của người nghiện mà nhằm đánh giá mức độ nhận thức về động cơ của người nghiện. Chính vì vậy việc sử dụng thông tin thu được để điền vào một mẫu đánh giá là không cần thiết. Việc có trách nhiệm đối với cuộc sống của chính mình và có động cơ điều trị đúng là yếu tố rất quan trọng quyết định việc đối tượng có đủ khả năng tham gia và duy trì điều trị hay không. Phương pháp phỏng vấn cùa TC nhằm buộc người nghiện phải thực sự quyết tâm để thay đổi. Nó giúp người nghiện lột bỏ bức màn che dấu, phủ nhận sự thực và học cách tìm kiếm giúp đỡ trong cộng đồng.

Phương pháp phỏng vấn ban đầu của TC:

Ngoài việc sàng lọc đỏi tượng đủ điều kiện tham gia cộng đồng trị liệu, phỏng vấn ban đầu còn có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch điều trị cho đối tuợng và dự kiến những điều kiện cần để việc thay đổi nhận thức hành vi có thể xảy ra. Kinh nghiệm cho thấy rằng, những thông tin mà người nghiện đưa ra trong lần phỏng vấn đầu tiên thì nói chung không đáng tin cho lắm. Nguyên nhân của nó một phần là do người nghiện hầu như không bao giờ thừa nhận là họ gặp khó khăn, phần còn lại là do nhưng khó khăn đó coi như là đã chấm dứt kể từ khi đối tượng bắt đầu tham gia chương trình điều trị. Mà nói chung, ngay cả những đối tượng mà ta xếp vào loại tình nguyện thì họ cũng gặp những vấn đề không khác gì so với đối tượng cưỡng chế, cũng là áp lực của gia đình của trường học, của công việc hay của cả ba yếu tố trên. Để làm rõ hơn về phương pháp phỏng vấn củaTC tôi xin tóm lược một số nét như sau :

Mục tiêu trước mắt của phỏng vấn ban đầu :

Có năm mục tiêu mà người phỏng vấn phải đảm bảo đạt được trong lần phỏng vấn ban đầu:

1)    Tạo mối quan hệ

2)    Khai thác thông tin

3)    Đưa ra thông tin

4)    Xây dựng dự thảo về thoả thuận điều trị

5)    Lên kế hoạch bước tiếp theo.

Những mục tiêu này là cơ sở để người phỏng vấn bám vào xây dựng chương trình phỏng vấn xoay quanh những vấn đề đó. Tuy nhiên, chỉ những mục tiêu này đơn thuần thì không đảm bảo cho sự thành công của phỏng vấn. Bằng cách áp dụng một số kỹ năng đặc biệt của phỏng vấn cảm xúc, người phỏng vấn giúp củng cố quyết tâm của đối tượng, giúp họ ý thức được trách nhiệm cá nhân đối với sự thay đổi và đó là yếu tố quan trọng để có thể suy trì tham gia điều trị – phục hồi.

1.   Tạo mối quan hệ: Việc tạo lập được mối quan hệ và chiếm được thiện cảm của đối tượng ngay lúc ban đầu là hết sức quan trọng để tạo ra sự cởi mở trong giao tiếp. Theo phương pháp phỏng vấn cảm xúc truyền thông của TC, những người nghiện sau cai đóng vai trò người phỏng vấn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của họ khi họ còn là người nghiện để xóa bỏ sự đề phòng của đối tượng. Một vài kỹ năng tư vấn khác như: lắng nghe, thông cảm, phê phán … cũng sẽ rất hữu ích cho người phỏng vấn. Ấn tượng ban đầu, bài trí tại điểm phỏng vấn cùng là yêu tố cần chú ý đến để tạo hiệu quả cao nhất.

2.    Khai thác thông tin từ người nghiện: Người phỏng vân phải rất khéo léo tế nhị trong việc khai thác thông tin từ người nghiện. Tôt nhất là đặt câu hỏi một cách từ tốn, tránh hiện tượng hỏi dồn đập hay thúc bách nếu không muốn tạo ra sự khủng hoảng tâm lý đối với người nghiện. Thông tin ban đầu là quan trọng nhưng lấy được thông tin chính xác thì không phải là dễ. Thông tin chính xác phải bao gồm tiểu sử cá nhân, tình trạng tâm lý, nguyên nhân nội tại và nguyên nhân bên ngoài tác động khiến đối tượng đến với điều trị, quá trình sử dụng ma túy, hoàn cảnh gia đình, công ăn việc làm và cả những lý do cơ bản dẫn trến stress từ đó có thể xây dựng một kế hoạch can thiệp thích hợp.

3.    Cung cấp thông tin cho người nghiện: Những thông tin cơ bản về cơ sở điều trị và triết lý cộng đồng cần phải được cung cấp đầy đủ cho đối tượng. Thông thường, đốì tượng chỉ được nghe sơ bộ hay những thông tin không đầy đủ về bản chất cùa khó khăn mà anh ta đang vấp phải cùng như cách giải quyết nó. Nếu ta giải thích rõ cho đối tượng được hiểu thì có thể giúp anh ta diều chỉnh lại được mục tiêu và nguyện vọng điều trị của mình.
4.    Xây dựng dự thảo bản thoả thuận điều trị: Nếu như người phỏng vấn thành công trong việc cùng có được quyết tâm điều trị của đôi tượng thì phải tiến hành dự thảo một văn bản trong đó đối tưựng bày tỏ sự đồng ý quyết tâm tham gia điều trị. Văn bản đó được gọi là "thỏa thuận điều trị". Trong văn bản ghi rõ yêu cầu và mục tiêu điều trị của đối tượng-Để đạt được những mục tiêu, yêu cầu này, đối tượng cần nhận thức được tầm quan trọng của yếu tố tập thể, cộng đồng và những gì mà cộng đồng đòi hỏi ở anh ta.

5.    Lên kế hoạch cho bước tiếp theo: Nhằm giúp đỡ người nghiện duy trì được quyết tâm tham gia điều trị, chúng ta cần phải giải thích rõ với anh ta về những bước tiếp theo. Nếu như những biện pháp phỏng vấn thông thường có hiệu qủa thì tại thời điểm này đối tượng đã hầu như sẵn sàng để tham gia điều trị. Mức độ phủ nhận cũng như phản ứng của anh ta đối với hiện tại cũng đã được giảm đi nhiều.


Các giai đoạn và quá trình thay đổi của người nghiện ma túy áp dụng trong phỏng vấn:

Đối tượng nghiện đến với điều trị vì nhiều lý do và hoàn cảnh khác nhau. Chính những vếu tố đó quyết định động cơ điều trị của từng đối tượng. Để đánh giá được chính xác động cơ điều trị của đối tượng, người phỏng vân phải nắm được lý thuyết về các giai đoạn và quá trình thay đổi của người nghiện ma túy. Có 5 giai đoạn lần lượt là:

1)    Giai đoạn chưa có dự định thay đổi.

2)    Giai đoạn có dự định thay đổi.

3)    Giai đoạn chuẩn bị.

4)    Giai đoạn hành động.

5)    Giai đoạn duy trì.

Trong giai đoạn 1, đôi tượng chưa có dự định thay đổi hành vi trong một tương lai gần anh ta không nhận thức đượe hoặc nhận thức không rõ ràng về khó khăn mà anh ra đang vấp phải thái độ của anh ta đối với những khó khăn đó là phủ nhận và dấu diếm. Anh ta hầu như không nghĩ gì đến sự thay đổi. Trong giai đoạn dự định, đôi tượng bắt đầu nhận thức được khó khăn của mình và cũng đã suy nghĩ tìm giải pháp để vượt qua nhưng chưa thực sự bắt tay vào bât kỳ một hành động nào, cần phải có sự cân nhắc nghiêm túc để tìm ra một giải pháp hợp lý ưong giai đoạn này. Trong giai đoạn chuẩn bị, đối tượng nhận thức rõ được khó khăn của mình và giải pháp khắc phục. Anh ta đang đánh giá lại tất cả những phương án mà anh ta có. Tóm lại, đối tượng đã sẵn sàng cho sự thay đổi. Giai đoạn hành động là giai đoạn đối tượng tiến hành điều chỉnh lại hành vi, điều chỉnh lại môi trường nhằm vượt qua những khó khăn cản trở. Trong giai đoạn này đối tượng không chỉ sẵn sàng thay đổi mà còn thực sự giải quyết những vấn đề tồn tại của chính mình. Giai đoạn cuối cùng, giai đoạn duy trì là thời điểm mà đối tượng phải học cách phòng ngừa tái nghiện, duy trì những gì anh ta đã đạt được trong giai đoạn hành động.

Kinh nghiệm cho thấy rằng, thông thường đối tượng đến với chúng ta khi họ ở giai đoạn 1. Thông qua qua trình phỏng vấn, người phỏng vấn có thể giúp đôi tượng nâng cao lòng quyết tâm sang giai đoạn 2 nhằm tăng cường sự sẵn sàng của đối tượng với việc thay đổi hành vi thông qua điều trị.


Hướng dẫn tổ chức tiến trình phỏng vấn

Phỏng vấn là điều kiện tiên quyết trước khi một đối tượng mới được chấp nhận tham gia cộng đồng trị liệu TC. Nó được tổ chức ngay vào ngày đầu tiên đối tượng đến xin tham gia điều trị. Mục tiêu đầu tiên của cuộc phỏng vấn là đánh giá động cơ điều trị của đối tượng. Bởi lẽ hầu hết các đối tượng không tự giác muốn tham gia điều trị, họ thường đến với chúng ta bởi vì áp lực của gia đình, sự cưỡng chế của pháp luật … cho nên vấn đề là phải tổ chức phỏng vấn sao cho đối tượng quyết tâm tình nguyện ở lại điều trị trong môi trường TC. Cuộc phỏng vấn nhất định phải đạt được mục tiêu đề ra này bằng không đối tượng sẽ vấp phải khó khăn ngay trong giai đoạn đầu của điều trị.

Sàng lọc đối tượng

Trong quá trình sàng lọc, khi đối tượng gọi điện đến cơ sở điều trị hay đến hỏi về thủ tục gia nhập cộng đồng trị liệu, anh ta phải tự mình bày tỏ rằng: dự định tham gia điều trị là sự lựa chọn của chính anh ta chứ không phải của bố mẹ, của cán bộ pháp luật… Anh ta phải chứng tỏ rằng anh ta thực sự nghiêm túc trong việc kêu gọi sự giúp đỡ của cộng dồng. Người phỏng vân cũng không làm bất cứ điều gì can thiệp vào quyết định của đối tượng ngoài việc nhắc nhở anh ta phải nghiêm túc và có trách nhiệm với dự định của minh. Đối tượng sẽ được hẹn đến ngày để tham gia phỏng vấn thực sự.

Quá trình phỏng vấn:

Quá trình phỏng vấn phải được diễn ra trong một căn phòng biệt lập, tránh xa mọi yếu tố làm phân tán tư tưởng. Trước hết, đối tượng sẽ giới thiệu về bản thân mình trước các thành viên của nhóm phỏng vấn.

Sau đó trưởng nhóm phỏng vấn sẽ tự giới thiệu về mình tiếp theo đó là các thành viên còn lại của nhóm. Khi các thành viên tự giới thiệu về mình họ cũng cần nói vắng tắt luôn về lý do khiến họ đến với TC cũng như vai trò hiện tại của từng người trong cộng đồng. Mục đích của việc giới thiệu này là giúp đốì tượng nắm được thông tin sơ bộ về nhóm phỏng vấn. Quá trình phỏng vấn sau đó sẽ phải gồm những nội dung sau :

1)    Gây dựng được lòng tin nơi đối tượng để anh ta sẵn sàng kể lại một cách trung thực khó khăn tồn tại mà anh ta đang vấp phải.

2)    Giúp cho đối tượng thể hiện được trách nhiệm của mình đối với những khó khăn kể trên bằng cách gạt bỏ sự phủ nhận thực tại, sự trốn tránh trách nhiệm, sự hợp lý hóa nhằm biện minh cho những sai lầm của anh ta.

3)    Giúp cho đối tượng thể hiện sự trung thực bằng tập trung mọi vấn đề xung quanh anh ta thay vì đổ lỗi cho người khác gây ra khó khăn cho mình.

4)    Giúp đối tượng thừa nhận sai lầm, nhận thức được nhu cầu cần sự giúp đỡ và có khả năng tìm kiếm giúp đỡ đó.

5)    Thuyết phục đối tượng sẵn sàng chấp nhận các quy tắc của cộng đồng nhằm tham gia điều trị. Thuyết phục đối tượng chấp nhận những gợi ý điều trị mà cán bộ điều trị cho ìà thích hợp với anh ta.

Sau khi kết thúc phỏng vấn đối tượng phải cỏ khả năng để:

1)    Có thể đủ tin tưởng vào nhóm phỏng vấn để tâm sự về khó khăn trong cuộc đời anh ta.

2)    Có thể cởi mở hơn và thừa nhận những tồn tại trong thái độ, hành vi mà nhóm phỏng vấn chỉ ra cho anh ta.

3)    Có thể thừa nhận sai lầm, sẵn sàng chịu trách nhiệm về hành vi của mình thay vì đổ lỗi cho người khác.

4)    Nhận thức được rằng mình cần giúp đỡ và bày tỏ mong muốn nhận được sự giúp đỡ.

5)    Quyết tâm sửa đổi, thể hiện mình sẵn sàng phối hợp với chương trình điều trị thông qua việc tuân thủ các quy tắc của cộng đồng, chấp nhận những gợi ý điều trị của nhân viên chuyên nghiệp.

Sau khi phỏng vấn kết thúc, trưởng nhóm phỏng vấn sẽ yêu cầu đối tượng đợi nhóm họp trong giây lát. Nếu như ý kiến chung là chấp nhận đối tượng, trưởng nhóm phỏng vấn sẽ thông báo cho đối tượng và chúc mừng anh ta gia nhập cộng đồng. Nếu như vẫn còn ý kiến cho rằng anh đối tượng chưa đủ điều kiện tham gia, chưa thể hiện rõ quyết tâm điều trị thì phải đợi tham khảo ý kiến của lãnh đạo cộng đồng trước khi chấp nhận đốì tượng. Nếu đốì tượng không thỏa mãn các yêu cầu gia nhập TC, anh ta sè được giới thiệu đến một chương trình điều trị khác thích hợp hơn hoặc được hẹn phỏng vấn lại vào một thời điểm khác khi anh ta đã củng cố được quyết tâm và động lực điều trị.

Nếu đối tượng được chấp nhận thì ngay buổi đầu tiên anh ta sẽ được giới thiệu trước cộng đồng và được cộng đồng chào đón như một thành viên mới.

 

TỔNG QUAN CÁC GIAI ĐOẠN CỦA KẾ HOẠCH ĐIỀU TRỊ

Tư tưởng chủ đạo :

–    Việc học tâp các hành vi mới cần được tiến hành dần dần.

–    Có đủ thời gian để biến những gì cán bộ dạy thành kiến thức của mình.

–    Biểu hiện của thất bại hoặc thành công đều có thể xảy ra.

I/ GIAI ĐOAN 1 : ĐỊNH HƯỚNG:

–    Làm quen với chương trình điều trị (quy tắc, triết lý, qúa trình, thuật ngữ).

–    Cơ hội để kiểm tra đánh giá (học vấn, nghề nghiệp, tình trạng tâm lý).

–    Việc tập trung chú ý vào thực tiễn lâm sàng giúp tăng sự phụ thuộc của đối tượng vào cán bộ điều trị (tôi cần có kem đánh răng, tôi phải nhờ ai bây giờ ? tôi phải tìm đến ai ?)

II/ GIAI ĐOẠN 2 : SƠ BỘ ĐlỀU TRỊ:

–    Chú ý vào: Hành vi, kỷ luật cá nhân, tiền sử đối tượng.

–    Xây dựng mục tiêu điều trị và những giá trị cần đạt được ( giáo dục, xã hội, hướng nghiệp …).

–    Thể hiện sự năng động sáng tạo trong học, trong công việc, trong quan hệ với mọi người và với gia đình.

III/ GIAI ĐOẠN 3 : CHUẨN BỊ TÁI HÒA NHẬP VỚI CỘNG ĐỒNG:

–    Tái hoà nhập cộng đồng : Yếu tố gia đình, công việc, giáo đục, xã hội.

–    Khó khăn tồn lại của gia đình đối tượng.

–    Mạng lưới trợ giúp trong xã hội.

–    Lưu ý tới những vấn đề riêng biệt.

–    Tăng thời gian làm việc ngoài cơ sở điều trị.

–    Bắt đâu công tác phòng ngừa tái nghiện.

IV/ GIAI ĐOẠN 4: TÁI HÒA NHẬP VỚI CỘNG ĐỒNG

–    Mục tiêu và kế hoạch của hệ thống giáo dục dạy nghề.

–    Bô trí thời gian tham gia các hoạt động mang tính chất cộng đồng.

–   Tăng cường ảnh hưởng của nhóm nhằm giải quyết những mối lo ngại.

–   Lập kế hoạch từng bước để đảm bảo : nguồn vốn, đảm bảo ăn uống và một lối sống mới.

–   Tăng cường hoạt động nhằm phòng ngừa tái nghiện.

V/ GIAI ĐOẠN V: QUẢN LÝ THEO DÕI SAU CAI:

–    Thời gian tối đa là 6 tháng đến 1 năm.

–    Dần ổn định cuộc sống.

–    Tham dự các nhóm điều trị được tổ chức định kỳ, quản lý theo trường hộp cụ thể sự trợ giúp của xã hội.

–    Quay trở lại nơi làm việc, học sinh quay trở lại trường học.

–    Đặt kế hoạch chi tiêu ổn định.

 

CUỘC SỐNG TRONG CỘNG ĐỒNG NHỮNG ĐIỀU KIỆN CẦN VÀ ĐỦ


I/ TC LÀ MỘT MÔI TRƯỜNG HỌC TẬP TƯƠNG TỰ XÃ HỘI

– Học tập thông qua thử thách và hành động.

– Học lập thông qua những điều kiện sống phản ánh thế giới thực bên ngoài.

– Học tập thông qua việc cởi mở và bày tỏ công khai cảm xúc của mình.

II/ CƠ CẤU TỔ CHỨC CHUẨN MỰC VÀ CƠ CẤU THÔNG THƯỜNG

•    Tổ chức các hoạt động và mục tiêu của nó:

Nhiều loại hình điều trị nhóm được xây dựng.

Nội dung sinh hoạt bao gồm nhiều mặt của cộng đồng (Cách thức dọn dẹp giường chiếu, giữ gìn tủ đựng sách, ăn mặc, giao tiếp, bày tỏ sự quan tâm đến người khác).

•    Môi trường:

Bầu không khí quan tâm, tôn trọng và những thử thách của môi trường.

Triết lý bất thành văn, những dấu hiệu biểu hiện, trợ giúp việc nâng cao nhận thức.

Biểu tượng, nghỉ lễ và cách thức tiến hành công việc.

 

NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ ĐẠO ĐỨC CỦA CON NGƯỜI


I/ HỌP BÀN, THẢO LUẬN, ĐỌC SÁCH VÀ HỌC TẬP HÀNG NGÀY


Giúp đỡ người khác đó là cách tốt nhất để có cuộc sống yên ổn

– Triết lý, tâm lý, Đức Chúa và tâm linh, lịch sử, những hoài bão ý tưởng lớn.

– Ý nghĩa của cuộc sống là gì? Ý nghĩa của sự tồn tại

– Số phận: việc gì đến nó sẽ đến

Tiến hành các hoạt động một cách thận trọng từ đơn giản đến phức tạp.

II/ ĐỘNG LỰC TÍCH CỰC CỦA NHÓM ĐỒNG ĐẲNG

Nhân sự:

– Cán bộ lãnh đạo được đào tạo về TC.

– Giáo dục về TC cho những đối tượng đã phục hồi.

– Những nhân viên chuyên nghiệp được đào tạo TC : các bác sĩ, tiến sĩ, thạc sĩ…

– Tất cả các cán bộ điều trị cần được đào tạo về mục tiêu điều trị toàn diện và những kỹ năng tương ứng.

– Cần chia sẽ hệ thống niềm tin và giá trị cho các thành viên của cộng đồng.
Mô hình điều tri mang tính thưc hành : học đi đôi với hành.

 

TÁC ĐỘNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT CUỘC SỐNG TÌNH CẢM


I/ KHÁI NIỆM CƠ BẢN: 

1) NHÓM TĨNH :

–  Một nhóm ổn định gồm có những người cùng cảnh ngộ và nhóm trưởng.

– Thường xuyên sinh hoạt trong suốt quá trình điều trị.

2) NHÓM THĂM DÒ VÀ NHÓM MARATHON.

3) TRỰC TIẾP:

– Riêng tư.

– Hổ thẹn.

– Tội lỗi.

– Những tình cảm phức tạp.

4) TƯ VẤN GIA ĐÌNH :

– Hệ thống gia đình Rx.

– Tư vấn kép.

5) QUÁ TRÌNH ĐẶC BIỆT – HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC

II/ TRÍ TUỆ VÀ TÂM LINH

1) GIÁO DỤC:

A.    Trường phổ thông cơ sỏ.

B.    Những lớp bổ túc (GED).

C.    Tập trung giảng đạy những kỹ năng cơ bản nhất : đọc, viết, tính toán đơn giản.

2) HỌP HÀNH:

A.    Trò chơi, sự tự giác, thử thách.

B.    Triết lý, câu hỏi về cuộc đời.


– Điều gì làm cuộc sống trở nên có ý nghĩa ?

– Tại sao lại có điều xấu trên thế gian này ? 

– Những trách nhiệm về đạo đức nghĩa là gì ? 

– Ai là thần tượng của chúng ta ?

– Điều gì quyết định tương lai chúng ta ?

C.    Nhận thức về chính trị – xã hội

3) CƠ SỞ DỮ LIỆU

– Những quy định.

– Quy tắc xã hội.

– Chỉ dẫn vận hành máy …

4) NHỮNG TÁC PHẨM VĨ ĐẠI :

– Cổ điển, lịch sử.

– Đương thời, hiện đại.


III/ NGHỀ NGHIỆP CHUYÊN MÔN VÀ KỸ NĂNG SINH TỒN

TC là một môi trường học tập

1)    Học từ đơn giản đến phức tạp.

2)    Tất cả các công việc đều có ý nghĩa riêng:

Nhà bếp có nghĩa là nấu nướng, dọn dẹp, gọi món.

Phòng ở có nghĩa là giặt giũ, tắm rửa, cửa sổ.

Mua bán có nghĩa là nghiên cứu giá, lựa chọn đó …

3)    Tất cả các công việc đều bắt đối tượng phải học được một điều gì đó

4)    Phải chú ý theo dõi thái độ làm việc vì đó là điều kiện tiên quyết để làm việc.

5)    Việc khen thưởng được dựa trên sự hoàn thành công việc.

6)    Thông thường việc lao động, đối tượng tập làm quen với những hành vi phù hợp với xã hội, những giá trị, thái độ liên quan đến phạm trù đạo đức.

Kết luận : Đối tượng phải là một thành viên có ích trong môi trường điều trị. Việc đóng góp của đối tương cho cộng đồng là tùy thuộc ở khả năng của từng đối tượng cũng như nội dung từng công việc cụ thể của cộng đồng.

 

BIỆN PHÁP ĐIỀU CHỈNH VÀ QUẢN LÝ, GIÁM SÁT HÀNH VI

I/ KHẨU HIỆU:

Cách thức đơn giản để tạo hiệu quả phức tạp trong cuộc sống.

– Đặt mình vào địa vị người khác.

– Điều gì sẽ đến.

– Kiểm soát tình cảm của mình.


II/ SINH HOẠT THEO NHÓM: nhóm đối kháng, nhóm đặc biệt…

– Đối diện với sự thật.

– Chấp nhận thử thách.

– Bày tỏ sự đồng tình hoặc không đồng tình.

– Giải tỏa nỗi bực dọc theo cách thức đối thoại trong hòa bình.

•   Môi trường sống của cộng đồng.  

•   Sự tiến bộ của đối tượng.

– Số lượng lối ưu cho buổi họp chung là từ 8 – 10 người

III/ CÁC LOẠI HỌP HÀNH, SINH HOẠT KHÁC :

–    Họp giao ban chung là rất quan trọng.

–    Họp gia đình, phát hiện nguy cơ, tiẾn hành kiểm điểm, giải quyết vấn đề.

–    Tổ lao động sản xuất: tham gia tổ chức lao động dưới sự chỉ đạo của trưởng nhóm.

IV/ NÓI CHUYỆN VỚI NHỮNG NGƯỜI CÓ THIỆN CHÍ GIÚP ĐỠ MÌNH:

V/ KIỂM ĐIỂM:

Ai đã gây ra vì phạm ?

Vi phạm ấy diễn ra ở đâu ?

VI/ CẠO GÁY VÀ KHIỂN TRÁCH BẰNG LỜI :

 Được tổ chức thường xuyên với một chương trình chặt chẽ.

VII/ THỎA THUẬN HOC TẬP, NHỮNG KINH NGHIỆM TRONG LỚP HỌC:

– Hậu qủa liên quan trực tiếp đến hành động và ta có thể học hỏi được từ những thứ đó : nhiệm vụ viết lách, nhiệm vụ chỉ đạo, hành vi.

– Mối quan tâm (khi nào, bao lâu).

– Làm thế nào để liên hệ với hành vi.

VIII/ LỆNH CẤM:

 Cấm tham gia một số hoạt động của cộng đồng do có vi phạm trong quá trình học tập.

IX/ GIỚI THIỆU THAM GIA CỘNG ĐỒNG:

 Giải thưởng của cộng đồng, thể hiện tinh thần trách nhiệm.

X/ SỬ DỤNG HỆ THỐNG VỊ TRÍ VÀ CƠ CẤU KHEN THƯỞNG :

– Có chuyển biến tích cực – có tiến bộ.

– Không có sự chuyển biến không tiến bộ.

– Đánh mất vai trò và đặc quyền trong cộng đồng.

 

BIỆN PHÁP TRIỂN KHAI PHƯƠNG PHÁP CAI NGHIỆN DAYTOP

CÁC GIAI ĐOẠN THAY ĐỔI HÀNH VI NGƯỜI NGHIỆN


Có những điều chúng ta băn khoăn khi làm công tác điều tri phục hồi cho người nghiện:

1. Có thể thay đổi hành vi người nghiện mà không cần điều trị ?

2. Bằng cách nào thay đổi hành vi cùa họ ?

3. Giúp bệnh nhân nghiện cách nào hiệu quả ?

4. Bằng cách nào ta biết được người nghiện đã có những tiến bộ và tiến bộ đến mức nào ?

5. Làm sao để chống tái nghiện ?

6. Giải pháp nào điều trị phục hồi hiệu quả nhất ?

I/ CÁC GIAI ĐOẠN THAY ĐỔI HÀNH VI:
Từ tình trạng nghiện chuyển đổi thành một người bình thường, người nghiện trải qua một tiến trình chậm chạp. Những cuộc nghiên cứu tâm lý đã cho thấy Nhận Thức là yếu tố tiền khởi, sau đó là những Suy Nghĩ, và Hành Vi là kết quả sau cùng.

 

NHẬN THỨC + SUY NGHĨ = HÀNH VI

1. Giai đoạn chưa nhận thức được vấn đề.

Học viên chưa ý thức được đầy đủ vấn đề cùa chính mình khi mới nhập Trung Tâm, cho nên họ không có ý định hợp tác với kế hoạch điều trị và cũng không thay đổi hành vi. Họ âm thầm nhẫn nại chịu đựng, dấu mình trong đám đông, và có thể bỏ trốn khi có cơ hội.

2. Giai đoan ý thức được vấn đề.

Khi được giáo dục giúp đỡ, học viên đã hiểu được họ đang đối đầu với một thử thách lớn trong cuộc đời, và đã có những đấu tranh nội tâm vượt qụa. Nhưng ở giai doạn này hiểu biết và nghị Iực của họ còn non trẻ, họ chưa đủ quyết tâm và nghị lực. Cách nào để thoát ra, cuộc sống còn lại sẽ như thế nào là điều họ chưa sẵn sàng, cho nên họ ngầm sợ hãi và không tin mình đủ sức vượt qua, nên những hành vi của họ chưa thay đổi.

3. Giai đoạn chuẩn bi.

Được tiếp tục giúp đỡ điều trị, học viên đã quết định phải thay đổi cuộc đời mình, vì họ sẵn sàng đáp ứng với những yêu cầu điều trị. Họ sẽ vui vẻ hơn, sống cởi mở hơn, bắtt đầu tuân thủ nội quy một cách tự nguyện, nhưng hành vi vẫn chưa được cải thiện nhiều.

4. Giai đoạn thực hiện.

Học viên đã quyết tâm từ bỏ ma túy, họ tích cực cộng tác với chương trình điều trị, sống thân thiện với mọi người. Trong lao dộng, học tập, họ rất quan tâm và bày tỏ thiện chí. Đây là giai đọan học viên đã tiếnn bộ, và có thể được chuẩn bị chuyển sang chương trình điều trị tái hội nhập cộng đồng.

5. Giai đoạn duy trì.

Tuy rằng học viên đã có những tiến bộ rõ rệt, nhưng chúng ta vẫn còn phải nổ lực giúp đỡ, củng cố nhận thức của họ, đồng thời luyện lập cho họ kỹ năng chống tái nghiện một khi họ tái hội nhập cộng đồng. Những yếu tố nguy cơ trong cuộc sống xã hội của hợ cần được nhận biết rõ ràng để có chương trình giúp đỡ họ vượt qua.

Chúng ta coi như thành công một phần vơi những học viên có hành vi tốt, tích cực cộng tác với kế hoạch điều trị, vì sau khi rời Trung tâm có khả năng duy trì cuộc sống không ma túy trên 6 tháng. Tất nhiên họ còn có những nguy cơ sa ngã, mà tiền sử lạm dụng ma túy là một nguy cơ lớn, và trong cả cuộc đời họ việc điều trị chống tái nghiện còn phải liên tục kéo dài.

Với những nỗ lực điều trị thích dáng và đúng mức, chúng la có quyền hy vọng chuyển đổi hành vi một đối tượng nghiện từ giai đoạn 1 đến giai doạn 4 trong vòng 6 tháng.

II/ NHỮNG KỸ THUẬT THÔNG THƯỜNG GIÚP ĐẨY MẠNH TIẾN TRÌNH

1.    Những kỹ Ihuật giáo dục, thuyết phục, giải thích để giúp học viên nâng cao nhận thức về bản thân cũng như các vấn đề của họ.

2.    Thực hiện những Bảng Tự Đánh Giá định kỳ cho các học viên nhằm thúc đẩy sự tiến bộ. Trong Bảng Tự Đánh Giá này cần nêu rõ những giá trị cuộc sống, tinh thần kỷ luật.

3.    Thực hiện những Bảng Cam Kết để học viên tự mình cố gắng phấn đấụ thực hiện lời hứa của mình.

4.    Tạo ra một môi trường điều trị an toàn, trong đó học viên có thể kiểm soát và thay đổi hành vi của mình mà không sợ một áp lực đối kháng nào cả.

5.    Khen thưởng và kỷ luật nghiêm minh, có chế độ thưởng cụ thể cho những học viên tốt, ví dụ đi phép ngắn ngày, gọi điện thoại hỏi thăm gia đinh, được nhận quà …

6.    Sinh hoạt nhóm, Giao ban buổi sáng, tư vấn tâm lý cá nhân là những biện pháp gọt dũa hành vi, nâng cao nhận thức rất hiệu quả.

7.    Tổ chức những buổi sinh hoạt Nhóm Đối Đầu để gọt dũa hành vi cho những thành phần ngoan cố.

8.    Vãn hóa, văn nghệ, vui chơi giải trí đề cao những giá trị cuộc sống không ma túy.

9.    Thể thao giúp học viên biết được sức khỏe của mình, sức chịu đựng thể lực của mình sau quá trình nghiện.

 

NHỮNG TÁC NHÂN BẢO VỆ & NHỮNG YẾU TỐ NGUY CƠ ĐỐI VỚI VIỆC LẠM DỤNG MA TÚY

Có rất nhiều những yếu tố nguy cơ đưa đẩy một người đến tình trạng nghiện ngập, song cũng có nhiều tác nhân bảo vệ giúp một người không bao giờ sử dụng ma túy hoặc đã lạm dụng mà thoát ra được.

Chẳng hạn một gia điều có 10 người con, nhung chỉ có 1 người nghiện, còn 9 ngườii thành đạt. Trong trường hợp này, yếu tố gia đình không phải là yếu tố nguy cơ của người con nghiện trên. Chúng ta phải tìm kiếm những yếu tố nguy cơ khác thuộc về nội lâm, cũng như các quan hệ cá nhân của anh ta. Xét đoán chân dung một người nghiện chúng ta tìm thấy có rất nhiều yếu tố bảo vệ cũng như những yếu tố nguy cơ tác dụng đan kẽ vào nhau để tạo thành tình trạng cuối cùng là lạm dụng ma túy. Một yếu tố này là bảo vệ cho một người, với những người khác nó có thể là yếu tố nguy cơ.

Nhiều cuộc nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố bảo vệ và yếu tố nguy cơ có tác động tương hỗ lẫn nhau. Nguy cơ càng cao trong lúc bảo vệ kém, người ta dễ bị đưa đến tình trạng lạm dụng ma túy với những mức độ nặng nhẹ khác nhau.

Trong hai loại yếu tố trên, trong việc cân nhắc hai phía, kinh nghiệm cho thấy các yếu tố nguy cư có khả năng dự báo mạnh mẽ hơn đối với việc sử dụng ma túy, ví dụ một người có tiền sử nghiện sẽ rất dễ tái nghiện nếu anh ta bị bỏ trong một môi trường ma túy sẵn sàng, cho dù anh ta có nhiều yếu tố bảo vệ giúp đỡ anh ta. Chúng ta khó lý giải được bức chân dung của người nghiện nếu chỉ căn cứ vào vài tác nhân gây bệnh. Một người phải đương đầu với quá nhiều yếu tố nguy cơ thì anh la càng dễ lạm dụng ma túy, mặc dù các yếu tố bảo vệ có thể giúp anh ta ngăn chặn , hạn chế việc sử dụng ấy. Qua điều tra nắm bắt thông tin, dữ kiện càng nhiều càng tốt về bản thân người nghiện, chúng la có.thể dự đoán anh ta có dễ dàng thoát khỏi ma túy hay không.

Có hai nhóm tác nhân quan trọng ảnh hưởng đến việc lạm dụng ma túy :

1. Đặc điểm nội tâm : Một người với nội tâm bất thường, sẽ có những nhận thức bất thường biểu hiện qua hành bi. Những cuộc nghiên cứu lâm lý cho thấy có những yếu tố sau :
•    Khát vọng học lập : Những học sinh gắn bó với học tập thì ít sử dụng ma túy hơn so với nhóm học sinh lười học. Khát vọng học tập là một yốu tố bảo vệ mạnh, song không phải luôn luôn như vậy. Một học sinh rất ham học nhưng kém may mắn trong thi cữ, hoặc có thể bị thầy giáo ghét bỏ, thì việc học tập trở thành nặng nề đối với anh ta : Vì khao khát học tập mà anh la có thể trở nên bất mãn, chán đời rồi tìm lối thoát.

Khát vọng vươn lên trong cuộc sống để tự khẳng định mình, khi nó suông sẻ sẽ tạo nên hưng phấn. Song một khi cá nhân thất bại, anh ta dễ dàng sợ hãi, thất vọng vì thực tại và sẽ tìm lối thoát, thường là rượu, hoặc ma túy.

•    Tín ngưỡng là yếu tố bảo vệ. Những tín đồ tốt luôn luôin tránh xa ma túy.

•    Một cuộc sống không mục đích, không biết phải làm gì, thích hưởng thụ vui chơi là một yếu tố nội tâm rất nguy hiểm. Một tình trạng lãnh dạm, bi quan cũng là một yếu tố nguy cơ, nhất là khi nó phối hợp với những triệu chứng lầm thần.

•    Một tầm hồn nổi loạn, ưa thích những chuyện trái vớí thuần phong mỹ tục, xu hướng có những hành vi vô luân thường được coi là một nguyên nhân ( đồng thời cũng là hậu quả ) của víệc lạm dụng ma túy.

•    Một nội tâm thiếu tự chủ, thiếu tự trọng cũng là yếu tố nguy cơ, trong khi sự tự chủ, tự trọng là yếu tố bảo vệ.

•    Một tâm hồn cô độc, xung khắc với mọi người, luôn buồn chán và bất mãn tất cả, dễ làm nạn nhân của ma túy.

2. Mối quan hệ cá nhân: Trong khía cạnh này, tầm quan trọng của nó thay đổi tùy theo hoàn cảnh mỗi người, nhưng thông thường cũng có những yếu tố bảo vệ và nguy cơ rõ nét:

•    Thái độ và hành vi của cha mẹ : Một cha mẹ nghiện rượu, nghiện ma túy luôn là tiền đề cho sự nghiện ngập của con cái.

•    Tình trạng nghiện ngập của những người cùng đẳng cấp với nhau có nguy cơ gây ảnh hưởng đến việc sử dụng ma túy của người trong nhóm. Ngược lại tình trạng sống mẫu mực của họ lại là yếu tố bảo vệ cho cả nhóm.

•    Thái độ của xã hội, của cộng đồng đối với ma túy có một tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc sử dụng ma túy của các cư dân. Nếu tât cả mọi gia đìnnh đều quyết tâm chống ma túy, chắc chắn sẽ giảm được số lượng cư dân sử dụng ma túy.

•    Thái độ của một nền văn hóa đối với ma túy luôn gây ảnh hưởng sâu rộng đối với cư dân của nền văn hóa đó.

Dựa trên những nghiên cứu sâu rộng bằng kiểm tra dọc, kiểm tra chéo một số đông các nhóm bệnh nhân nghiện, trong một thời gian 10 năm, Michael Newcomb và Maria Felix Ortiz đã thiếtt lập được 14 lãnh vực liên quan đến việc sử dụng ma túy như sau:

A. Các lãnh vực bảo vệ :

1.    Trình độ học vấn, mức độ nhận thức ?

2.    Ý thức tuân thủ luật pháp ?

3.    Tín ngưỡng ?

4.    Bệnh tật cơ thể, tình trạng trầm cảm u uất ?

5.    Sự lự bằng lòng với chính mình ?

6.    Quan hệ với gia dinh ?

7.    Quan điểm đối với ma túy ? 

B. Các lãnh vực nguy cơ :

1.    Khát vọng vươn lên ?

2.    Môi trường sống có trắc trở, khó khăn quá sức không ?

3.    Môi trường sống có nhiều tệ nạn xã hội không ?

4.    Những người cùng đẳng cấp với đối tượng có sử dụng ma túy không ?

5.    Có người lớn sử dụng ma túy không ?

6.    Có được sự giúp đỡ từ cộng đồng hay từ người có địa vị không ?

7.    Môi trường sẵn có ma túy không ? 

Bằng phép suy luận và qua kinh nghiệm trực tiếp, chúng ta thấy đối tượng được tiếp xúc với càng nhiều yếu tố bảo vệ sẽ càng có ít nguy cơ sử dụng ma túy.

Chỉ qua một cuộc điều tra cặn kẽ, đầy đủ và toàn diện cuộc sống của đối tượng, từ gia đình đến môi trường sống và bản thân người nghiện, chúng ta mới có thể thiết lập được chân dung của đối tượng, những yếu tố bảo vệ và những yếu tố nguy cơ chung quanh anh ta.

Sau cùng việc điều trị – phục hồi và phòng chống tái nghiện cho người lạm dụng ma túy, phải chăng đó là một cố gắng làm tăng các yếu tố bảo vệ và luyện tập cho anh ta những kỹ năng để vượt qua những yếu tố nguy cơ đe dọa lôi kéo anh ta trở về con đường cũ.

 

ĐIỀU TRỊ – PHỤC HỒI CHO NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY

I. THẾ NÀO LÀ ĐIỀU TRỊ PHỤC HỒI CÓ HIỆU QUẢ

Quan niệm ngày nay chúng ta xem người nghiện ma túy như một bệnh mãn tính, và có thể điều trị nó như điều trị một bệnh tiểu đường, cao huyết áp, suyễn. Các nhà thống kê đã công bố rằng việc điều trị cai nghiện có thể làm giảm sử dụng ma túy lừ 40 – 60%, các hành vi phạm pháp giảm 80%, còn ý nghĩa kinh tế thì rất lớn: 1 USD bỏ ra cai nghiện sẽ thu về 7 USD do không phải chi phí giải quyết việc phạm tội của họ. Nhưng tỉ lệ thành công còn hạn chế vì kết quả còn tùy thuộc vào 4 biến số sau:

– Bản chất người nghiện và hậu quả sử dụng ma túy của họ

– Mức độ tham gia điều trị của người nghiện vào quá trình điều trị 

– Biện pháp điều Irị có thích hợp với họ không?

– Các dịch vụ điều trị có sẵn sàng và đầỹ đủ không?

Điều trị cai nghiện gọi là hiệu quả như vậy có nghĩa là: ngoài việc chấm dứt sử dụng ma túy và duy trì một cuộc sống không ma túy, người nghiện trở nên có ích cho gia đình và xã hội.

Ý nghĩa như vậy, việc đánh giá kết quả điều trị cũng phải bao gồm 4 yếu tố sau:

1.    Có tiếp tục liên can đến pháp luật không ?

2.    Vai trò với gia đình như thế nào ?

3.    Vai trò với xã hội ra sao?

4.    Tình trạng sức khỏe ?

Khi 4 yếu tố trên đều tốt, điều trị được coi là có kết quả.

II. THỜI GIAN ĐIỀU TRỊ

Thực tế cho thấy thời gian điều trị cho có kết quả đều khác nhau với mỗi đối tượng. Cho nên không thể ấn định được một mốc thời gian điều trị cho mọi đối tượng.

Những nghiên cứu lâu dài đã cho thấy rằng, dù điều trị cai nghiện ở cộng đồng hay ở Trung lâm, nếu số ngày điều trị ít hơn 90, kết quả sẽ không có hoặc rất thấp. Thường phải kéo dài thời gian điều trị hơn nữa để có được kết qủa tốt hơn.

Việc bệnh nhân có chịu tiếp tục ở lại hay không là tùy thuộc vào những vấn đề có liên can tới hai phía: học viên và Trung tâm:

1.    Bản thân người nghiện có thấy nhu cầu cai nghiện không?

2.    Có / không có những trợ giúp của gia đình và người thân?

3.    Trong quá trình điều trị, nhân viên điều trị có tạo được mối quan hệ tích cực với người nghiện không?

4.    Chương trình điều trị phục hồi có thích ứng với họ không?

5.    Các dịch vụ điều trị có sẵn sàng và đầy đủ không?

Đối với những người nghiện có bản án nhất định trong tù, các cuộc nghiên cứu cũng đã cho thấy việc điều trị tích cực trong khi thi hành án cũng có thể đem lại những kết quả nhất định trong ảnh hưởng đến việc sử dụng ma túy cũng như các hành vi phạm tội của anh ta trong tương lai. Nguy cơ tái nghiện cũng như nguy cơ có hành vi phạm tội sẽ giảm xuống rõ rệt nếu trong thời gian chịu án anh ta được điều trị, và sau khi mãn án anh ta vẫn được tiếp tục điều trị tại cộng đồng.

Các lổ chức  "Bạn giúp Bạn”, “Hội giúp đỡ các người nghiện vô danh”, “Các hội đoàn từ thiện” ở cộng đồng có một ảnh hưởng rất tốt giúp cho người nghiện có thể duy trì lâu dài một cuộc sống không ma túy.

III. LÝ DO PHẢI ĐIỀU TRỊ PHỤC HỒI

Ngay từ dầu, hầu như tất cả những người nghiện đều tin rằng mình sử dụng ma túy chơi cho biết, và có thể tự bỏ được. Phần lớn họ đều tiến đến tình trạng nghiện nặng có khi cả nhiều năm sau. Trong thời gian trung gian đó, nhiều người đã tự bỏ được mà chẳng cần ai giúp dỡ. Nhưng hầu hết họ lại tái sử dụng, rồi tiến đến tình trạng nghiện không thể tự thoát được nữa.

Việc sử dụng ma túy lâu dài sẽ đem lại những thương tổn trong não bộ kéo 'dài rất lâu, hoặc có thể vĩnh viễn tồn tại sau khi người nghiện đã ngừng sử dụng ma túy. Tổn thương chức năng não cũng có thể dẫn đến những hậu quả về hành vi, mà cụ thể là việc người nghiện vẫn sử dụng ma túy bất chấp hậu quả như thế nào.

Đa số những khó khăn về sinh học, tâm lý, xã hội, gia đình, môi trường đều đã phối hợp cùng nhau để trở thành một loạt những nhân lố nguy cơ khiến cho bệnh nhân tái nghiện.

Khi chúng ta đã hiểu được những đặc tính tâm sinh lý của người nghiên, cùng những yếu tố bảo vệ, những yếu tố nguy cơ, chúng ta mới có thể giúp họ vượt qua khỏi những khó khăn bản thân và duy trì được tình trạng không có ma túy mà không cần điều trị nữa.

IV. NGUYÊN TẮC ĐlỀU TRỊ

Có rất nhiều loại ma túy, nhưng trên thực tế tất cả mọi người nghiện cũng đều phải qua một quá trình điều trị gọt dũa hành vi, phục hồi nhân cách. Chính phương pháp điều trị phục hồi phải thay đổi tùy theo đặc điểm cùa từng người nghiện.

Bởi lý do nghiện thì rất đa dạng và phức tạp bắt nguồn từ những xáo trộn khác nhau về cuộc sống các vấn đề nội tâm, gia đình, cho nên việc điều trị cai nghiện thích ứng với một bệnh nhân lại không thích ứng cho bệnh nhân khác.

Nhưng dù bất cứ là bệnh nhân nào, việc điều chỉnh nhận thức, hành vi và nhân cách là điều phải làm, dẫu có áp dụng phương pháp Méthadone hay không.

Việc kết hợp quản lý bệnh nhân với các dịch vụ y tế cùng các liệu pháp tâm lý, giáo dục, thỏa mãn mọi nhu cầu điều trị cùa đối tượng là trọng tâm của mỗi kế hoạch điều trị. Chưong trình điều trị phải đề ra biện pháp trên cơ sở tuổi, giới tính, (trình độ văn hóa, cha mẹ, nhà cửa, công ăn việc làm… cũng như tiền sử lạm dụng sức khỏe, lạm dụng tình dục của bệnh nhân. Việc điều trị phải được tiến hành dài ngày với những biện pháp khác nhau theo từng giai đoạn tiến triển của bệnh nhân.

Bởi nghiện ma túy là một bệnh mãn tính có đặc điểm là tái nghiện sau khi cai, cho nên điều trị phải là một quá trình dài, bao gồm những biện pháp đa dạng và sự nỗ lực tối đa, ngay cả khi bệnh nhân đã trở về tái nhập cộng đồng. Nhưng do hiểu biết cuối cùng về tính chất của nghiẹn ma lúy chưa được thấu đáo, số bệnh nhân thì đông, số nhân viên điều trị thì ít, tình trạng thiếu vắng những săn sóc hậu cai đúng mức, những cố gắng cao độ của chúng ta trong việc giảm cầu ma túy trở nên bị giới hạn, cũng như tỉ lệ tái nghiện hiện nay là rất cao.

Dẫu vậy, thời gian cai nghiện lại Trung Tâm lại mang tính chiến đấu có tầm mức quyết định cao trong việc điều trị-phục hồi. Trung Tâm là nơi giúp bệnh nhân được cô lập khỏi môi trường ma túy, anh ta được nghỉ ngơi và suy ngẫm về cuộc đời đã qua của mình. Anh ta nhận được từ Trung Tâm những giúp đỡ trong nhận thức, những hỗ trợ nhằm nâng cao kỹ nàng sống (kỹ năng xã hội), kỹ năng nghề nghiệp, bản lĩnh và kỹ năng vượt qua những cám dỗ từ các yếu tố nguy cơ.

Có 12 nguyên tắc được đề ra như sau:

1.    Không có sự điều trị độc nhất nào thích hợp cho mọi người nghiện.

2.    Những đáp ứng về điều trị phải sẫn có và đầy đủ. Người nghiện tùy theo từng thời điểm sẽ có những nhu cầu mới. Sự thiếu vắng những dịch vụ điều trị vào những “thời điểm quyết định” có thể là một thất bại trong điều trị. Những nhu cầu đa dạng của người nghiện trong quá trình phục hồi luôn nảy sinh, tình cảm, lâm lý của anh la luôn thay đổi. Vì vậy nhân viên điều trị phụ trách chăm sóc anh ta phải nhận biết ngay tình trạng cùa anh ta vào những lúc đó, và cung cấp cho anh la sự giúp dỡ cần thiết kịp thời.

3.    Kế hoạch cai nghiện cho cá nhân cần được đánh giá thường xuyên và phải thay đổi nếu cần thiết để đáp ứng được từng giai đoạn của người nghiện. Điều rõ ràng là, mỗi giai đoạn hồi phục của mỗi người đều mang nét cá biệt của người đó.

Kế hoạch cai nghiện cho một người được ví như một cuộc hành trình đưa đến hồi phục. Nhưng không thể vạch ra trước hướng đi mà đúng ngay, nó sẽ thay đổi tùy theo bệnh nhân. Sự theo dõi và nhận xét cách sinh hoạt, hành vi của bệnh nhân sẽ giúp nhân viên điều trị nhận định về sự tiến bộ hay thụt lùi của họ để thay đổi hướng điều trị.

4.   Thời gian điều trị phải đủ dài mới có hiệu quả. Việc thay đổi mộl thól quen hành vi, sự chuyển đổi nhận thức, không thế sớm có kết quả. Biện pháp điều trị cần lập đi lập lại cho thấm dần vào đầu óc bệnh nhân.

Chương trình điều trị cần tăng cường thêm hình thức tự đánh giá, tự cam kết như một tiêu chuẩn cần vươn tới. Biện pháp này kích động nỗ lực bản thân người nghiện trong quá trình phục hồi.

Thời gian lý tưởng để chuyển đổi nhận thức là 2 năm, nhưng cũng có thể chỉ 6 tháng tùy theo mức dộ nặng nhẹ của người nghiện. Ví dụ một người nghiện nặng, đã nhiễm hiv, vô gia cư, vô nghề nghiệp, tương lai không còn, hiện tại đau khổ, vậy thời gian cần để chuyển đổi nhận thức về hành vi cho anh ta hiển nhiên rất lâu nếu so với trường hợp một thanh niên nghiện nhẹ vì ham vui.

5.   Biện pháp Tư vấn tâm lý cá nhân, Tư vấn nhóm, GBBS là 3 biện pháp gọt dũa hành vi rất hiệu quả. Dùng 3 biện pháp nói trên một cách đều đặn và thường xuyên sẽ tạo cho người nghiện những thói quen mới, những nhận thức mới. Cá tánh và kỹ thuật của nhà tư vấn nắm vai trò lớn trong việc thành bại của kế hoạch. Một khi bệnh nhân đã được học để nhận biết được những yếu tố nguy cơ của mình, và được học kỹ năng vượt qua chúng, thì cơ may đoạn tuyệt với ma túy có thể được dự báo.

6.   Việc điều trị bệnh tâm thần cần được đều hành cùng lúc với các biện pháp cai nghiện điều trị phục hồi.

7.   Việc cắt cơn ít hoặc không có tác dụng trong việc gọt dũa hành vi, thay đổi nhận thức.

8.   Điều trị cai nghiện cần phải tự nguyện mới có kết quả.

Chúng ta đều biết rằng, hầu hết những người nghiện ma túy đều đánh mất tự tin. Động cơ điều trị của họ thương rất kém, họ không tin có thể bỏ ma túy được. Họ đến Trung Tâm đều do áp lực gia đình hay xã hội.

Hiển nhiên rằng điều trị phục hồi cho người tự nguyện sẽ dễ dàng hơn bởi họ cộng tác vơi nhân viên điều trị, do đó quá trinh hồi phục của họ tiến triển nhanh hơn.

Vậy điều trị tự nguyện hay bị ép buộc là điều quan trọng, song điều quan trọng hơn là cả hai nhóm học viên đều có cơ hội dể hướng vào công tác cai nghiện. Với nhóm ép buộc, họ cùng nhận được đầy đủ những dịch vụ săn sóc, tư vấn, giáo dục, giúp đỡ. Tất nhiên, sự chuyển đổi nhận thức cùa người bị ép cai đòi hỏi một thời gian lâu hơn, phải kiên nhẫn với anh ta hơn, chuyên viên tư vấn tâm lý phải có sổ kỹ thuật đặc biêt nhằm lôi cuốn anh ta nhiều hơn và phải thiết lập thành công với anh la mối quan hệ thân thiết hơn.

Như thế dù ép buộc cai hay tự nguyện cai, những học viên đều có được cơ hội như nhau, thậm chí nhóm ép buộc còn được quan tâm đến hơn. Vì vậy, không hẳn là điều trị cai nghiện phải là tự nguyện mới có hiệu quả.

9.    Không cho ma túy hiện diện trong Trung Tâm là nguyên tắc điều trị tuyệt đối chính xác. Thêm nữa, rượu là một loại ma túy trung gian trước khi học viên tái nghiện heroin. Trung tâm phải giám sát học viên thật chặt chẽ, xét nghiệm nước tiểu nếu cần. Việc xét nghiệm dương tính là sự thoái bộ của chương trình diều trị, bệnh nhân phải tự đánh giá lại và giúp đỡ thêm nữa.


10.  Chương trình cai nghiện phải có sự đánh giá về các bệnh truyền nhiễm (HIV/AIDS, viêm gan siêu vi B và C, bệnh lao, bệnh lây lan qua đường tình dục…). Những buổi Sinh hoại nhóm, Tư vấn 1-1, những buổi Giáo dục cộng đồng …cần được tiến hành theo hướng giúp bệnh nhân tránh được những hành vi nguy cơ cao. Sự hiểu biết của học viên về những bệnh nói trên còn giúp cho họ tự chăm sóc bản thân mình được tốt hơn.

11.   Sự bình phục của người nghiện có thể sẽ lâu như một bệnh mãn tính khó trị, và do dó học viên phải được thích ứng bởi những giai đoạn điều trị khác nhau.

Học viên có thể bỏ ma túy được vài năm và nguy cơ tái nghiện vẫn còn chờ đằng trước. Khi bệnh nhân rơi vào tình trạng như vậy, rõ ràng là anh ta đã được học tập đầy đủ từ Trung Tâm, nhưng thất bại trong việc học đủ để có bản lĩnh tránh khỏi cám dỗ của ma túy. Việc sử dụng những nhân viên có tiền sử nghiện ma túy cai thành công là điều tốt, chính những người này có bản lĩnh để giúp bệnh nhân chống tái nghiện.
12.   Một thành phần không thể thiếu được trong nguyên tắc điều trị là sự quan hệ của gia đình vơi Trung tâm và với học viên. Gia đình – Trung Tâm – Học viên không thể tách rời trong quá trình cai nghiện, và ngay cả sau khi học viên rời khỏi Trung Tâm.

Các học viên đều trở về gia đình khi rời Trung Tâm, và nơi dâỵ là hậu thuẫn vững chắc để giữ cho con cái họ đừng tái nghiện, cũng là tiếng nói quan trọng động viên, an ủi học viên vui lòng chấp nhận những áp lực của Trung tâm trên tâm lý họ.

V. CHƯƠNG TRÌNH ĐIỀU TRỊ PHỤC HỒI 

Một chương trình điều trị phục hồi phải gồm bốn bước :

– .Đánh giá việc lạm dụng ma túy

– Cắt cơn giải độc — Điều trị bệnh phối hợp

– Điều trị phục hồi

– Chăm sóc và quản lý sau cai

1. Đánh giá việc lạm dụng ma túy — Lập kế hoạch điều trị 

Việc đánh giá lạm dụng ma túy phải được tiến hành trước tiên, qua đó nắm biết tất cả các thông tin về bệnh nhân: nội tâm, gia đình, môi trường sống, kinh tế đồng thời với mức độ lạm dụng ma túy cũng như hậu quả của nó .

Qua đánh giá này, chúng ta mới có thể mô tả lại chân dung người nghiện càng chính xác càng tốt, từ đó định ra tiêu chuẩn điều trị và các bước tiến hành, ví dụ người nghiện nặng hay nhẹ có mức độ chăm sóc khác nhau, người đi cai nhiều lần sẽ được học nhiều những kỹ nâng chống tái nghiệnn khác với người đi cai nghiện lần đầu.

2. Cắt cơn giải độc — Điều trị bệnh phối hợp

3. Điều trị phục hồi

Chính giai đoạn điều trị này chúng ta sẽ biến một người nghiện ma túy trở lại một người bình thường. Đây là một quá trình rèn luyện và học tập, do đó sẽ có từng lớp, từng trình độ, mỗi lớp có đánh giá mức tiến bộ và không có hạn thời gian cho bất cứ lớp nào .

a.    Lớp định hướng

Mục đích của lớp định hướng là:

–    Giúp đỡ người nghiện chấp nhận mô hình điều trị của Trung Tâm.

–    Xem lại kế hoạch điều trị ban đầu có cần thay đổi gì không

–    Giúp đỡ bệnh nhân học những triết lý và qui định của phương pháp điều trị.

–    Học tập nội qui Trung Tâm

Bởi đa số những người nghiện trong giai đoạn này còn chưa ý thức được vấn đề, đầu óc còn tán loạn, sức khỏe còn bạc nhược, nên mọi thông tin đều phải rất đơn giản để học viên dễ tiếp thu. Ngoài ra, nhân viên tư vấn phải lao ra được mối quan hệ tích cực với học viên. Tất cả mọi sự khó khăn nằm ở bưỡc định hướng này. Thực tế đã cho thấy rằng nếu chúng ta định hướng không khéo, học viên sẽ khó mà cộng tác với kế hoạch điều trị. Họ giữ trong lòng một sự phản kháng, ý tưởng đào thoát khỏi Trung Tâm. Nếu được định hướng trong 60 ngày đầu tốt đẹp, sẽ có cơ may họ thực lòng cộng tác với kế hoạch điều trị.

b.    Lớp nâng cao

–   Khuyến khích học viên tham gia vào các hoạt động nhằm mục đích điều trị. Khuyến khích họ bày tỏ ý kiến, cảm tưởng, ước mơ, qua đó chúng ta tiếp tục phải giải quyết giúp đỡ họ những vấn đề.

–   Học tập những kỹ năng xử lý thích nghi với một cuộc sống lành mạnh không có ma túy.

–   Học tập xây dựng cho bản thân những giá trị đích thực của cuộc sống, từ đó học viên từ từ điều chỉnh những nhận thức , những quan điểm của mình trước đây.

–   Học tập kỹ năng xã hội: đóng góp của cá nhân trong tập thế, vai trò của cá nhân trong tập thể, tạo cho học viên nhận được chân giá trị của mình trong một xã hội không có ma túy.

c.    Lớp chuẩn bị hòa nhập xã hội – cộng đồng

Mục đích là học viên phải biết làm sao sống lương thiện trong xã hội bằng khả năng của mình. Muốn vậy chương trình điều trị phải giải quyết được những vấn đề sau đây:

–   Giúp học viên học nghề và học kỹ năng sống, qua những bước giáo dục, dạy nghề dài hạn và có kết quả chu đáo.

–   Xem xét trước những yếu tố nguy cơ đang chờ đón học viên ở ngoài xã hội, từ đó tiếp tục giải quyết những khó khăn của học viên, giúp đỡ học viên sống vượt lên trên những tiêu cực giữ chân họ lại.

–   Lặp kế hoạch phòng ngừa tái nghiện cho bản thân họ.

d.    Lớp tái hòa nhập cộng đổng

Mục tiêu của lớp này là cho học viên từng bước tiếp xúc với cuộc sống bên ngoài Trung Tâm, qua đó sẽ nhận ra những ưu khuyết điếm của họ và tiếp tục điều trị.

–   Cho phép học viên những đợt đi phép ngắn, khi về có báo cáo rút ưu khuyết điểm, xét nghiệm nước tiểu.

–   Tiếp tục giúp học viên những khó khăn bản thân và bước đầu tìm kiếm trước cho họ những trợ giúp, ân nhân ở ngoài cộng đồng (thu xếp trước việc làm, trợ giúp tâm lý)

–    Đẩy mạnh kỹ nâng vượt qua những tình huống nguy cơ để phòng ngừa tái nghiện.

–    Năng cao kỹ nâng nghề nghiệp cho họ, bảo đảm rằng họ có thể sống được với cái nghề đó.

–    Khi những bước trên có trục trặc, sẽ quyết định cho học viên ở lại tiếp tục học tập, chưa cho về.

4.    Chương trình chăm sóc và quản lý sau cai 

Học viên khi vừa tốt nghiệp Trung tâm ra thì như người mới vào đời, bởi vậy nếu không được sự giúp đỡ săn sóc, chắc chắn sẽ không giữ gìn những thành quả mà mình đã đạt được trong Trung tâm.

Mô hình cộng tác giữa Trung tâm và gia đình học viên cần được xây dựng và củng cố thành một khâu thứ 3: cộng đồng.


VI. LẬP KẾ HOẠCH ĐIỀU TRỊ

Việc lập kế hoạch được tiến hành ngay sau khi đã nắm bắtt những thông tin về người nghiện. Để đối tượng tham gia vào kế hoạch, họ phải được tham gia vào việc xây dựng kế hoạch điều trị cho chính mình.

Chính người nghiện là thành viên có trách nhiệm trong đội điều trị cho chính mình, thậm chí ngay cả khi họ không muốn điều trị, chúng ta cũng phải để họ tham gia bước đầu vào những mục tiêu sơ khởi, và sẽ nâng dần trách nhiệm họ lên cao trong quá trình tiến hành kế hoạch.

Lập kế hoạch điều trị cần qua 3 giai đoạn:

1/ Mục tiêu cụ thể của từng giai đoạn.

2/ Yêu cầu bệnh nhân phải đáp ứng những gì.

3/ Phương pháp tiến hành và cung ứng dịch vụ.


Mục tiêu cụ thể từng giai đoạn

Mỗi bệnh nhân, theo dữ liệu thông tin chúng la nắm bắt, phải có 1 kế hoạch đề ra mục tiêu nhắm đến theo từng giai đoạn, ví dụ một bệnh nhân bệnh nặng, lâm lý tuyệt vọng vì đã nhiễm HIV thì có thể có 3 mục tiêu như sau:

1.    Ngưng sử dụng ma túy, tăng cường sức khỏe.

2.    Cải thiện tâm trạng qua tâm lý, giáo dục, thuyết phục.

3.    Về khía cạnh y khoa, điều trị những bệnh kèm theo.

Yêu cầu bệnh nhân tuân thủ với mỗi mục tiêu đề ra.

1.    Với mục tiêu ngưng sử dụng ma túy, yêu cầu bệnh nhân duy trì tình trạng cai, cộng tác với kế hoạch điều trị, sinh hoạt tư vấn 1-1 hay tư vấn nhóm, sinh họat nhóm.

2.    Với mục tiêu trên cải.thiện tâm trạng, yêu cầu và khuyến khích bệnh nhân phát biểu, bày tỏ cảm xúc, ước muốn.

3.    Với mục tiêu điều trị bệnh kèm theo: yêu cầu không được trốn khám chữa bệnh.

Phương pháp

Phương pháp thực hiện theo mục tiêu và yêu cầu. Nhóm chuyên viên điều trị sẽ phác thảo kế hoạc thực hiện. Với 3 mục tiêu và 3 yêu cầu ở trên, việc thực hiện sẽ là như sau:

– Tư vấn nhóm, tư vấn cá nhân hỗ trợ, giúp đỡ bệnh nhân cắt cơn, hồi phục sức khỏe.

– Tư vấn cá nhân, điều chỉnh tâm lý, gợi mở những thông tin bệnh nhân còn ẩn dấu, khuyến khích, thuyết phục.

– Các bác sĩ tích cực khám và chữa bệnh tận tình cho đối tượng.

Các thời điếm thực hiện kế hoạch điều trị

Trong việc lập kế hoạch điều trị, có 3 thời điểm cần tiến hành công việc:

–  Điểm bất đầu: tiến hành ngay khi đối tượng vào Trung Tâm.

– Thành lập đội ngũ điều trị gồm các thành phần trực tiếp thực hiện.

– Đưa ra cơ cấu và định hướng cho điều trị, bao gồm việc hướng dẫn và bám sát đối tượng trong quá trình điều trị, phân công nhân viên theo dõi sau cai (trở về cộng đồng).

1/ Thời điểm đối tượng tham gia điều trị

Nhân viên tiếp nhận phải đánh giá tức thời tình trạng của đối tượng, và căn cứ vào đó để ra kế hoạch cụ thể: phân loại, định mức độ chăm sóc thích hợp và đánh giá kết quả điều trị.

a/ Xác định mức độ chăm sóc thích hợp: 6 tiêu chuẩn đã đc cập.

b/ Đánh giá sơ bộ ban đầu khi cắt cơn xong, vài ngày sau khi vừa được chuyển qua Đội. Việc đánh giá này phải được thực hiện khách quan, ví dụ:

.-   Sau cắt cơn vừa qua đối tượng đã ổn định chưa?

–    Những triệu chứng gì đang còn tồn tại hiện nay?

–    Tình trạng hiện tại và ước muốn?

2/ Thành lập đội ngũ điều trị cho đối tượng

Mỗi đối tượng có một vấn dề riêng biệt, nên nhóm điều trị cũng có những nhân viên phải làm việc nhiều hơn. Nhưng đội ngũ điều trị là một nhóm đồng nhất gắn bó, mọi ý kiến của các thành viên đều phải được chuẩn bị trước và mọi người thông qua. Tránh tình trạng phát biểu mâu thuẫn nhau làm cho đối tượng hoang mang, không có kết quả điều trị.

Việc điều trị loàn diện tâm lý – sinh học – xã hội như vậy đòi hỏi một đội ngũ điều trị chuyên nghiệp, đa năng. Tất nhiên không có nghĩa là mọi thành viên trong đội ngũ đều phải làm việc như nhau. Tùy theo rối loạn của đối tượng mà chuyên môn ngành nào, ngành ấy phải làm nhiều hơn. Nhưng chúng ta phải quan niệm rằng , mỗi sự làm việc đều được coi như nhau khi đánh giá nhu cầu điều trị của đối tượng.

Muốn vậy, mỗi thành viên điều trị cần có những kỹ năng như sau:

1.    Hiểu được mô hình điều trị của mình, mục tiêu mình muốn đến.

2.    Hiểu được mô hình điều trị của nhân viên khác, cũng như mục tiêu chung của cả nhóm.

3.    Hiểu rõ lúc nào kết hợp lĩnh vực của mình với lĩnh vực chuyên môn cùa nguờí khác

4.    Hiểu được biện pháp của mình có mâu thuẫn với biện pháp của nhân viên khác không.

Sau đây là 1 ví dụ phối hợp của Nhóm điều trị gắn bó về một trường hợp cắt cơn xong 2 tháng, đối tượng suy sụp, không cộng tác với điều trị:

1.    Nhân viên tìm hiểu ngoài sự suy sụp sinh lý sau cắt cơn, còn có vấn đề gì nữa không; nếu không, động viên khích lệ đối tượng; an ủi họ rằng thời điểm của giai đoạn phục hồi, tâm trạng chán nản là điều thường thấy.

2.    Chuyển đối tượng đến giám định y khoa xem có bệnh gì không.

3.    Thảo luận với nhân viên dạy nghề về tình trạng của đối tượng.

4.    Trao đổi với nhân viên quản lý để tìm hiểu liệu môi trường quản lý có làm thương tổn tâm lý đối tượng không. Trao đổi với nhân viên tâm lý để dánh giá phân tích sâu hơn.

5.    Sau cùng đưa ra được cơ cấu và định hướng cho điều trị tiếp theo với đối tượng, giám sát đối tượng trong suốt quá trình điều trị.

Các lợi ích của việc lập kế hoạch điều trị

Một kế hoạch điều trị đúng sẽ giúp triển khai điều trị theo hướng tốt và toàn diện. Qua kế hoạch điều trị, cả đối tượng lẫn nhân viên điều trị đều có lợi ích.

–    Đa số những người nghiện đều không biết làm sao để cai. Việc cho họ tham gia vào nhóm điều trị sẽ làm họ yên tâm và cộng tác với kế hoạch. Như vậy cơ may thành công rất cao.

–    Người nghiện hiểu những mục tiêu ngắn hạn và dài hạn do chương trình đề ra. Họ được thông báo trước những kế hoạch mà họ phải vượt qua. Vì vậy họ có chuẩn bị về tâm lý để phấn đấu.

–    Người nghiện hiểu được những mục tiêu dài hạn dành cho họ, cũng như các mục tiêu họ phải phấn đấu để vươn tới như một điều kiện tiên quyết để được hồi gia.

 

CÁC TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐIỀU TRỊ

Những thông tin ở đây nói lên việc xác định chính xác mức độ chăm sóc người nghiện ma túy. Đây là kết quả trong 10 năm nghiên cứu từ 1990-1999 của "Hiệp hội nghiên cứu về nghiện ma túy" của Hoa Kỳ. Những kết luận dưới đây đã được sự công nhận của nhiều quốc gia trên Thế giới.

I. TIÊU CHUẨN ĐIỀU TRỊ HAY MỨC ĐỘ CHĂM SÓC LÀ GÌ?

Bệnh tật thì có mức độ nặng nhẹ khác nhau, cho nên việc cung cấp dịch vụ điều trị cũng có nhiều mức độ khác nhau. Mỗi người nghiện điều có mức độ chăm sóc thích hợp.

Giữa nhân viên chuyên môn và Cán bộ quản lý luôn luôn phải giữ được mối liên hệ thông tin thường xuyên, qua đó việc thay đổi mức độ chăm sóc là điều có thể xảy ra do nhu cầu hiện tại của học viên đã thay đổi.

Việc đồng ý cho người nghiện có quyền ý kiến và tham gia vào môi trường điều trị của mình là điều nên làm, bởi bằng cách đó, học viên thể hiện trách nhiệm tham gia của mình.

II. CÁC KHÍA CẠNH ĐÁNH GIÁ ĐỂ QUYẾT ĐỊNH MỨC ĐỘ CHĂM SÓC

Việc đánh giá người nghiện gồm 6 điều cơ bản:

1. Nguy cơ xuất hiện hội chứng cai

– Có xảy ra tai biến bệnh khác lúc lên cơn vã thuốc.

– Hiện đang có dấu hiệu của hội chứng cai.

– Có thể nhận cắt cơn được không?

2. Rối loạn sinh học

– Ngoài hội chứng cai người bệnh còn bệnh gì khác?

– Có bệnh mãn tính từ trước?

3. Trạng thái cảm xúc/ hành vi và những biến chứng

– Có bệnh tâm thần

– Có vấn đề liên quan đến tâm lý làm việc điều trị trở nên phức tạp

– Nếu có thì những bệnh trên có cản trở quá trình điều trị không?

4. Chấp nhận / Không tiếp nhận điều trị

– Người nghiện phản đối việc điều trị?

– Người nghiện có bị cưỡng bức điều trị không?

– Thái độ người nghiện với việc điều trị thế nào?

– Người nghiện có vẻ lo lắng, chán nản không?

5. Tái nghiện / Nguy cơ tiếp tục sử dụng ma túy

– Tâm trạng người nghiện cực kỳ chán nản

– Người nghiện đi cai mà ở nhà còn có vấn đề gì băn khoăn hay day dứt?

– Người nghiện ước mơ gì sau khi rời Trung tâm?

6. Môi trường cho sự phục hồi

– Liệu có thành viên nào trong gia đình làm người nghiện ưu phiền?

– Liệu người nghiện có ai giúp đỡ sau khi ở Trung tâm về không?

– Người nghiện có sở trường gì không?

III. CÁC MỨC ĐỘ CHĂM SÓC

Gồm 5 mức độ chăm sóc:

– Mức độ 0,5      : nhẹ, dựa vào cộng đồng

– Mức độ 1         : nhẹ, dựa vào cộng đồng.

                            học viên được điều trị 9 giờ/ tuần

– Mức độ II         : còn nhẹ, cơ may khỏi còn cao, dựa vào cộng đồng

     Mức độ II.1   : tương đối nhẹ, điều trị giáo dục trên 9 giờ/ tuần

     Mức độ II.2   : tương đối đã nặng, điều trị, giáo dục trên 3 giờ/ ngày

– Mức độ III        : nghiện nặng, phải vào Trung Tâm.

     Mức độ III.1  : nhập Trung Tâm nhận chương trình điều trị

     Mức độ III.2  : nhập Trung Tâm điều trịn tích cực

     Mức độ III.3  : nhập Trung Tâm phải theo dõi 24/24

                            Có khả năng phải điều trị bằng Methadone

– Mức độ IV        : nghiện nặng + bệnh tâm thần

                             theo dõi chăm sóc 24/24, điều trị phục hồi.

                             Đồng thời chữa bệnh tâm thần.

 

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ

Đánh giá kết quả điều trị là điều không thể thiếu được trong kế hoạch điều trị. Việc đánh giá định kỳ sẽ giúp chúng ta:

1. Hiểu rõ hơn về nhu cầu đồi tượng, ước mơ của họ, từ đó phát triển, thay đổi chương trình điều trị cho phù hợp.

2. Xác định lại mức độ chăm sóc đối tượng, ví dụ: Qua phân loại và điều trị ban đầu, chúng ta nghĩ rằng đối tượng nghiện nhẹ. Song sau một thời gian, chúng ta phải thay đổi mức độ chăm sóc và biện pháp điều trị.

3. Bởi hai điều nhận thức trên, hiểu quả điều trị sẽ được nâng cao.

I. CÁC THỜI ĐIỂM PHẢI ĐÁNH GIÁ

Việc đánh giá kết quả đòi hỏi phải sử dụng một biểu mẫu câu hỏi y như nhau để hỏi đối tượng trong từng thời điểm như sau:

1. Bệnh nhân bắt đầu được điều trị

Ngoài việc điều tra để nắm bắt thông tin về toàn bộ con người của đối tượng, cũng như tình trạng nghiện của anh ta, công tác đánh giá cần được tiến hành tức khắc ngay khi đối tượng bắt đầu được điều trị cắt cơn. Đây là bảng đánh giá đầu tiên mà người nghiện sẽ cung cấp cho chúng ta khi họ lần đầu tiên đến với chúng ta – Những thông tin này sẽ được sử dụng lam mốc so sánh với những bảng đánh giá sau này.

2. Khi bệnh nhân nhập khu sinh hoạt vài ngày

Họ được đánh giá lần thứ hai, và kết quả này được đem ra so sánh với lần đánh giá đầu tiên.

3. Khi bệnh nhân đang ở trong giai đoạn điều trị

Họ được đánh giá lần thứ ba. Các thông tin này cũng được so sánh với những lần trước.

4. Khi bệnh nhân ở cuối chương trình điều trị

Họ được đánh giá lần cuối trước khi rời Trung Tâm – Các thông tin này sẽ được so sánh với các thông tin lần đầu để hiểu được quá trình tiến bộ của họ.

5. Theo dõi đánh giá sau cai vào ba tháng sau khi bệnh nhân hồi gia.

Đây là thời điểm thích hợp với điều kiện của chúng ta. Nếu bệnh nhân đã tái nghiện, rõ ràng họ cần tư vấn và động viên tái cai, còn nếu họ đang tốt đẹp, chúng ta giúp đỡ họ củng cố nhận thức, hành vi.

II. NHỮNG ĐỐI TƯỢNG NÀO CẦN ĐÁNH GIÁ

Tất cả mọi đối tượng được điều trị thì đều được đánh giá. Bởi lẽ việc này rất khó thực hiện nếu đối tượng quá đông, chúng ta nên phân loại những nhóm người nghiện, và sau đó đánh giá mẫu đại diện đối tượng mà thôi. Ví dụ:

– Đánh giá những đối tượng được chọn làm điêumr

– Hoặc đánh giá những người tỏ ra hợp tác với kế hoạch điều trị, hoàn tất chương trình điều trị.

– Hoặc đánh giá những đối tượng tỏ ra bất hợp tác, bỏ dở điều trị.

III. SỰ ĐÁNH GIÁ ĐƯỢC ĐẶT TRÊN NHỮNG KẾT QUẢ NÀO?

Có rất nhiều hệ thống đánh giá cực kỳ phức tạp, chưa thích hợp với xã hội Việt Nam. Chúng ta nên đặt ra một hệ thống đánh giá đơn giản, càng đơn giản càng tốt. Một hệ thống đánh giá đơn giản cần qua những khía cạnh sau:

  • Các đối tượng tham gia duy trì điều trị, số ngày tham gia.
  • Các đối tượng kết thúc chương trình điều trị.
  • Sự hài lòng của đối tượng đối với chương trình điều trị.
    Về khía cạnh này, chúng ta điều biết rằng không một người nghiện nào hài lòng từ khi họ bắt đầu điều trị – Nhưng sự không hài lòng đó sẽ giảm dần trong quá trình điều trị, và càng tăng lên nếu đối tượng muốn bỏ dở điều trị. Kết quả là sự đánh giá khách quan mức độ hài lòng của đối tượng cho, phép chúng ta dự báo ai sẽ bỏ dở điều trị, ai sẽ đi đến đích. 

Một kết quả của sự đánh giá tất nhiên không nhằm mục đích thu thập thông tin để thống kê hay báo cáo, mà các kết quả ấy phải được sử dụng để nâng cao chất lượng điều trị hay thay đổi chương trình điều trị cho thích hợp, cho có ý nghĩa. Chúng ta không nên mất thì giờ để thu thập những con số thống kê trong việc đánh gia kết quả điều trị.

Để đạt được mục tiêu ấy, sự đánh giá cần được tiến hành trên ba khía cạnh:

1. Hiệu lực của điều trị

Đánh giá hiệu lực của điều trị căn cứ vào những tiêu chuẩn sau:

  • 1 bảng Tự đánh giá của đối tượng gồm các mặt hành vi, cảm xúc, thái độ, mức độ thèm ma túy. Kinh nghiệm cho thấy trong 3 tháng đầu bệnh nhân rất cường điệu, tự đánh giá rất cao. Sau đó, sự trung thực dần trở lại, mức độ đánh giá sẽ thấp hơn.
  • Đánh giá tinh thần và thái độ lao động.
  • Đánh giá tinh thần chấp hành nội quy.
  • Đánh giá các mối quan hệ với tập thể.
  • Đánh giá mối quan hệ với nhân viên tư vấn.
  • Đánh giá mức độ cảm xúc, tâm lý.
  • Đánh giá mức độ tình cảm với gia đình.
  • Đánh giá khía cạnh giáo dục dạy nghề.
  • Đánh giá y khoa về sức khỏe chung.

2. Hiệu quả của điều trị

Nên sử dụng cách đơn giản như sau:

  • Tự nguyện thực sự – Cộng tác với chương trình điều trị, có tiến bộ
  • Còn lưỡng lự chưa dứt khoát
  • Không muốn cai: không có dấu hiệu tiến bộ.

3. Sự hài lòng của đối tượng

Cho phép chúng ta dự đoán trước về kết quả điều trị.

IV. MỘT VÍ DỤ VỀ KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ SAU 5 GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRỊ

– Thời gian điều trị chưa đủ/ đủ.

– Sử dụng ma túy giảm/ tăng/ ngừng hẳn sau điều trị.

– Dính líu tới luật pháp trước và sau điều trị.

– Hoạt động có ích với xã hội trước và sau điều trị.

– Mức độ hài lòng về lối sống của mình trước và sau điều trị.

– Thất bại trong điều trị (liệu pháp thay thế méthadone như một biện pháp nhân bản hơn là cho bệnh nhân vào tù).

 

XÂY DỰNG MỘT MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ TỐT

Chúng ta đều thấy rằng một môi trường điều trị tốt sẽ thuận lợi cho công tác điều trị. Môi trường điều trị tốt không có nghĩa là cơ sở vật chất đồ sộ, mà chính là con người cùng không gian xung quanh.

Những điều kiện để môi trường điều trị được coi là tốt là:

1. Nhân viên điều trị phải là người xứng đáng và mẫu mực. Đội ngũ điều trị phải là những người cho đối tượng tôn trọng, làm gương sáng cho bệnh nhân, bởi họ là những người cần chuyển đổi nhận thức, hành vi.

Điểm đặc biệt của những người nghiện ma túy là họ rất nhạy bén và tinh ý nhận ra những điều không tốt, hay nói đúng hơn là những điều xấu, và họ thực hiện những điều xấu rất thường xuyên – Nếu nhân viên điều trị có những hành vi không tốt, làm sao ông ta có thể chuyển đổi hành vi của đối tượng được? Khi huấn luyện đối tượng, nhân viên điều trị nên dùng các ví dụ đơn giản, dễ hiểu. Đối với đồng nghiệp, ông phải tuân thủ những quy tắc đơn giản trong quan hệ. Đối với đối tượng, ông phải thân ái và đồng cảm nhưng cần xác định một ranh giới không thể vượt qua giữa ông và đối tượng, ví dụ lợi dụng vật chất, quan hệ nam nữ…

2. Môi trường điều trị phải đảm bảo không có ma túy hoặc các chất gây nghiện khác, ví dụ rượu…

3. Môi trường điều trị phải là một chỗ ở an toàn, trong đó diễn ra một lối sống không lệ thuộc ma túy, nơi mà hành vi của một người luôn được những người khác nhận xét, góp ý, cũng như anh ta có thể nhận xét góp ý hành vi của người khác mà không hề do một áp lực nào.

4. Môi trường điều trị phải là nơi để các đối tượng giúp đỡ điều chỉnh sai lầm cho nhau, mà họ hiểu được bản thân họ không là người xấu.

5. Môi trường điều trị phải là một thế giới đồng đằng, không ai có thể ức chế hay áp lực trên ai, không có vi phạm nội quy và có chương trình sinh hoạt hằng ngày.

6. Môi trường điều trị phải có những chuẩn mực về Hành vi và một xã hội bình thường không có ma túy nhằm hỗ trợ một lối sống nghiêm cẩn, ví dụ:

Lòng trung thực không dối trá

– Trách nhiệm quan tâm đến người khác

– Sống cởi mở, chân tình…

– San sẻ vui buồn với nhau

– Đoàn kết trong tiến bộ

– Có kỷ luật

– Thương yêu bạn bè

– Kính trọng cha mẹ (khi đến thăm)

7. Môi trường điều trị phải có những biện pháp can thiệp ngay tức khắc khi xảy ra những vi phạm nghiêm trọng về những quy tắc xã hội và chuẩn mực hành vi.

8. Môi trường điều trị không thể có tình trạng bạo lực, mà phải giáo dục liên tục về một cách sống, nếp sống chuẩn mực.

9. Môi trường điều trị phải luôn luôn sẵn sàng những can thiệp nhằm giúp đỡ thái độ hành vi và cải thiện nhân cách qua các phương pháp dưới dạng Tư vấn, Nhóm đối đầu, GBBS.

10. Môi trường điều trị cần có một thỏa thuận điều trị nói lên quan hệ giữa nhân viên điều trị và người nghiện, đồng thời nêu rõ những mục tiêu điều trị mà hai phía đều quan tâm. Nội dung thỏa thuận điều trị phải bao gồm những nội dung giúp đỡ người nghiện có kế hoạch cho đời sống hàng ngày nhằm tiến đến một sự phục hồi nhân cách, một cuộc sống hữu ích cho xã hội, và thu thập những kỹ năng để vượt qua những thử thách tái nghiện, cũng như tìm đến nhân viên Trung Tâm để nhờ giúp đỡ vượt qua những thử thách đó.

 

QUẢN LÝ ĐỐI TƯỢNG

I. NHỮNG NHẬN XÉT

  1. Nếu người nghiện phải làm việc quá nhiều để tham gia vào những việc điều trị thì nội tâm họ càng có xu hướng xa lánh điều trị.
  2. Nếu người nghiện càng chịu những áp lực nhằm ép họ duy trì điều trị thì nội tâm họ càng có xu hướng bỏ dở điều trị
  3. Người trực tiếp quản lý đối tượng chính là người chiến sỹ tuyến đầu trong đội ngũ cán bộ điều trị. Mọi hành động của anh/ chị ta đều có ảnh hưởng rất lớn đến đối tượng, cho nên anh ta cần được gắn liền với kế hoạch điều trị.
  4.  Bởi bệnh nhân nghiện đa số hoàn cảnh sống phức tạp, người quản lý đối tượng có rất nhiều cơ mang để tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của đối tượng, những yêu cầu cấp thiết của đối tượng.
  5. Nếu đối tượng quản lý đối tượng đủ khả năng triệt tiêu bớt những kết quả tiêu cực của việc điều trị (điều 1,2), thì hành công của kế hoạch có phần đóng góp đồng đẳng với nhân viên điều trị 

II. NGƯỜI QLDT LÀ GÌ, CẦN NHỮNG PHẨM CHẤT NÀO?

Bộ não con người trong hộp sọ có những tế bào thần kinh và các tế bào đệm. Các tế bào thần kinh dẫn truyền các xung động thần kinh, còn các tế bào đệm giữ các nowtron ở vị trí cố định.

Ví dụ trên nhằm ví Nhân viên điều trị như vai trò tế bào thần kinh, còn người Quản lý đối tượng là những tế bào đệm: họ đảm bảo cho kế hoạch điều trị tiến hành đúng tiến độ quy trình đề ra. Bởi chức năng như vậy, người quản lý đối tượng là:

– Một thành viên bình đẳng trong nhóm điều trị.

– Là chiến binh ở tuyến đầu sôi bỏng trong kế hoạch điều trị

– Là người thuyết phục đối tượng tuân thủ quy trình điều trị đề ra.

– Là người giúp đỡ Nhân viên điều trị trong suốt quá trình triển khai các dịch vụ cai nghiện.

Để đảm bảo chức năng tinh tế trên, người cán bộ quản lý đối tượng cần những phẩm chất sau:

1. Sự hiểu biết sâu sắc về tất cả những biểu hiện của đối tượng.

2. Nắm vững mục tiêu điều trị của nhóm điều trị.

3. Hiểu biết về công tác xã hội.

4. Biết cách cổ vũ đối tượng.

5. Có khả năng làm việc độc lập mà vẫn duy trì được mục tiêu của điều trị.

6. Có khả năng giải quyết mọi tình huống cấp bách, tư vấn tại chỗ.

7. Năng động tháo vát.

8. Trong sạch, không lợi dụng đối tượng.

III. NHỮNG NHIÊM VỤ CHÍNH CỦA CÁN BỘ QUẢN LÝ ĐỐI TƯỢNG

  • Giúp đỡ người nghiện tuân thủ qui trình điều trị
  • Giúp đỡ người nghiện thay đổi mức độ điều trị khi cần thiết
  • Giúp đỡ tăng cường mối quan hệ giữa người nghiện với nhân viên điều trị
  • Giúp đỡ người nghiện giải quyết những vấn đề khó khăn của họ thay vì tạo ra nơi họ những mong đợi ảo tưởng
  • Cán bộ quản lý là một vị trí an toàn cho người nghiện khi họ có nguy cơ sa ngã vì thử thách. Nói tóm lại, Cán bộ quản lý luôn là bạn thân của đối tượng

  

GIAO BAN BUỔI SÁNG

I. NGUYÊN LÝ

  • Một trong những nguyên lý chính của Cộng Đồng Trị Liệu là sự tự giúp đỡ, tự tin, trách nhiệm cá nhân giữa các thành viên trong cộng đồng.
  • Giao Ban Buổi Sáng là một trong những biện pháp dựa theo nguyên lý ấy, thông qua buổi họp mỗi ngày vào sáng sớm, các thành viên trong gia đình gọt dũa hành vi cho nhau nhằm thúc đẩy những kỹ năng sống.
  • Việc thay đổi hành vi con người được thực hiện qua một quá trình học hỏi lập đi lập lại vào buổi sáng mỗi ngày. Kỹ năng sống trong xã hội ở đây là một môi trường an toàn song thu nhỏ thành một gia đình. Mỗi thành viên trong gia đình là một học viên, họ được thúc đẩy tích cực tham gia vào việc xây dựng giúp đỡ lẫn nhau theo một hoạt động tương tác qua lại.

​II. NGUYÊN TẮC TIẾN HÀNH

  • Khi một đối tượng mới gia nhập vào Trung tâm, anh ta liền được đón tiếp như một thành viên trong gia đình. Ngay từ bước đầu, anh ta đã có một ấn tượng tốt, thân thiện, về nơi anh ta sẽ sống và được điều trị phục hồi
  • Không khí thân mật giữa các thành viên trong gia đình đã làm cho anh ta yên tâm, anh ta sẽ không sống co rút và phải bận tâm đề phòng những người khác.
  • Trong những thời gian dài sử dụng ma túy, đối tượng mất hết ý nghĩa về một gia đình, nơi mà mọi thành viên đều quan tâm và trách nhiệm với nhau. Việc sinh hoạt thông qua Giao Ban Buổi Sáng sẽ đem lại cho anh ta một tình thương của tập thể gia đình.
  • Giao Ban Buổi Sáng như tên gọi của nó, luôn bắt đầu vào đầu ngày, trước những sinh hoạt khác. Đó là thời điểm thuận lợi nhất trong ngày về việc tiếp nhận những nhận thức mới. Một khi đối tượng đã có ý thức cộng đồng cao, sự chuyển đổi hành vi có thể được dự báo.
  • Mọi sinh hoạt của gia đình luôn nhấn mạnh vào không gian và thời điểm hiện tại, những việc đã xảy ra 24 giờ qua, những điều mà toàn thể gia đình đều quan tâm.

​III. TRÌNH TỰ

10 bước tiến hành như một nghi thức, trịnh trọng nhằm mục đích tạo nề nếp hoạt động, xác lập sự ổn định:

  1. Người chủ trì tuyên bố khai mạc
  2. Mọi thành viên trong gia đình đứng lên đọc Triết Lý
  3. Thông tin nội bộ, những thông báo mà cả gia đình cùng quan tâm
  4. Xây dựng, phê bình những thành viên gia đình đã vi phạm những hành vi chuẩn, những quy tắc sống trong 24 giờ qua. Việc phê bình luôn căn cứ vào tinh thần tự giác và tôn trọng ý kiến. Người được phê bình sẽ đứng lên, im lặng lắng nghe ý kiến của người khác. Anh ta không có quyền biện bạch hay phản bác.
  5. Biểu dương những hành vi tốt trong 24 giờ qua. Người biểu dương được mời đứng lên cho mọi thành viên biết được anh ta đã làm gì.
  6. Thông điệp trong ngày sẽ do một thành viên khác đọc lên cho mọi thành viên khác đọc theo. Sau đó là một bình luận ngắn của thành viên này
  7. Thông tin thời sự quốc nội, quốc tế, thể thao và thời tiết trong 24 giờ qua được đọc lên cho cả gia đình biết được những tin tức bên ngoài.
  8. Hoạt động văn nghệ tiếp theo sẽ giúp gia đình thư giãn, giải trí sau thời gian sinh hoạt khá căng thẳng.
  9. Quan sát viên báo cáo lại nội dung sinh hoạt vừa qua.
  10. Người chủ trì chuẩn bị cho buổi giao ban sáng hôm sau. Những thành viên khác được phân công giữ từng nhiệm vụ theo trình tự như vậy.Tuyên bố bế mạc

​IV. TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI CHỦ TRÌ

  • Mỗi một thành viên sẽ thay nhau làm chủ trì
  • Duy trì trình tự giao ban như một nghi thức của Trung tâm.
  • Tôn trọng ý kiến các thành viên, không áp đặt suy nghĩ chủ quan.
  • Thúc đẩy mọi thành viên tham gia đóng góp ý kiến.

​V. Ý NGHĨA CÁC TRÌNH TỰ

1. Đọc Triết Lý.

Khi nghiện ma túy, đối tượng ngày càng bế tắc không có lối thoát, nhận thức lệch lạc nhiều khía cạnh, hành vi không thích nghi với cuộc sống lành mạnh, thêm những rối loạn về tình cảm, tư duy, tâm lý. Việc đọc hàng ngày Triết Lý sẽ có tác dụng nhập tâm nhằm thay đổi nhận thức.

2. Thông báo nội bộ

Nhằm đưa đến mọi thành viên diễn biến mà tất cả cùng quan tâm để thực hiện hoặc chia sẽ.

3. Phê bình xây dựng

Góp ý xây dựng từng khuyết điểm hành vi cụ thể, không phê bình chung chung, nhằm tạo cho đối tượng sự khiêm tốn, trung thực, can đảm nhìn vào sự thật. Qua phê bình xây dựng mà không triệt hạ, xúc phạm, đối tượng sẽ có cơ hội quan tâm đến những hành vi lệch lạc mà qua thời gian nghiện họ không còn quan tâm, từ nay họ sẽ có động cơ để phấn đấu.

4. Biểu dương

Ngay sau hoạt động phê phán những điều sai, cần có tiếp nối biểu dương những hành vi tốt nhằm khơi dậy tính tích cực, động viên các thành viên khác noi theo. Đối tượng được học cách tin vào cộng đồng khi họ hoàn thành được những việc đáng khen.

5.Thông điệp trong ngày

Là những quan điểm đúng về cuộc sống, có tác dụng xây dựng lại những giá trị đạo đức mà đối tượng không quan tâm, hoặc đã đánh mất đi trong quá trình nghiện.

6. Thời sự quốc nội, quốc ngoại, thể thao, thời tiết

Các đối tượng nghiện hầu như không còn quan tâm đến thế giới bên ngoài. Ý nghĩa của việc này là giúp họ cảm nhận được hoạt động của môi trường xã hội, từ đó phát sinh ý nghĩ về một môi trường lành mạnh bình thường.

7. Văn nghệ

Sau những tiến trình động naoc gay gắt, đối tượng cần được thoải mái, bắt đầu vào những công việc thường ngày của mình. Người được phân công làm văn nghệ cũng phải suy nghĩ, tìm tòi để phục vụ, tạo một thói quen tốt có trách nhiệm với tập thể

8. Quan sát

Người được phân công quan sát phải nghi nhớ, phân tích và khái quát sự việc. Điều này tập cho đối tượng kỹ năng xử lý thông tin.

Sau buổi họp, tất cả các thành viên trong gia đình tiến lên, bắt tay người ở phía bên kia. Buổi họp giao ban chấm dứt trong tình thân ái.

TƯ VẤN CÁ NHÂN CHO NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY

I. THẾ NÀO LÀ TƯ VẤN CÁ NHÂN CHO NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY ?

Tư vấn cá nhân là một tiến trình tương tác, một cuộc đối thoại giữa người nghiện ma túy với nhân viên điều trị nhằm mục tiêu:

– Thấu hiểu tình trạng của người nghiện, cảm giác, nhận thức, hành vi

– Qua đó thức đẩy thành công người nghiện tham gia việc điều trị.

Với định nghĩa như vậy,  bất kể là ai có quan tâm  đến người nghiện, thì đều làm tư vấn cá nhân được.

Tư vấn tâm lý không phải là điều trị tâm lý. Trong khi điều trị tâm lý nhấn mạnh vào việc mất chức năng, chú trọng vào việc phân tích để mưu sự tái thiết, thì tư vấn tâm lý giúp ta nhận thức được thực tại, nhấn mạnh vào yếu tố bình thường và từ đó trợ giúp sự phục hồi. Điều trị tâm lý thì giúp đỡ bệnh nhân đi tới con đường đã được định hướng trước từ những phân tích sâu xa mà có, thì tư vấn tâm lý giúp cho họ tự tìm ra con đường họ phải đi.

Nhân viên điều trị không nên nhầm lẫn tư vấn tâm lý với trị liệu tâm lý để cho rằng mình không phải chuyên gia về tâm thần, từ chối tương tác với người nghiện. Không có tư vấn cá nhân, không bao giờ nhân viên điều trị có thể hiểu được đối tượng và giúp đỡ họ được.

II. NHỮNG KỸ NĂNG TƯ VẤN

Tư vấn cá  nhân là điều ai cũng có thể làm với người nghiện, từ người đơn giản với những lời nói mộc mạc, đến người tinh tế nhạy bén trong nhận thức. Nhưng để tư vấn thành công, tức là thúc đẩy quá  trình điều trị, tư vấn cũng  cần một số điều kiện:

1. Quan trọng hàng đầu là lấy được lòng tin của người nghiện.

Thời gian dài sử  dụng ma túy làm cho họ bất cần đời, không tin ai. Nếu như được họ tin cậy, nhân viên tư vấn đã đi được hơn một nữa chặng đường công việc. Cách lấy lòng tin của ta gồm:

  • Đồng cảm với họ. Hãy đặt mình vào vị trí và hoàn cảnh người nghiện, từ đó mới cảm nhận những đau đớn họ đang chịu đựng.
  • Biết lắng nghe họ nói để từ đó tìm ra những điểm trọng yếu trong vấn đề phức tạp của họ. Nếu tư vấn nói nhiêù hơn bệnh nhân, có nghĩa là ông ta không còn cơ may hiểu biết.
  • Tích cực quan tâm đến vui buồn của họ, hãy để cho họ cảm nhận rằng: nhân viên điều trị rất âu lo về họ, quan tâm đến cuộc đời họ.
  • Thiết lập một quan hệ tốt với bệnh nhân và giúp họ ngay khi có thể giúp đỡ được.

2. Nắm vững tâm sinh lý của họ để biết được thời điểm họ thay đổi nhận thức

Đây là điều khó khăn nếu nhân viên điều trị không gần gũi và thân thiết người nghiện nghe họ bộc bạch tâm sự.

3. Biết cách lợi dụng nghịch cảnh của họ và nội quy chặt chẽ trong Trung Tâm để hướng bệnh nhân cộng tác với điều trị.

Nếu một bệnh nhân thực sự chưa muốn thoát ra khỏi ma túy, người tư vấn nên gợi cho bệnh nhân rằng: họ sẽ tiếp tục nghiện thì sẽ được gì?

4. Nhận biết được những điểm mạnh của người nghiện, những sở trường của họ để nhắc nhở rằng: họ vẫn là người đầy đủ khả năng sống và làm việc như một người bình thường không có ma túy.

​5. Biết lắng nghe những ý kiến phản hồi của người  nghiện về cách thức tiếp cận vấn đề của mình

​6. Tạo ra cho người nghiện những thử thách từ nhỏ đến lớn để tăng dần chí phấn đấu và lòng tự trọng của họ

7. Biết cách cổ vũ, khích lệ bệnh nhân khi họ làm tốt, chia sẽ an ủi khi họ có cố gắng mà vẫn chưa làm tốt được.

8. Sau cùng, nếu người nghiện không thể chuyển đổi hành vi của họ được, hoặc chuyển đổi thành công, nhà tư vấn phải hiểu tại sao.

Chuyển đổi là một quá trình khoa học, có nhiều cơ sở để dự đoán trước.

​III. NHỮNG KHÓ KHĂN THƯỜNG GẶP PHẢI KHI LÀM TƯ VẤN CÁ NHÂN

Trong giai đoạn đầu của điều trị, tư vấn cá nhân rất khó khăn vì những hiện tượng rối loạn tâm sinh lý của bệnh nhân thông thường như sau:

  • Nhớ ma túy vô cùng
  • Trong lòng muốn bỏ điều trị
  • Nhớ nhà, buồn chán, cô  đơn
  • Bị giam lỏng trong Trung tâm, không có tự do như trước.
  • Khó khăn trong việc chung sống tập thể. Trước đây thế giới của bệnh nhân là ma túy, bây giờ không còn ma túy, bắt đầu giao tiếp với người khác bước đầu không quen.

​Một số khó khăn vẫn luôn xảy ra trong suốt quá trình điều trị phục hồi do bởi điều kiện của người nghiện, ví dụ:

  • Động cơ điều trị là do xã hội hay gia đình bắt buộc
  • Nhận thức sai lầm, lệch lạc trên nhiều khía cạnh
  • Khả năng giao tiếp kém
  • Khả năng diễn tả vấn đề của mình kém
  • Thiếu lòng tin, sống co rút và luôn luôn đề phòng người khác
  • Thiếu thành thật, nói dối quanh co
  • Không tự trọng.

Vượt qua được tất cả những khó khăn trên, thúc đẩy được một người nghiện tự nguyện tham gia điều trị là thành công của nhà tư vấn tâm lý.

 

TƯ VẤN NHÓM CHO NHỮNG NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY

I. THẾ NÀO LÀ TƯ VẤN NHÓM
Tư vấn nhóm là một hình thức điều trị gồm một số những người nghiện tạo thành một môi trường trong đó:

  • Hành vi của mỗi thành viên được cả nhóm cùng biết.
  • Các thành viên trong nhóm đều giúp đỡ và điều chỉnh hành vi cho nhau
  • Mọi thành viên trong nhóm đều đồng đẳng và học tập lẫn nhau trong suốt thời gian điều trị.

​Sự tập hợp các đối tượng nghiện thành từng nhóm sinh hoạt riêng có một lợi ích nhất định trong quá trình điều trị. Mọi sinh hoạt của nhóm đều diễn ra dưới những hình thức:

  1. Mỗi thành viên đều thể hiện nhận thức của mình bằng lời nói
  2. Mỗi thành viên được phân tích cho hiểu rằng họ sẽ ảnh hưởng họ sẽ ảnh hưởng đến những người khác, và những người khác cũng sẽ gây được ảnh hưởng đến họ.
  3. Học viên được cung cấp những ví dụ thực về những gì gọi là hành vi bình thường và hành vi không bình thường. Họ được học tập để biết hành vi của chính họ thông qua sự phản hồi của những thành viên khác trong nhóm.
  4. Học viên được học để hiểu rằng họ không phải là những người xấu, cho nên có thể thể hiện những suy nghĩ, những tình cảm đúng đắn của mình để nhận xét giúp đỡ người khác trong cùng nhóm.

​Như vậy qua tư vấn nhóm, hai phương diện chứa nguy cơ cao là Nội tâm và quan hệ cá nhân sẽ được bộc lộ qua những hành vi, và những hành vi này sẽ được  gọt dũa qua hoạt động trong nhóm. Sự hoạt  động nhóm  sẽ đem lại cho các thành viên trong quá trình điều trị một số yếu tố:

  • Những thông tin về bản thân mình cũng như các thành viên khác trong nhóm.
  • Những hy vọng về một tương lai, một cuộc sống không có ma túy.
  • Những hiểu biết về cuộc sống tập thể, những mối quan hệ chung.
  • Cơ hội học tập lẫn nhau.
  • Những cách thức sao sống với nhau cho hòa thuận ( học tập kỹ năng xã hội hóa)
  • Biết cách đánh giá và phát huy những hiểu biết đã qua (học tập kỹ năng xử lý thông tin)
  • Sự phấn chấn, hăng hái do sống trong môi trường lành mạnh
  • Sự gắn bó vào nhau (học tập về tình yêu thương gia đình)
  • Các thành viên dần dần sẽ có sự tự tin
  • Sự bắt chước học tập lẫn nhau

​Trong các yếu tố lợi ích do tư vấn nhóm đem lại, hai yếu tố học tập lẫn nhau và hăng hái sống có tác dụng mạnh mẽ nhất trong tác động chuyển đổi hành vi.

II. THÀNH PHẦN CỦA NHÓM

  1. Các nhóm đóng: gồm khoảng 10 thành viên cùng lứa tuổi, giới tính, có những đặc điểm tương tự nhau. Hình thức nhóm đóng này sử dụng cho những mục tiêu xác định trước, và thời gian sinh hoạt tương đối không dài ngày. Nhóm trưởng là nhân viên điều trị có cá tính cương quyết.
  2. Các nhóm mở: gồm khoảng 30 thành viên, có thể cho phép thu nhận thành viên mới, và các thành viên cũ có thể rời nhóm để gia nhập một nhóm đóng vì một yêu cầu điều trị có mục tiêu rõ rệt.
    Các nhóm mở này được sử dụng cho các chương trình điều trị kéo dài, đôi khi cũng có tính cách đối đầu như nhóm đóng.

Sinh hoạt của nhóm có thể  tuần 3 lần hoặc hằng ngày nếu cần dưới hình thức thảo luận hay bài giảng. Đặc điểm của nhóm đối đầu là đối chất, đấu tranh. Trưởng nhóm là nhân viên điều trị có chuyên môn tâm lý, hiểu biết đối tượng.

III. CÁC GIAI ĐOẠN HOẠT ĐỘNG:

  1. Bước đầu các thành viên được định hướng, biết cách tham gia vào chương trình.
  2. Sau đó là những mâu thuẫn, những sai phạm, những chống đối sẽ được đấu tranh với nhau để sửa chữa hành vi đó cho nhau.
  3. Đi đến kết quả là các thành viên có khả năng nhận biết vấn đề, quan tâm giúp đỡ lẫn nhau và cam kết thực hiện các mục đích điều trị.

Về phương diện điều trị, Nhóm là đại diện cho một xã hội, một môi trường sinh hoạt nhỏ. Mọi sinh hoạt trong nhóm dần dần giúp cho học viên hiểu biết về mặt xã hội để sửa đổi hành vi. Mỗi thành viên trong nhóm sau một thời gian điều trị có thể là người dự báo tốt nhất về sự thành công hay thất bại về mỗi mô hình điều trị. Một câu tục ngữ Pháp phát biểu: "Cho tôi biết bạn anh la ai, tôi sẽ biết anh là người như thế nào". Thật vậy, sự thành đạt của một thành viên trong nhóm có thể phản ánh sự thành công của nhóm, và sự tái hòa nhập cộng đồng chỉ có thể tốt lành một khi người nghiện có những kỹ năng đầy đủ về mặt xã hội.

IV. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC

Trị liệu tâm lý nhóm và Tư vấn tâm lý nhóm có nhiều điểm tương đồng trong trình tự tiến hành. Mặc dù cùng chung mục đích là điều trị, tư vấn tâm lý nhóm nhấn mạnh vào những hành vi, gắng công gọt dũa và thay đổi chúng, còn Trị liệu tâm lý nhóm có cách đi sâu hơn vào nội tâm người nghiện, hướng vào việc điều chỉnh những vấn đề có tính cách bản chất, những xung động của bệnh nhân về phương diện cảm xúc – Tuy vậy các bước chuẩn bị chúng lại giống như nhau, và nhân viên điều trị làm trưởng nhóm có thể hướng dẫn nhóm theo hướng tích cực mà ông ta thấy cần thiết.

1. Bước 1: Chuẩn bị đề cương

  • Đặt ra những ý muốn của nhân viên điều trị.
  • Đặt ra những ý muốn của từng học viên.
  • Quy định thời gian hoạt động.
  • Quy định tiêu chuẩn những ai tham gia nhóm, thành phần nhóm.
  • Những quy định về nội quy nhóm.
  • Những quy định về một môi trường an toàn.

Một môi trường an toàn có nghĩa là một khuôn khổ bao gồm các quy định:

  1. Mọi thông tin trong nhóm điều là thông tin mật, bảo đảm giữ kín cho họ.
  2. Mọi lời nói điều phải có tính chất xây dựng, giúp đỡ, không thể mang tính cách đả phá, chỉ trích, triệt hạ nhau.
  3. Nếu vi phạm kỷ luật sẽ bị đuổi ra khỏi nhóm, gia nhập một nhóm khác mang tính chất đổi đầu cao hơn.
  4. Mọi tâm tư, nguyện vọng của thành viên điều được nhân viên điều trị tận tình giúp đỡ. Nếu ông ta bị vượt ra khỏi thẩm quyền, ông ta sẽ viện đến cấp cao hơn để đảm bảo rằng mọi nguyện vọng đúng đắn của học viên sẽ được giải quyết.

2. Bước 2: Sẽ hoạt động như thế nào?

  • Sẽ đề cập đến những vấn đề gì và theo thứ tự ra sao?
  • Sẽ dùng biện pháp gì để xây dựng chỉnh đốn hành vi cho nhau và sẽ thực hiện kỷ luật thế nào đối với thành viên ngoan cố (hình phạt nặng nhất là đuổi ra khỏi nhóm – nghiêm trọng hơn là sẽ xử phạt cấp Trung Tâm)

3. Bước 3: Nội dung điều trị

  • Sử dụng những bạn học tốt, những nhân tố điển hình tốt để trình bày, học tập.
  • Những vấn đề đòi hỏi học viên phải động não, xử lý qua đó bộc lộ được nội tâm và hành vi.

Quy định cho cả nhóm được biến thành một nội quy sinh hoạt, nhấn mạnh vào

  1. Phải tôn trọng lẫn nhau.
  2. Phải trách nhiệm với nhau.
  3. Chú ý lắng nghe nhau và có sự thấu cảm.
  4. Nhận diện và phát hiện những điều chưa tốt.
  5. Luôn luôn xây dựng lẫn nhau.

V. KỸ THUẬT ĐIỀU TRỊ NHÓM

Người trưởng nhóm phải nắm vững một số kỹ thuật để điều hành nhóm – Ông ta phải hiểu biết rõ về đối tượng của mình, có kỹ năng xử lý những tình huống đặc biệt như:

  1. Sự bất ổn của học viên: Khi đối tượng âu lo, bất ổn là lúc họ có vấn đề – Người trưởng nhóm phải biết được vấn đề đó, giúp đỡ họ vượt qua. Mọi xử lý vội vàng như đuổi học viên ra khỏi nhóm làm kém kết quả điều trị.
  2. Cố gắng thúc đẩy tính tự giác của đối tượng, khiêm tốn nhận lỗi mình trước nhóm – Tính tự giác này sẽ gây một không khí phấn chấn trong nhóm, rất lợi cho việc điều trị.
  3. Phương pháp phản chiếu: nêu ra những người tốt việc tốt để làm gương và thúc đẩy.
  4. Sự không hòa hợp với tập thể và sinh hoạt do bị áp lực tâm lý là những vấn đề nghiêm trọng sẽ đưa đến những rối loạn về thái độ và hành vi của đối tượng – Những trường hợp này cần tư vấn 1-1 để kịp thời giải quyết.
  5. Kỹ thuật sử dụng hồi âm: Người trưởng nhóm phải hướng dẫn toàn nhóm biết lắng nghe ý kiến của người khác về bản thân mình.
  6. Phân công từng học viên làm mẫu đóng vai trò lãnh đạo – Kỹ thuật này giúp đối tượng học được tính tự tin và khả năng phân tích, phán đoán hành vi.
  7. Trong nhóm hoàn toàn dân chủ và bình đẳng.

 

CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ VỀ PHÍA GIA ĐÌNH

Rất nhiều gia đình có những vấn đề nghiêm trọng làm cho việc điều trị phục hồi con cái họ trở nên khó khăn. Cho nên việc cai ma túy không những chỉ đối với người nghiện, mà còn phải làm việc với tất cả những gì liên can tới người nghiện, trong đó bao gồm gia đình – môi trường rất quan trọng, có ảnh hưởng lớn đối với họ. Có những gia đình tương đối bình yên, không có nhiều vấn đề phức tạp, chức năng gia đình trọn vẹn, người nghiện có một nhân tố bảo vệ cho quá trình phục hồi của họ. Ngược lại, có những tình huống dưới đây, môi trường gia đình gây trở ngại lớn cho việc phục hồi của con em họ.

1. TRONG GIA ĐÌNH CÓ NHIỀU NGƯỜI SỬ DỤNG MA TÚY

Không ít trường hợp có 2 thành viên hoặc hơn trong gia đình có sử dụng ma túy cùng lúc. Trường hợp khác nữa là buôn bán ma túy. Tình trạng này đặt ra một vấn đề nặng nề cho người nghiện đang được điều trị trong Trung Tâm. Một ngày nào đó khi anh trở về, điều chắc chắn là anh ta sẽ tái nghiện.

Anh chị em ruột đang nghiện ma túy luôn luôn là trở ngại lớn cho việc phục hồi khi một người trong số họ quyết định ngưng sử dụng ma túy nhưng người kia thì không. Nhân viên tư vấn đối diện với trường hợp này phải:

  • Xem xét hoàn cảnh gia đình đối tượng cùng những ảnh hưởng của nó tới cơ hội phục hồi của đối tượng.
  • Lôi kéo sự tham gia của tất cả những  thành viên trong gia đình, nhất là những người  có nguy cơ cản trở quá trình phục hồi của đối tượng.
  • Khi tất cả những cố gắng đều không thể tạo ra được một môi trường thuận lợi cho một môi trường thuận lợi cho việc  phục hồi, nhân viên điều trị phải xét những giải pháp khác.

​2. CHA MẸ SỬ DỤNG MA TÚY

Khi một hay cả hai cha mẹ có sử dụng ma túy, đối tượng bị đẩy vào một hoàn cảnh vô cùng khó khăn. Anh ta đã mất đi một hoặc hai người quan trọng nhất trong cuộc đời – hai nhân tố bảo vệ anh ta. Còn phụ huynh nghiện thì đã đánh mất đi chức năng của mình. Tức là giúp đỡ về tình cảm cũng như về các giá trị đạo đức cho con mình, đồng thời cũng có thể mất đi nhiều chức năng khác nữa.

Trong tình huống đặc biệt nghiêm trọng này, nhân viên tư vấn cần phải:

  • Trao đổi với bậc cha mẹ rằng, nếu muốn con cái họ từ bỏ được ma túy, trước tiên họ phải ngưng sử  dụng.
  • Nếu tất cả các biện pháp can thiệp đều không thể tạo ra được một môi trường gia đình phù hợp cho đối tượng khi từ trung tâm ra về, nhân viên tư vấn phải cân nhắc những giải pháp khác như chung sống với họ hàng.

​3. GIA ĐÌNH KHÔNG HÒA THUẬN

Một người nghiện ma túy thường gây nên những tàn phá trong gia đình anh ta. Sau bao năm cố gắng chung sống và chịu đựng người nghiện, gia đình luôn luôn trong tình trạng bất hòa, xáo trộn nhiều mặt.

Nếu gia đình trước đó đã mất đi nhiều chức năng, tình trạng nghiện của đối tượng làm cho gia đình chở nên tồi tệ hơn.

Một gia đình bất hòa sẽ khó lòng nhất trí với Trung tâm trong việc cai nghiện cho đối tượng. Các thành viên quan trọng trong gia đình này thường có quyết định mâu thuẫn nhau làm cho chương trình điều trị bị phá hoại, săn sóc hậu cai không thực hiện được. Trong một số trường hợp khác nữa, người nghiện bị giằng co giữa các thế lực trong gia đình và họ thường lợi dụng khe hở này để  bỏ dở điều trị.

Với loại gia đình này, nhân viên tư vấn phải:

  • Thông qua người nghiện, nhân viên điều trị phải nắm được một cách sâu sắc động cơ  gây ra bất hòa trong gia đình họ. Vấn đề sau đó  là giúp đối tượng thoát ra khỏi những ảnh hưởng không lành mạnh từ phía gia đình không ổn định của anh ta.
  • Tìm ra người nào có ảnh hưởng lớn nhất trong gia đình này, hướng họ đến cộng tác với chương trình điều trị như một trợ thủ cho trung tâm.

​4. CHA MẸ LY THÂN, LY HÔN

Một số đối tượng đã nghiện ma túy vì những  vấn đề thuộc tình cảm không dễ chịu phát sinh từ một gia đình đỗ vỡ của cha mẹ anh ta.

Việc cha mẹ chia tay thường đi kèm với những bất hòa, xích mích. Một trong những hậu quả của gia đình tan vỡ là sự buông lỏng kỷ luật trong gia đình, khiến cho trẻ em vượt ra ngoài quản lý của cha mẹ. Có những trường hợp đối tượng đã sử dụng ma túy như một nổ lực nhằm cứu vãn cuộc hôn nhân của cha mẹ bằng cách nghiện để buộc cha mẹ thôi gấu ó nhau mà quan tâm đến anh  ta hơn.

Ảnh hưởng của việc gia đình tan vỡ đối với vấn đề lạm dụng ma túy của đối tượng cần phải được giải quyết trong quá trình điều trị. Nhân viên tư vấn cố gắng giúp đối tượng chấp nhận vấn đề. Ông ta phải trang bị cho đối tượng những tư tưởng ổn định khi rời Trung tâm về sống với một trong hai người.

5. GIA ĐÌNH QUÁ KHÓ KHĂN

Đa số người nghiện ma túy xuất thân từ những gia đình nghèo khó với những nguồn lực rất hạn chế, hoặc chính đối tượng đã là nguyên nhân những khó khăn trên. Hậu quả của sự nghèo khó là cha mẹ đối tượng không quan tâm đến các hoạt động điều trị cho con cái họ. Họ trao phó tất cả cho trung tâm và cũng không đầu tư thích đáng cho việc điều trị cai nghiện. Nhưng mặt khác, họ lại dễ mềm lòng trước những mánh khóe nhằm bỏ điều trị ngay từ đầu của con cái họ.

Nhân viên tư vấn phải:

  • Cố gắng gắn bó với gia đình người nghiện để lôi kéo sự tham gia của gia đình vào các hoạt động điều trị. Gia đình phải được thông báo đều đặn về tiến trình điều trị, những điều chưa đạt được cũng như những gì đạt được. Bằng cách này, chúng ta kích thích sự quan tâm của gia đình đối với con cái họ.
  • Đặc biệt giúp đỡ họ bằng những biện pháp thích đáng để họ có thể tuân thủ những yêu cầu của chương trình điều trị.

​6. THÁI ĐỘ TIÊU CỰC  CỦA CHA MẸ ĐỐI VỚI TÌNH TRẠNG NGHIỆN CỦA CON CÁI

Một số gia đình thường có những tình cảm và thái độ tiêu cực khi biết con cái họ đã nghiện ma túy. Họ có cảm giác bất lực, xấu hổ, thất bại và thiếu bổn phận. Từ đó họ tự ngăn cản không đi tìm kiếm giúp đỡ.

Những tình cảm và thái độ tiêu cực này nếu không được làm rõ, bậc cha mẹ này vẫn tiếp tục không có hành động nào thích hợp một khi con em họ đang được điều trị tại trung tâm.

Cũng giống như con em họ cần một thời gian để quá trình phục hồi tiến triển tốt, những vết thương lòng của bậc cha mẹ cũng cần tới thời gian để hàn  gắn. Công tác tư  vấn gia đình, việc tổ  chức những buổi sinh hoạt nhóm cho các bậc cha mẹ là những phương pháp trợ giúp có hiệu quả trong những trường hợp này.

PHÒNG NGỪA TÁI NGHIỆN

Kế hoạch phòng ngừa tái nghiện luôn được tính trước, khi đối tượng bắt đầu điều trị. Họ được học tập và trang bị nhiều kiến thức, những kỹ năng để vượt qua những yếu tố nguy cơ. Như vậy một  người nghiện sẽ sa ngã, sẽ tái nghiện nhiều lần trước khi thành công trong việc đoạt tuyệt với ma túy, cũng như một người tập đi xe đạp, leo lên lại té xuống, té mãi, té cho đến khi đi xe đạp được thì thôi.

 Việc tái nghiện không bao giờ là một hành vi nhất thời – Nó là một quá trình tư tưởng nhận thức mà hành vi cuối cùng là tái nghiện.

Vì vậy, việc phục hồi cho người nghiện ma túy không những là một qúa trình từ bỏ sử dụng ma túy, mà còn duy trì được trạng thái sống không có ma túy, kèm theo với những thay đổi nội tâm quan trọng cùng với những thay đổi quan hệ cá nhân. Một bệnh nhân không có hai phương diện thay đổi này thì tình trạng sống không có  ma túy chỉ kéo dài một thời gian ngắn ngủi, sau đó là sự tái nghiện.

Những thay đổi nói trên thì khác nhau giữa người này với người khác, song tựu chung thì chúng đều có liên quan đến một khía cạnh: thể chất, tâm lý, hành vi, quan hệ cá nhân, quan hệ gia đình, xã hội, nhận thức và kinh tế.

I. THẾ NÀO LÀ GỌI ĐÃ PHỤC HỒI THÀNH CÔNG?

Gọi là đã phục hồi thành công khi người nghiện  đã:

  • Từ bỏ được ma túy
  • Tự quản lý bản thân một cách tốt đẹp
  • Có một lối sống điều độ
  • Thực hiện thành công sự thay đổi nhận thức.

​II. GIAI ĐOẠN BÁO HIỆU TÁI NGHIỆN

Sa ngã là giai đoạn đầu tiên sử dụng rượu hay sử dụng chất ma túy ngay sau quá trình phục hồi. Giai đoạn sa ngã có thể đưa đến tái nghiện hoặc không. Một bệnh nhân khi rời khỏi trung tâm rất thường hay sa ngã, cho nên sa ngã mang tính chất ngẫu hứng, tò mò  muốn thử lại xem sao.

Sa ngã chưa phải là tái nghiện. Trước khi tái nghiện, bệnh nhân phải trải qua một quá trình tư tưởng được lộ qua những triệu chứng, những dấu hiệu đe dọa việc họ sẽ quay trở về với ma túy.

Khi có những cảm giác thèm thuốc, những suy nghĩ đấu tranh nội tâm của bệnh nhân khởi phát. Nếu bệnh nhân đầu hàng, hành vi tái nghiện sẽ xảy ra.

Cảm giác thềm thuốc luôn luôn phát động một quá trình nhận thức lệch lạc. Những nguyên nhân khách quan tạo cảm giác như sau:

Về hành vi, bệnh nhân có những biểu hiện:

  • Sử dụng những chất gây nghiện khác: rượu, thuốc ngủ…
  • Về căng thẳng tâm trí, bối rối do xung đột nội tâm
  • Hưng phấn hay trầm cảm qúa độ

​III. NHỮNG ĐỘNG CƠ CHÍNH GÂY TÁI NGHIỆN

Gồm hai nhóm đặc tính: nội tâm bệnh nhân và những quan hệ cá nhân của anh ta, hoặc cả hai cùng phối hợp

1. Về  cảm xúc: do hoàn cảnh sống, bệnh nhân nếu bị trầm cảm hay hưng phấn. Hai trạng thái này đều dễ dẫn tới tái nghiện

2. Về hành vi: 

  • Người nghiện rất thường thiếu kỹ năng xử lý tình huống. Họ dễ bị lôi  cuốn khi gặp bạn bè cũ, những tình huống nguy cơ.
  • Những thời dài nghiện ngập tạo cho bệnh nhân một phản xạ xấu: thấy ma túy là sử dụng (tính bốc đồng khi có cơ hội)

3. Về nhận thức:

  • Kém nhiệt tình học tập trong quá trình điều trị, không thu lượm được một kết qủa nào.
  • Không tin rằng mình có khả năng đoạn tuyệt với ma túy
  • Có tổn thương bộ óc, không còn khả năng tiếp thu điều trị

​4. Về môi trường và quan hệ cá nhân

  • Thiếu hỗ trợ của gia đình và xã hội
  • Bị áp lực của bạn bè xấu, phe nhóm
  • Thất nghiệp hay lâm vào hoàn cảnh  khó khăn
  • Để thì giờ nhàn rỗi quá nhiều

​5. Về mặt sinh lý học

  • Không thắng được cảm giác thèm thuốc
  • Bất thường trong hội chứng cai: kéo quá dài 
  • Có bệnh đau mãn tính

​6. Về mặt tâm thần, tâm linh

  • Có mặc cảm tội lỗi, xấu hổ âm thầm trong nội tâm không xóa được
  • Cảm giác trống rỗng, cuộc sống chẳng có mục đích ý nghĩa gì

​7. Về trung tâm cai nghiện

  • Nhân viên điều trị đã gây ra ấn tượng xấu vào tâm trí bệnh nhân
  • Kế hoạch điều trị không thích ứng
  • Kế hoạch theo dõi hậu cai chưa đầy đủ

​IV. BIỆN PHÁP CHỐNG TÁI NGHIỆN

1. Mục tiêu.

  • Trang bị cho người nghiện kỹ năng vượt qua cảm giác thèm thuốc, ví dụ bỏ qua không chú ý đến cảm giác của bản thân, giữ tâm hồn vững vàng triệt tiêu cảm xúc, luyện tập hô hấp hít thở sâu đều đặn bằng ý chí, các phương pháp thiền
  • Trang bị cho người nghiện khả năng xử lý tình huống nguy cơ cao, ví dụ tham gia vui chơi giả trí, văn hóa thể thao, làm những việc hữu ích như giúp đỡ bạn nghiện, sống cuộc sống điều độ không cần tới bất kỳ một chất gây nghiện nào, nhất là rượu.
  • Chuẩn bị tinh thần để đối phó với tình huống có thể bị sa ngã khi có thời cơ như đi phép, thấy có ma túy trong tầm tay.

2. Kế hoạch.

  1.  Nhân viên điều trị phải tìm ra yếu tố nguy cơ của bệnh nhân và giúp họ nhận thức được chúng, học tập khả năng vượt qua chúng.
  2. Giúp cho bệnh nhân hiểu rằng tái nghiện là một quá trình xảy ra trong nội tâm bệnh nhân và kết thúc là một hành vi tái sử dụng.
  3. Giúp bệnh nhân hiểu được tại sao có cảm giác thèm thuốc trong tư tưởng và học tập để vượt qua cảm giác ấy
  4. Giúp bệnh nhân hiểu và có thể đương đầu với áp lực của bạn bè cũ phe nhóm xấu muốn họ tái nghiện
  5. Giúp bệnh nhân một tổ chức hỗ trợ
  6. Nếu bệnh nhân bị vui hay buồn  quá  độ, giúp họ nhận ra tình trạng bất thường ấy để tìm cách vượt qua
  7. Nếu  bệnh nhân có những nhận thức sai lệch, giúp họ cách xử lý chúng
  8. Giúp bệnh nhân hướng tới một lối sống điều độ, cân bằng
  9. Giúp bệnh nhân tự xây dựng cho mình những biện pháp phòng chống sa ngã và tái nghiện

​TỔ CHỨC CAI NGHIỆN MA TÚY TẠI CỘNG ĐỒNG

Các Trung tâm sau một thời gian điều trị – phục hồi cho các đối tượng, sẽ trả họ về tại cộng đồng, với gia đình họ cư ngụ và sinh sống. Chính tại nơi đây họ cần được giám sát và tiếp tục điều trị để cũng cố những kết quả đã đạt được sau thời gian ở Trung tâm.

Mặt khác tại cộng đồng địa phương như tỉnh, quận, xã…. cũng còn những đối tượng nghiện ma túy chưa được điều trị trong các Trung tâm không còn đủ chỗ tiếp nhận. Việc tổ chức cai nghiện tại  cộng đồng trở nên  bức thiết hơn bao giờ hết

Các cơ sở cai nghiện tại cộng đồng có thể điều trị cho các đối tượng ngay từ đầu, đồng thời tiếp tục củng cố phục hồi  cho các đối tượng từ Trung tâm trở về hội nhập. Giải pháp cai nghiện ma túy dựa vào cộng đồng đòi hỏi sự tham gia tích cực của tất cả các cư dân trong địa bàn sinh sống. Chỉ khi nào có sự chủ động thực hiện kế hoạch với tất cả tiềm năng của mình, việc giảm cầu ma túy trong từng cộng đồng mới có thể  có kết quả.

Việc cai nghiện tại cộng đồng sẽ rất thuận lợi vì nhiều lý do. Đối tượng nghiện luôn có sự gần gũi, hỗ trợ chắc chắn đáng tin cậy của các nhân viên cùng địa phương cư ngụ với mình, cũng như nơi đoàn thể các đối tượng nghiện tồn tại. Thêm nữa, người nghiện vẫn còn được ở trong gia đình, vừa điều trị lại vẫn được tiếp tục đến trường học hoặc công việc sinh sống nào khác. Các nhân viên điều trị cho họ cũng dễ tiến hành các biệp pháp cần thiết. Với môi trường gần gũi, được giám sát chặt chẽ . Những sai phạm của đối tượng về nguyên tắc của cuộc sống trong khi anh ta thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của mình, chắc chắn sẽ được giảm thiểu rất nhiều.

Một mô hình cai nghiện ma túy dựa vào cộng đồng như vậy sẽ phải được tổ chức như thế nào sao cho người nghiện có một chỗ dựa vững chắc gần nơi anh ta cư ngụ  trong lúc anh ta được giúp đỡ từ  bỏ ma túy một cách hiệu quả. Và một khi anh ta đã thữ  sự thoát ra được, anh ta sẽ có nhiều cơ hội giúp đỡ những người đồng cảnh ngộ như anh ta trước đây mà chưa được điều trị. Cộng đồng  sẽ phải biến thành một môi trường cho những người nghiện sống không lệ thuộc vào ma túy được tiếp tục nâng cao nhận thức, gọt dũa hành vi, đảm bảo có những bước tiến bộ trong  quá trình phục hồi của mình.

Trước tiên phải có một cộng đồng mục tiêu được chọn. Các cấp chính quyền lãnh đạo của cộng đồng đó, các ngành y tế, giáo dục, công an, xã hội, cùng các nhân vật có uy tín, các người được cộng đồng tín nhiệm sẽ họp lại để thành lập Ban Chỉ Đạo và Quản Lý Dự Án. Thông quan nhóm kế hoạch, nhiệm vụ của Ban Chỉ Đạo như sau:

  1. Thu thập thông tin, dữ kiện về:
  • Số cư dân
  • Tập quán, tôn giáo, trình độ văn hóa
  • Kinh tế các thành phần cư dân
  • Đánh giá nguồn lực, tiềm năng và cơ sở hạ tầng
  • Đánh giá tình hình ma túy tại cộng đồng
  • Các số liệu thu thập được phải chính xác và chi tiết bằng những phiếu điều tra trên toàn bộ cư dân, hoặc ít ra cũng qua phỏng vấn một mẫu cư dân đại diện về các lĩnh vực sau:

​         + Số người nghiện

         + Các loại ma túy sử dụng

         + Số người vi phạm luật pháp do sử dụng hoặc bán ma túy

         + Số học sinh bỏ học vì nghiện

         +  Các tụ điểm "đen"

      ​2. Kiến nghị.

 Sau khi tổng hợp các số liệu Ban Chỉ Đạo và Quản Lý Dự Án sẽ đưa ra những khuyến nghị về biện pháp can thiệp cụ thể dựa trên kết quả đánh giá. Ban Chỉ Đạo và Quản Lý Dự Án cũng đảm bảo nhận việc xây dựng một kế hoạch giảm cầu ma túy tại địa phương, đề ra mục tiêu và hoạt động cụ thể cũng như kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị, tư vấn kỹ thuật cùng tiến bộ thực hiện, kế hoạch giám sát và đánh giá thông qua nhóm kế hoạch.

Tổ chức cai nghiện dựa vào cộng đồng sẽ là cửa ngõ của sự thành công nếu như Ban Chỉ Đạo và Quản Lý Dự Án:

  • Phản ánh được tính tập thể trong việc đưa ra quyết định
  • Giúp đỡ cộng đồng xây dựng mô hình cai cho chính họ
  • Giúp cộng đồng phân tích và làm rõ vấn đề của họ để làm tốt hơn trong việc thực hiện chiến lược của mình
  • Giúp cho cộng đồng lấy lại tự tin khi đang bối rối trước cầu ma túy đang tăng cao.

​I. CÁC MÔ HÌNH

  1. Mô hình 1: Thuần túy cộng đồng

preview

Chú ý khắc phục:

  1. Thiếu bộ phận chuyên trách hành chính tập trung
  2. Duy trì mọi hoạt động bằng vốn tự lực, sự hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật từ bên ngoài có thể rất ít
  3. Nếu địa phương có trồng cây anh túc, sẽ có mâu thuẫn vì va chạm quyền lợi

​2. Mô hình 2: Thuần túy địa phương.

preview

Chú ý khắc phục:

  1. Khả năng lãnh đạo của người  điều phối chương trình (Địa phương) cần giỏi về điều hành, giao tiếp, chuyên khoa, kinh nghiệm quản lý. Tuy khả năng cao nhưng lương lại thấp
  2. Duy trì các thành viên cùng kết hợp trong điều kiện tài chính như vậy không phải là điều dễ dàng
  3. Rõ ràng cần sự tài trợ của một tổ chức nhân đạo
  4. Lương kém sẽ dễ dàng thay đổi nhân sự, điều này đe dọa chất lượng công tác

​3. Mô hình 3: Kết hợp giữa Trung Tâm và cộng đồng

 

preview

Chú ý khăc phục:

  1. Cần một quy trình thu thập dữ kiện và chẩn đoán ban đầu đầy đủ và hiệu quả để xác định phương thức điều trị thích hợp cho mỗi bệnh nhân.
  2. Nhưng khi bệnh nhân trả tiền những tiêu chuẩn phân loại sẽ bị rối loạn
  3. Việc duy trì đều đặn chất lượng hoạt động cả hai bên đòi hỏi phải có kiểm tra chặt chẽ của nhân viên có nghiệp vụ cao
  4. Việc duy trì một đội ngũ đầy đủ, đa năng giỏi nghiệm vụ cho cả hai nơi rất khó chu toàn: người ta thích ở cộng đồng hơn, lý do gần gia đình
  5. Sự hoạt động của cả hai nơi đều lệ thuộc vào tài chính của Trung Tâm điều phối.

 

 

 

CÔNG TÁC QUẢN LÝ – ĐIỀU TRỊ – GIÁO DỤC TRONG MÔI TRƯỜNG CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU​

CÔNG TÁC QUẢN LÝ – ĐIỀU TRỊ – GIÁO DỤC

TRONG MÔI TRƯỜNG CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU

 

Bs.Nguyễn Hữu Khánh Duy

Giám Đốc Trung tâm Điều dưỡng & Cai nghiện ma túy Thanh Đa

 

A. RỐI LOẠN TÂM – SINH LÝ TRÊN NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY:

          Ma túy là những chất tác động tâm thần và gây những tổn thương trong não người nghiện. Những tổn thương này có thể tồn tại rất lâu hoặc vĩnh viễn sau khi ngưng sử dụng ma túy.

         Người nghiện ma túy bị suy giảm khả năng xét đoán, khả năng xử lý thông tin, mất khả năng tự chủ, khả năng hiểu biết để hướng đến một cuộc sống lành mạnh. Người nghiện hình thành những thói quen xấu sau một thời gian sử dụng ma túy. Liệu pháp điều trị – phục hồi là một vấn đề hết sức khó khăn vì người bệnh bị những rối nhiễu tâm sinh lý thực tổn – lú lẫn tâm trí – phản ứng loạn tâm thần – rối loạn sinh hoạt – trạng thái hưng trầm nhược – rối loạn hành vi – rối loạn tập trung – biểu hiện lo hãi – thiếu tự tin, kết hợp với các rối loạn nhân cách – rối loạn tâm thần và đặc biệt là hội chứng hồi tưởng dẫn đến thèm nhớ ma túy với tất cả sự khoái cảm của nó … Đa số người nghiện ma túy đều được xếp vào những người có vấn đề tâm thần.

Sự rối loạn trên nguyên nhân từ nhiều lý do khác nhau: Tâm – sinh lý người nghiện, hoàn cảnh cá nhân, ảnh hưởng do gia đình và tác động của xã hội. Việc sử dụng, lạm dụng rồi lệ thuộc ma tuý dẫn đến tình trạng nghiện là triệu chứng cuối cùng của một quá trình dài đầy rối loạn trong một bối cảnh đa phương diệndo đó, việc điều trị phục hồi người nghiện ma tuý phải là một phương pháp điều trị toàn diện bao gồm nhiều lãnh vực Y tế – Tâm lý – Xã hội… Sau khi cai, nếu những nhân tố tác động thúc đẩy đối tượng tìm đến ma tuý vẫn chưa được giải quyết, hầu hết những người nghiện sẽ tái nghiện.

Vì những l‎ý do trên, nên trừ một số trường hợp bệnh nhẹ, hầu hết những người nghiện ma túy đều phải được điều trị tập trung một thời gian để được giáo dục, giúp đỡ, rèn luyện, phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách; trang bị bản lĩnh và kỹ năng sống trước khi trở về tiếp tục điều trị tại cộng đồng.

Để có được một môi trường điều trị tập trung dài hạn có hiệu quả, qua thực tiễn và l‎ý luận người ta nhận thấy rằng MÔ HÌNH TỰ GIÚP ĐỠ THEO CÁC LIỆU PHÁP XÃ HỘI là  khá thành công – có hiệu quả nhất.

Nếu được điều trị và phục hồi đúng cách, người nghiện sau khi cai nghiện sẽ bước vào cuộc sống với những thói quen tốt, những nhận thức đúng đắn – biết tự trọng và tự tin hơn để với sự giúp đỡ của cộng đồng sẽ có thể từng bước, bước đi chính trên đôi chân của mình.

B. KHÁI NIỆM VỀ MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU – CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU:

I. MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU:

Môi trường trị liệu là sử dụng một cách khoa học môi trường nhằm mục đích trị liệu, tạo nên những thay đổi trong nhân cách của bệnh nhân. Danh từ môi trường trị liệu lần đầu tiên được sử dụng bởi nhà tâm thần học BETTLEHEIM và SYLVERTER vào cuối những năm 1930 đầu những năm 1940 để miêu tả một môi trường kế hoạch khoa học nhằm mục đích thay đổi nhân cách của bệnh nhân.

Khi một bênh nhân bị căng thẳng, bức xúc, mất ngủ – người thầy thuốc khuyên bệnh nhân hãy nghỉ ngơi ở những nơi yên tĩnh. Bạn có thể lên cao nguyên hoặc về vùng biển một thời gian. Nơi yên tĩnh, cao nguyên, biển chính là thuốc để điều trị các chứng căng thẳng, bức xúc, mất ngủ của bạn. Sử dụng môi trường để điều trị bệnh được gọi là môi trường trị liệu.

       Những khái niệm về môi trường trị liệu: Những cuộc nghiên cứu đã thực hiện đầu tiên về môi trường trị liệu hầu hết sử dụng những lý thuyết về tâm thần hay về tâm lý bệnh nhân để xác định loại môi trường nào là có tính cách trị liệu tốt nhất. Những nổ lực được thực hiện để tìm kiếm một môi trường tương tác giữa các cá nhân, được chi tiết hoá kỷ lưỡngđặt nền tảng trên những nhu cầu tâm năng của một bệnh nhân đã được chẩn đoán kỹ càng.

        + Năm 1944 STANTON và SCHWARTZ cho rằng môi trường có thể là cách điều trị chủ yếu, cũng như có vai trò ảnh hưởng nâng đỡ hay bổ túc cho các hình thức điều trị khác.

        + Một tác giả khác là CUWDELL đã miêu tả tác động của các giá trị văn hoá, những chuẩn mực và phong tục của môi trường có thể ảnh hưởng lên sự điều trị của bệnh nhân.

        + Năm 1958 các tác giả FREEMAN, CAMERON đã cho rằng có mối liên hệ giữa tâm lý cá nhân và những đặc điểm của môi trường .

        + Năm 1962 CUMMING cho rằng môi trường có thể mang lại những thay đổi đặc thù trong hành vi của bệnh nhân. Các môi trường trị liệu có thể khác nhau tùy theo cách tổ chức, nhưng căn bản đều có những điểm chung trong các phương pháp trị liệu đối với các bệnh nhân điều trị nội trú.

Môi trường trị liệu nhận định rằng:

a/ Bệnh nhân có những sức mạnh và một phần nhân cách không bị xung đột. Những sức mạnh này được phát huy tối ưu bằng cách thiết lập một môi trường nội trú khoa học.

b/ Bệnh nhân có những khả năng to lớn trong việc tự điều chỉnh chính mình, trên những bệnh nhân khác và mức độ nào đó có ảnh hưởng trên cơ cấu tổ chức của bệnh viện.

c/  Tất cả các nhân viên của trung tâm có một khả năng rất lớn để tác động đến việc trị liệu cho người bệnh.

II. CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU:

        Theo CRACK, khác với môi trường trị liệucộng đồng trị liệu là một loại môi trường đặc biệt trong đó toàn cơ cấu xã hội của đơn vị điều trị đều tham gia tiến trình giúp đỡ bệnh nhân.

Theo JONES, môi trường cộng đồng trị liệu được phân biệt với các chương trình trị liệu khác là do chương trình này huy động toàn bộ những nguồn nhân lực là bệnh nhân – thân nhân bệnh nhân và toàn bộ tập thể bệnh nhân và nhân viên đều tập trung vào mục đích điều trị. Như vậy,bệnh nhân cũng có một vị trí trong  chương trình điều trị này. Trong chương trình cộng đồng trị liệu, nhân viên phải khuyến khích bệnh nhân tích cực tham gia trong kế hoạch săn sóc cho chính mình. Đây là một phương pháp rất khác với vai trò thụ động chữa trị trong bệnh viện cổ điển, quy ước trong đó chỉ có vai trò bác sĩ và bệnh nhân. JONES cho rằng điểm đặc biệt của chương trình này là được đặt trên sự giao lưu, giao tiếp tự do giữa bệnh nhân với nhân viên và giữa các bệnh nhân với nhauMục đích của sự giao lưu tự do này là tìm ra được hành vi nào, ‎ý kiến nào, nhận xét nào, những vai trò nào  thích hợp để thay đổi nhận thứcthái độ,  lòng tin của bệnh nhân và những vấn đề nào không thích hợp cho điều trị (anti therapeutic).

Như vậy, cộng đồng trị liệu có tính chất dân chủtự do bàn bạc, thảo luận khác với phương pháp thường dùng là đặt vai trò trị liệu của người bác sĩ lên trên bệnh nhân và cách điều trị phục hồi tuân thủ những quy định theo thứ lớp bắt buộc.

Trong mô hình cộng đồng trị liệu, môi trường thiết yếu là môi trường linh hoạt, những người tham gia không có vai trò chuyên biệt rõ ràng, những hoạt động của bệnh nhân được cá thể hóa rất cao. Một điều ngoại lệ đặc biệt là MỖI NGÀY PHẢI CÓ MỘT BUỔI HỌP CỘNG ĐỒNG: tất cả nhân viên và những bệnh nhân được khuyến khích phải hội họptrách nhiệm tập thể được nhấn mạnh, những người tham dự được rút tỉa kinh nghiệm, học tập, sửa sai những hành vi không tốt.

Vai trò chính của nhân viên là giúp đỡ bệnh nhân đạt được những thấu hiểu mới, những sáng kiến, hành vi mới. JONES tin rằng một đơn vị điều trị lý tưởng cần phải được tự do điều hành trong cách nào tốt nhất, với hướng tiếp cận riêng của mình. Tuy nhiên, JONES cũng đưa ra những yếu tố mang tính đặc trưng của cộng đồng trị liệu: đó là hội họp cộng đồng hàng ngày như là một phương thức để thảo luận đời sống hàng ngày của Trung Tâm nhằm đóng góp, giải quyết các thắc mắc, các yêu cầu của các bệnh nhân.

Một yếu tố nữa của cộng đồng trị liệu là quản lý bệnh nhânMục đích của sự quản lý bệnh nhân là để bàn bạcthảo luận một cách chi tiết, cụ thể vềtrách nhiệm và quyền lợi của từng bệnh nhân như: luân phiên dọn dẹp và làm vệ sinh các phòng. Tất cả mọi quyết định cuối cùng phải được thống nhất lại trong các phiên họp cộng đồng. Jones cho rằng sinh hoạt nhóm nhằm xem xétkiểm điểm lại hoạt động trong ngày là rất cần thiết nhằm uốn nắn, giáo dục bệnh nhân. Trong buổi họp, các thành viên Trung Tâm phải bàn bạc những đáp ứng riêng,  mong đợi riêng, thành kiến riêng của mọi người. Một đặc trưng quan trọng khác của môi trường cộng đồng trị liệu là bệnh nhân có những cơ hội học cách sống sinh hoạt trong môi trường tập thể đáp ứng nhu cầu đời sống hàng ngày. Theo JONES – phản hồi lại, là một trong những khái niệm căn bản, quan trọng nhất của cộng đồng trị liệu nhằm đạt được sự tiến bộ của cộng đồngNhân viên của Trung tâm phải nhạy cảm trong vai trò của mình – phải biết phản hồi lại những thông tin trong cộng đồng lên cấp trên. Ngày nay những khái niệm sơ khởi của JONES về cộng đồng trị liệu đã được nhìn nhận tuy nhiên được thực hiện dưới nhiều hình thức, phương pháp khác nhau nhưng những nét cơ bản vẫn không thay đổi.

Nguyên tắc của cộng đồng trị liệu là có sự liên quan lẫn nhau trong môi trường nội trútác động đến hành vi và cảm xúc của mọi người. Năng động nhóm là động lực thúc đẩy tinh thần trách nhiệm và phục hồi – khuyến khích sự phát triểnSự điều hành toàn diện môi trường cộng đồng rất có hiệu quả.

Sức mạnh của năng động nhóm (dynamic group) ảnh hưởng đến việc điều chỉnh hành vi và củng cố các quy tắc của cộng đồng. Ngày nay, trong môi trường điều trị cộng đồng, sức mạnh ấy không còn nằm ở cá nhân hay một nhóm nhỏ nữa mà nó là sức mạnh của một tập thể.

III. MÔ HÌNH TỰ GIÚP ĐỠ THEO CÁC LIỆU PHÁP XÃ HỘI (SELF – HELP SOCIAL LEARNING TREATMENT MODEL – SSLTM):

Từ những khái niệm của CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU, mô hình TỰ GIÚP ĐỠ THEO CÁC LIỆU PHÁP XÃ HỘI đã phát triển các mô hình sau đây:

1. HỘI NHỮNG NGƯỜI NGHIỆN RƯỢU ẨN DANH (AA) – NHỮNG NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY ẨN DANH (NA):

Năm 1935– Nhóm những người nghiện rượu ẩn danh (AL) được thành lập. Quan điểm của nhóm là cá nhân tự nhìn nhận bản thân, thừa nhận những khiếm khuyết của mình và sửa đổi.

  • Hội AA (Alcoholics Annymous) HIỆP HỘI NHỮNG NGƯỜI NGHIỆN RƯỢU ẨN DANH – ra đời năm 1935, tại Akron- Ohio- Mỹ, do ông Bill Wilson và bác sĩ Bob Smith – vốn là hai người nghiện rượu, đã tự cai. Hai ông đã đưa ra 12 nguyên tắc điều trị, đồng thời lập ra hội AA. Hội khởi đầu có 3 thành viên.
  • Năm 1953, hội AA cho phép hội NA (Narcotics Anonymous) HỘI NHỮNG NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY ẨN DANH được phép sử dụng các bước của chương trình này vào việc cai nghiện ma túy.

Nghiện rượu và nghiện ma túy có nét chung là cùng mục đích hồi phục và từ bỏ nghiện, đồng thời hình thành mối quan hệ đồng cảm giữa những người đang cùng cai nghiện.

  • Hơn 70 năm qua, chương trình 12 bước đã được áp dụng tại nhiều nước trên thế giới, dựa trên căn bản có tính truyền thống, và được bổ sung bởi nhiều bài viết chọn lọc của những người cai nghiện. Trụ sở trung ương Hội đặt tại New York và Châu Âu.

Phương pháp chính của Hội là chương trình 12 bước và một bộ sách giáo khoa kèm theo (Basic Text).  Phương pháp nhấn mạnh đặc biệt vai trò của quy trình thảo luận – thu hoạch – giải đáp.

Giáo viên hướng dẫn và nhóm trợ lý đều là người cai nghiện thành côngxuất thân từ Trường Cai Nghiện và trở thành chuyên viên – một người thầy thực sự của chuyên ngành ma túy.

Việc học tập được tổ chức tại Trung Tâm Cai nghiện Ma Túy, chương trình bao gồm giai đoạn cắt cơn, giai đoạn học tập và rèn luyện theo chương trình 12 bước, kế tiếp là giai đoạn “bán thử thách và giai đoạn thử thách” tại cộng đồng. Thời gian tổng quát là 6 tháng, có thể kéo dài một năm hay hơn nữa, tùy theo từng trường hợp.

Sau khi tái hòa nhập cộng đồng, mỗi người đều là hội viên của NA và giữ sinh hoạt với Hội, thân thiết, lâu dài để đem lại sự bền vững cho mình.

Tại Trung Tâm, học viên cũng được hưởng các dịch vụ sinh hoạt như: thể dục thể thao – vui chơi giải trí – nâng cao văn hóa, kỹ năng sống – các loại lao động trị liệu, hướng nghiệp.

NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH HỌC TẬP 12 BƯỚC:

Chương trình 12 bước có nguồn gốc như đã trình bày trên, chương trình được xây dựng trên nền tảng Tâm lý nhiều mặt, bao gồm nhiều ngã rẽ của tâm lý người nghiện, như sự phản ứng, thối động, che dấu, biện hộ, chối bỏ, không thừa nhận, buông xuôi, mất tự tin, hưng phấn giả tạo… qua từng giai đoạn, do tính chất căn bệnh gây nên, cộng với quán tính của hành vi tiêu cực lâu dài trong quá khứ. Chương trình do chính những người nghiện đã phục hồi xây dựng nên và được tiếp tục bổ sung. Chương trình 12 bước bao gồm:

Bước 1: "Chúng ta chấp nhận rằng mình bất lực về sự nghiện ngập của chúng ta và cuộc sống của chúng ta trở nên không kiểm soát được"

Bước 2: "Chúng ta tin rằng có một quyền năng mạnh hơn bản thân mình có thể giúp chúng ta phục hồi lại sự bình thường"

Bước 3: "Chúng ta quyết định để ‎ý chí và cuộc sống của chúng ta cho sự chăm sóc của Thiên Chúa vì chúng ta hiểu Người"

Bước 4: "Chúng ta đã đánh giá đạo đức của chúng ta một cách chân thật và can đảm"

Bước 5: "Chúng ta đã thú nhận với Đấng tối cao, với chính chúng ta, và với người khác về thực chất những hành động sai lầm của chúng ta"

Bước 6: "Chúng ta hoàn toàn để cho Đấng tối cao xóa bỏ đi tất cả những khuyết điểm của tính cách"

Bước 7: "Chúng ta khiêm tốn yêu cầu Đấng tối cao xóa bỏ những điều thiếu sót của chúng ta"

Bước 8: "Chúng ta viết ra danh sách những người mà chúng ta đã làm hại và chúng ta sẵn sàng sửa chữa tất cả"

Bước 9: "Chúng ta trực tiếp đền bù cho họ bất cứ nơi nào chúng ta có thể, ngoại trừ trường hợp nếu chúng ta làm điều đó sẽ tổn thương họ hoặc những người khác"

Bước 10: "Chúng ta tiếp tục làm bảng kiểm tra cá nhân, để khi nào chúng ta sai, chúng ta thừa nhận và sửa chữa ngay những sai lầm ấy"

Bước 11: "Chúng ta đã tìm kiếm thông qua cầu nguyện và thiền định để nâng cao nhận thức của chúng ta, tiếp cận với Chúa vì khi chúng ta hiểu được Người. Cầu nguyện chỉ là biểu hiện sự sẵn lòng của Người cho chúng ta và sức mạnh để làm điều đó"

Bước 12: "Sau khi đạt được sự nhận thức về tâm linh, kết quả của các bước mà ta đã cố gắng thực hiện. Chúng ta cố gắng mang thông điệp này đến cho những người nghiện ma túy khác và để thực hành các nguyên tắc này trong mọi công việc của chúng ta"

2. MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG OXFORD: do Frank Buchman thành lập và là người có ảnh hưởng lớn trong việc xây dựng các giá trị nhân văn. Mục đích chủ yếu của nhóm Oxford là cai nghiện Rượu – Hoạt động của nhóm bao gồm những nội dung như cùng chia sẻ thông tin, hướng dẫn, cam kết sự thay đổi và phục hồi. Chúng ta thấy được nhiều điểm tương đồng giữa nhóm Oxford với Cộng đồng trị liệu. Nhóm Oxford có những nổ lực trong việc truyền đạt các giá trị nhân văn tới các thành viên của nhóm. Trong số các giá trị này có 4 yếu tố cơ bản – đó là:

 

  • Tính trung thực tuyệt đối
  • Tính trong sạch tuyệt đối
  • Không ích kỷ
  • Yêu thương tuyệt đối

3. MÔ HÌNH SYNANON:

Được thành lập vào năm 1958 tại California bởi một người đã từng nghiện rượu là Charles E. Dederich, sự phát triển của Synanon ban đầu được xuất phát từ quan điểm của AA. Do chương trình thích ứng với các trường hợp cai nghiện ma túy, chương trình Synanon và AA dần trở nên tách biệt và dẫn đến sự khác nhau hệ tư tưởng cũng như mối liên quan.

Mô hình Cộng đồng trị liệu của Synanon đang phát triển thành nhiều chương trình ở Mỹ và khắp thế giới gồm chín yếu tố cơ bản. Các yếu tố này dựa vào l‎ý thuyết học tập xã hộithông qua sử dụng cộng đồng để khuyến khích sự thay đổi về hành vi và thái độChín yếu tố đó là:

  • Tham gia tích cựcNgười nghiện tham gia chủ động trong các hoạt động trong cộng đồng chữa bệnh là cần thiết để thay đổi, trưởng thành và phát triển. Điều này có nghĩa là khi người nghiện tham gia vào các hoạt động của cộng đồng, sẽ tăng cường mối liên kết giữa các thành viên và giữa thành viên với chương trình. Các thành viên được yêu cầu đóng góp cho cộng đồng. Sự đóng góp này được thực hiện dựa trên khả năng của từng cá nhân cũng như giá trị của mỗi nhiệm vụ mà họ thực hiện đối với cộng đồng.
  • Phản hồi của thành viên: Những thành viên nhóm phải đóng góp ‎ý kiến lẫn nhau một cách chân thật. Thông tin phản hồi của các thành viên được thực hiện một cách chính thức thông qua hoạt động của nhóm và các buổi trị liệu, hoặc phản hồi không chính thức như giao tiếp cá nhânMục đích của việc phản hồi là nhận thức về hành vi, suy nghĩ ‎ ý tưởng. Phản hồi bao gồm cả sự phản hồi tích cực và phê bình có tính xây dựng.
  • Noi gươngTất cả các cán bộ và thành viên cấp cao của cộng đồng phải thể hiện tốt để làm gương cho những thành viên khác như một phương tiện giáo dục. Đây là việc giáo dục thông qua hành động. Các thành viên của cộng đồng điều trị “không chỉ nói mà phải làm”.
  • Tập thể hướng dẫn cá nhân thay đổi: Nhấn mạnh của nhóm hoặc tác động của cộng đồng giúp cá nhân thay đổi. Tất cả các yếu tố trong mô hình SSLTM khuyến khích và hỗ trợ cho cá nhân trưởng thành và phát triển.
  • Các giá trị và chuẩn mực chung: Cộng đồng xây dựng các quy tắc và giá trị chung để tạo ra áp lực của nhóm và của cộng đồng, để giúp đỡ từng thành viên của cộng đồng tuân thủ và dần tin vào những hành vi và quan niệm tích cực“Triết lý TC” và “Những quy tắc bất thành văn” là những nội dung để thực hiện các giá trị và chuẩn mực.
  • Kết cấu và hệ thống: Để thực hiện các khái niệm và triết lý của SSLTM, các hoạt động cần được tổ chức có kết cấu và hệ thống. Kế hoạch hoạt động hàng ngày, gặp mặt, nội quy, quy định, cấu trúc thứ bậc, công việc, mệnh lệnh nhóm, các giai đoạn điều trị là tất cả những nội dung để đạt được mục đích và mục tiêu của cộng đồng.
  • Giao tiếp mở:  Hoạt động giao tiếp được tiến hành theo chiều ngang và chiều dọc. Cộng đồng duy trì sự thống nhất thông qua việc khuyến khích các thành viên bộc lộ cảm xúc và ý tưởng.
  • Mối quan hệ cá nhân và nhóm: SSLTM tạo ra một mạng lưới quan hệ, tạo điều kiện cho các học viên có nhiều cơ hội để hiểu rõ hơn về hành vi, cảm xúc và ý tưởng. Mối quan hệ với nhân viên, nhóm người được chữa trị, nhóm tĩnh, cộng đồng sẽ giúp các cá nhân đảm nhận trách nhiệm, tăng cường hiểu biết và chấp nhận những thiếu sót của mình và làm cam kết thay đổi.
  • Thuật ngữ chuyên dùng: Thuật ngữ sử dụng bởi SSLTM là cách giải thích đơn giản về quá trình và môi trường hoạt động. Đó là ngôn ngữ chung tạo ra sự gắn kết giữa các thành viên trong cộng đồng.

4. TỔ CHỨC DAYTOP QUỐC TẾ:

Được bắt đầu đưa vào điều trị từ năm 1963 và hiện có mặt trên 60 quốc gia trên thế giới.

Tổ chức Daytop đã hỗ trợ rất nhiều người nghiện và thanh thiếu niên từ bỏ lệ thuộc vào ma túy và xây dựng một cuộc sống lành mạnh và có ích cho xã hội. Tình trạng sử dụng ma túy và nghiện ma túy diễn ra ở hầu khắp các nước trên thế giới và có tác động lớn đến các thành viên, gia đình, cộng đồng và toàn thể xã hội.

Tổ chức DAYTOP Quốc tế được thành lập để cung cấp chương trình tập huấn, hỗ trợ kỹ thuật và giúp đỡ các quốc gia đối phó với sự gia tăng của tình trạng sử dụng ma túy.

Chương trình tập huấn Daytop dựa trên cơ sở mô hình trị liệu cộng đồng truyền thống lâu dài, mô hình này được tạo thành từ 9 yếu tố cơ bản:

  1. Sự tham gia tích cực của các thành viên/ người cai nghiện trong cộng đồng,
  2. Thu nhận ‎ý kiến từng thành viên cộng đồng,
  3. Xây dựng mô hình trách nhiệm,
  4. Các mô hình hướng dẫn từng thành viên cộng đồng thay đổi,
  5. Chia sẻ các chuẩn mực và giá trị chung,
  6. Cơ cấu và hệ thống,
  7. Giao tiếp mở,
  8. Quan hệ cá nhân và quan hệ nhóm, và
  9. Thuật ngữ chuyên dùng (được áp dụng trong cộng đồng TC).

Tất cả những yếu tố này tạo nên một phương pháp cộng đồng TC, dựa trên phương pháp tự giúp đỡ và học tập xã hội. Chính cộng đồng thúc đẩy những thay đổi về thái độ, hành vi của thành viên. Thái độ, kỹ năng và trách nhiệm mà người vào cai nghiện học tập từ cộng đồng không chỉ cần thiết để giúp họ sống tốt trong môi trường cộng đồng đó mà còn là yếu tố quan trọng để họ có thể tồn tại khi trở về xã hội.

Mô hình tập huấn này được hình thành trên hoạt động thực tế của các Cộng đồng trị liệu Hoa Kỳ (TCA). Những cộng đồng này đã đào tạo cán bộ tư vấn có năng lực phù hợp để triển khai hiệu quả mô hình này. Năng lực của cán bộ tư vấn bao gồm:

  1. Phát triển các kỹ năng sử dụng các công cụ thu thập dữ liệu và các công cụ đánh giá,
  2. Tăng cường động lực phát triển và thúc đẩy xây dựng hệ thống các quy định ưu đãi,
  3. Khuyến khích ‎ý thức tự giúp đỡ và trợ giúp lẫn nhau,
  4. Phát triển khái niệm “không có sự tách biệt giữa chúng ta – họ”,
  5. Thực hành khái niệm “hành động theo chỉ dẫn”,
  6. Thúc đẩy sự phụ thuộc vào giai đoạn đầu của điều trị và tăng cường độc lập cá nhân vào giai đoạn tiếp theo,
  7. Tổ chức hoạt động nhóm,
  8. Quản lý‎ hồ sơ,
  9. Thúc đẩy việc học tập xã hội thông qua làm gương, tác động đồng đẳng, và học tập thông qua trải nghiệm,
  10. Tiến hành xây dựng lòng tin trong cộng đồng,
  11. Thực hành theo các tấm gương tích cực,
  12. Chương trình tập huấn này đã mở rộng thêm một nội dung nữa – nội dung thứ 12 – phát triển các hành vi khắc phục khó khăn để thay đổi.

Để hiểu rõ tổ chức và các phương pháp điều trị của tổ chức này đề nghị các bạn tham khảo tại mục Nghiên cứu Khoa học, bài thứ 3: “Cộng đồng trị liệu – một liệu pháp cai nghiện ma túy có hiệu quả cần được mở rộng ở Việt Nam” tại trang web của Trung tâm Thanh Đa do ông Trần Việt Trung – nguyên Phó Cục Trưởng Cục Phòng, Chống tệ nạn xã hội – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội biên soạn.

5. MÔ HÌNH MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU VÀ CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU CỦA TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG & CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA:

Thông qua khảo sát các chương trình (SSLTM) chúng tôi nhận thấy chương trình SSLTM của tổ chức Daytop:

  • Phù hợp với điều kiện Việt Nam nói chung và Trung tâm Cai nghiện Ma túy Thanh Đa nói riêng.
  • Trung tâm Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa đã thực hiện chương trình này hơn 17 năm và có kết quả rõ rệt.
  • Nhiều cán bộ nhân viên Trung tâm Cai nghiện Thanh Đa đã tham gia chương trình tập huấn tập trung dài hạn 04 tháng do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội kết hợp với tổ chức Daytop Quốc tế thực hiện. Khóa học có nội dung đồng bộ, phong phú và được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (người tài trợ chương trình này) đánh giá cao qua kết quả nghiệm thu được khảo sát và công bố năm 2009.

Do điều kiện đặc thù của học viên và Trung tâm Thanh Đa – chương trình điều trị theo phương pháp Daytop Quốc tế đã được Trung tâm điều chỉnh một số mặt để phù hợp với thực tiễn và hoàn cảnh thực tế của Trung tâm. Trong đó chúng tôi đặt nặng vấn đề GIÁO DỤC TRỊ LIỆU – TRANG BỊ BẢN LĨNH và KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC VIÊN.

KẾT LUẬN:

Môi trường cộng đồng trị liệu không giống như môi trường cộng đồng mà chúng ta đang sống. Có một số những đặc tính khiến cho cộng đồng này trở nên độc đáo và không giống bất kỳ loại cộng đồng nào: đó chính là sự tổng hợp của các yếu tố: cơ cấu tổ chức, yếu tố con người, những quy định điều chỉnh mối quan hệ tương giao giữa các thành viên của cộng đồng và hệ thống chia sẻ thông tin đã tạo nên cộng đồng. Nó phải là: “Môi trường học tập”. Môi trường này chủ yếu đề cập đến mối quan hệ giữa các thành viên và không khí học tập. Kết quả môi trường cộng đồng trị liệu là tạo ra một số những ảnh hưởng nhất định đến trạng thái tâm tư tình cảm, nhận thức về đạo đức và xã hội của người nghiện. Môi trường cộng đồng trị liệu tạo ra trật tự và một lối sống có mục đích trong các thành viên của nó. Chính bởi vì môi trường trị liệu cộng đồng thường có được cơ sở vật chất  cũng như cách tổ chức tốt nên nó là môi trường trị liệu tốt đối với các đối tượng tham gia chương trình. Tóm lại:

Môi trường cộng đồng trị liệu nhằm mục đích:

  • Bạn có thể thay đổi và bộc lộ bản thân mình.
  • Động lực của nhóm sẽ giúp đỡ cho sự thay đổi đó.
  • Tất cả các thành viên của cộng đồng cần phải có trách nhiệm.
  • Tự đặt mình vào hoàn cảnh người khác để đánh giá cảm xúc.
  • Phương pháp thực hiện bao gồm:
  • Quản lý giám sát hành vi.
  • Chuyển biến tâm tư – tình cảm.
  • Điều trị cắt cơn – bệnh cơ hội – bệnh tâm thần.
  • Sử dụng các phương pháp điều trị không dùng thuốc nhằm phục hồi nhận thức – hành vi nhân cách – tinh thần trách nhiệm – điều chỉnh những rối loạn tâm – sinh lý cho người nghiện ma túy.

C. NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN VÀ CÁC YẾU TỐ CẦN THIẾT ĐỂ XÂY DỰNG MỘT MÔI TRƯỜNG CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU CÓ HIỆU QUẢ:

I. NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN:

Vì tính chất đa dạng của bệnh nghiện ma tuý nên nếu sử dụng một vài biện pháp thì không đảm bảo đáp ứng hết được mọi yêu cầu cho công tác cai nghiện mà phải sử dụng sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố, nhiều biện pháp để phục vụ cho điều trị. Tuy Một số nguyên tắc cơ bản phải thực hiện:

1. XÂY DỰNG NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA CỘNG ĐỒNG:

1.1. Tôn trọng lẫn nhau.

1.2. Có trách nhiệm với gia đình, cộng đồng. Lòng biết ơn.

1.3. Tự tin vào giá trị bản thân.

1.4. Biết thương yêu và quan tâm  đến người khác.

1.5. Phối hợp trong công việc.

1.6. Trung thực – trách nhiệm – khiêm tốn – cởi mở.

1.7. Năng động sáng tạo – khả năng nhận thức tốt.

1.8. Tích cực lao động.

2. XÂY DỰNG MỘT MÔI TRUỜNG ĐIỀU TRỊ AN TOÀN VÀ LÀNH MẠNH:

2.2. Không ma tuý.

2.3. Không có hành vi bạo lực hay đe dọa bạo lực.

2.4. Không có hành vi tình dục.

2.5. Không trộm cắp.

2.6. Luôn luôn nhắc nhở và kiểm tra thực hiện các nguyên tắc cộng đồng đề ra.

2.7. Đặt ra những quy định mới nếu thấy cần thiết.

3. NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC:

3.1. Việc tuân thủ lịch sinh hoạt 24h/ ngày được giám sát chặt chẽ.

3.2. Phân công công việc rõ ràng cho từng thành viên.

3.3. Có sự chỉ đạo thông suốt từ trên xuống dưới và sự phản ánh kịp thời từ dưới lên.

3.4. Đảm bảo tuân thủ những quy tắc, quy định. Mọi hành vi được giám sát chặt chẽ và thường xuyên.

3.5. Xây dựng được những tiêu chí trong cộng đồng nhằm khuyến khích việc tích cực điều chỉnh hành vi.

3.6. Phương pháp điều trị phải dựa trên nguyên tắc nhằm đáp ứng những nhu cầu khác nhau của người nghiện.

4. NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ:

4.1 Phương pháp điều trị không bao giờ được làm tổn thương đến nhân phẩm đối tượng và phải được xây dựng trên những hiểu biết sâu sắc về ma túy và người nghiện.

4.2 Phải áp dụng biện pháp điều trị toàn diện bao gồm nâng cao sức khoẻ và điều chỉnh, phục hồi nhận thức – hành vi – nhân cách, thông qua tư vấn – tâm lý trị liệu, giáo dục trị liệu, hoạt động trị liệu, huấn nghiệp trị liệu, lao động trị liệu.

4.3. Đối tượng có lòng tin vào cán bộ điều trị.

4.4. Đối tượng cảm nhận được sự chăm sóc và giúp đỡ chân thành của cán bộ điều trị.

4.5. Đối tượng  cảm nhận được sự chăm sóc của cả cộng đồng đối với quá trình tiến bộ của đối tượng.

4.6. Đối tượng luôn luôn cảm thấy an toàn cả về thể chất lẫn về tinh thần.

4.7. Phải tạo được môi trường điều trị – phục hồi an toàn.

4.8. Môi trường điều trị phải tạo ra được sự trung thực và tính cởi mở trong nguyên tắc cộng đồng đề ra.

4.9. Kết hợp liệu pháp dùng thuốc và không dùng thuốc (xem mục PHÒNG CHỐNG TÁI NGHIỆN tại website này)

5. NHỮNG BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY NHANH SỰ CHUYỂN BIẾN VỀ NHẬN THỨC – HÀNH VI – NHÂN CÁCH ĐỐI TƯỢNG:

5.1. Phải có những nguyên tắc giải quyết mọi hành vi vi phạm có liên quan đến những quy định của cộng đồng mà không cần sử dụng đến vũ lực.

5.2. Phải có những hoạt động nhằm giúp đỡ về tâm tư tình cảm, khuyến khích việc bày tỏ suy nghĩ, cảm nhận đối tượng một cách trung thực (ví dụ như tư vấn cá nhân, tư vấn nhóm hay các hình thức điều trị khác…).

5.3. Tổ chức những buổi nói chuyện cho đối tượng để họ có thể  giải bày tâm sự về quá khứ của mình một cách cởi mở, trung thực mà không lo ngại có sự chế diễu hay phản đối từ phía đối tượng khác.

5.4 Giúp đối tượng cũng cố lòng tin vào bản thân và những người xung quanh qua biện pháp giáo dục tâm lý – xã hội cho dối tượng.

6. XÂY DỰNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HỮU HIỆU:

6.1. Sử dụng hệ thống quản lý trách nhiệm.

6.2. Đối tượng được nhóm, tổ chức phân công việc.

6.3. Sử dụng nhóm đồng đẳng quản lý lẫn nhau.

6.4. Sử dụng sổ nhật ký, sổ báo cáo, giao ban hay lịch phân công lao động để quản lý.

6.5. Giám sát nghiêm ngặt tuân thủ các loại quy định, nguyên tắc của cộng đồng.

7. XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐÁNH GIÁ TIẾN ĐỘ ĐIỀU TRỊ CỦA ĐỐI TƯỢNG:

7.1. Kế hoạch điều trị:

  • Xác định những vấn đề mấu chốt phải giải quyết trong quá trình điều trị.
  • Xây dựng một kế hoạch điều trị nhằm đạt được mục tiêu yêu cầu đề ra.
  • Kế hoạch này phải có những mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn điều trị.
  • Xác định những hoạt động diều trị cụ thể và chỉ định người chịu trách nhiệm giúp đỡ đối tượng đạt được mục tiêu yêu cầu điều trị đề ra.
  • Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá sự tiến bộ.

7.2. Theo dõi tiến độ điều trị của đối tượng theo kế hoạch đã đề ra: Tổ chức họp kiểm điểm rút kinh nghiệm cho từng trường hơp đối tượng.

7.3. Sử dụng hồ sơ quản lý đối tượng,  phân công người quản lý theo dõi.

7.4. Nhận xét của nhân viên tư vấn về sự tiến bộ của đối tượng.

7.5. Biên bản của những buổi tư vấn cá nhân, nhóm, gia đình.

7.6. Báo cáo tiến độ điều trị thường kỳ hàng tháng.

8. XÂY DỰNG HỆ THỐNG KHEN THƯỞNG:

8.1. Dựa trên các tiêu chuẩn đã đề ra để khen thưởng các học viên tích cực.

8.2. Sử dụng một số ưu đãi làm phần thưởng như : viết thư, tặng quà lưu niệm, biểu  dương trước tập thể…

8.3. Đi dã ngoại bên ngoài cơ sở điều trị.

8.5. Cho về thăm gia đình.

Việc khen thưởng này tùy thuộc vào từng hoàn cảnh trung tâm – trường – trại – địa phương.

II.    CÁC YẾU TỐ CẦN THIẾT:

1. NHÂN VIÊN ĐIỀU TRỊ PHẢI LÀ NGƯÒI XỨNG ĐÁNG VÀ MẪU MỰC: 

Đôi ngũ điều trị phải làm thế nào để đối tượng tôn trọng. Họ phải là tấm gương sáng cho đối tượng để có thể ảnh hưởng giáo dục nhằm chuyển đổi nhận thức, hành vi, nhân cách của học viên.

Người nghiện ma tuý thường thực hiện nhiều hành vi không tốt, nhưng họ ít thấy và hay biện minh cho bản thân mình, trong khi đó họ lại rất tinh ý và nhạy bén nhận xét những điều không tốt của người khác. Do đó, nếu nhân viên điều trị không gương mẫu khó có thể chuyển đổi đối tượng.

Đối với đồng nghiệp nhân viên điều trị phải tuân thủ những quy định, những mối quan hệ thân thiện.

Đối với đối tượng nhân viên điều trị phải thương yêu và đồng cảm nhưng cũng phải xác định một ranh giới không thể vượt qua của người quản lý và đối tượng.

2. MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ PHẢI ĐẢM BẢO KHÔNG CÓ MA TUÝ HOẶC CÁC CHẤT GÂY NGHIỆN KHÁC:

Một môi trường trị liệu để lọt ma tuý vào sẽ gây lây lan bệnh tật, tinh thần học viên không bình ổn, thiếu quyết tâm cai nghiện, dễ bức xúc phá vỡ chương trình điều trị.

Đây là yếu tố tiên quyết vì nếu không giải quyết được vấn đề này sẽ phá huỷ toàn bộ kế hoạch, hệ thống hoạt động của Trung Tâm.

3. MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ PHẢI LÀ MỘT NƠI AN TOÀN KHÔNG CÓ TÌNH TRẠNG BẠO LỰC: 

Mọi hoạt động diễn ra một lối sống không có ma tuý, không có cảnh ức chế nhau, nơi mà hành vi của một người luôn được các người khác xem xét, góp ý mà không hề do một áp lực nào, một ý đồ xấu nào và được giáo dục liên tục về một nếp sống nề nếp chuẩn mực.

4. MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ PHẢI LÀ NƠI ĐỂ CÁC ĐỐI TƯỢNG CÓ THỂ GIÚP ĐỠ ĐIỀU CHỈNH SAI LẦM CHO NHAU .

5. MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ PHẢI CÓ NHỮNG CHUẨN MỰC VỀ HÀNH VI VÀ NHÂN CÁCH NHƯ MỘT XÃ HỘI GƯƠNG MẪU nhằm những tiêu chuẩn sau đây:

  • Trách nhiệm quan tâm đến người khác.
  • Trung thực, không dối trá.
  • Thương yêu, cởi mở, chân thành.
  • Đoàn kết.
  • Kỷ luật.
  • Nhận biết được bổn phận, trách nhiệm.

6. MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU PHẢI DỰ KIẾN MỌI BIỆN PHÁP KHI CÓ TÌNH HUỐNG XẤU:

Phải can thiệp ngay kịp thời khi xảy ra những vi phạm nghiêm trọng về những quy tắc xã hội và chuẩn mực hành vi.

7. CÁC ĐIỀU KIỆN Y TẾ – GIÁO DỤC – QUẢN LÝ – CÁC BIỆN PHÁP TRỊ LIỆU KHÁC VÀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÓ TRÌNH ĐỘ VÀ NHIỆT TÌNH ĐỂ SẴN SÀNG ĐÁP ỨNG ĐƯỢC VÀ KỊP THỜI MỌI TÌNH HUỐNG.

8. CẦN CÓ MỘT THOẢ THUẬN ĐIỀU TRỊ NÓI LÊN QUAN HỆ GIỮA NHÂN VIÊN ĐIỀU TRỊ VÀ NGƯỜI CAI NGHIỆN: Thỏa thuận phải nêu rõ những mục tiêu điều trị mà hai phía đều quan tâmNội dung thoả thuận điều trị phải bao gồm những nội dung giúp đỡ người nghiện có kế hoạch cho đời sống hàng ngày nhằm tiến đến một sự phục hồi nhân cách, một cuộc sống hữu ích cho xã hội và thu thập những kỹ năng để vượt qua thử thách tái nghiện.

9. NHỮNG NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ MỘT MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG CÓ HIỆU QUẢ:

9.1. Môi trường cộng đồng trị liệu là một môi trường học tập tích cực. Vai trò của những người có trách nhiệm, uy tín trợ giúp một cách hữu hiệu cho việc học tập của các thành viên.

9.2. Họ nhận thức được mối quan hệ chặt chẽ giữa lời nói và việc làm của những người có vị trí trách nhiệm đối với các thành viên trong cộng đồng. Phải biết rằng các thành viên trong cộng đồng luôn theo dõi việc các cán bộ điều trị có tuân thủ các quy tắc và giá trị của cộng đồng hay không, cũng như theo dõi mối quan hệ qua lại giữa các thành viên trong cộng đồng, không được để các vấn đề mâu thuẫn nảy sinh trong cộng đồng . Bất kỳ mâu thuẫn nào xảy ra giữa lời nói và hành vi sẽ bộc lộ điểm yếu của hệ thống điều trị và có thể sẽ được người nghiện lợi dụng để có những biểu hiện, hành vi không đúng.

9.3. Để thực hiện tốt vai trò của mình, người cán bộ điều trị phải nắm rõ các quy tắc của cộng đồng. Những người quản lý thành công nhất là, những người luôn được đối tượng xem là tấm gương để họ học tập là những minh họa cụ thể trong giáo dục người nghiện. Những người quản lý không chỉ đảm bảo sự tồn tại, duy trì hoạt động của “môi trường trị liệu cộng đồng” mà còn phải biến nó thành một môi trường học tập thật sự cho người nghiện ma túy.

9.4 Người đã cai nghiện thành công là hiện thân của niềm hy vọng của người cai nghiện, đã và đang đấu tranh để vượt qua chính bản thân mình. Họ là bằng chứng sống của việc chiến thắng sự cám dỗ của ma tuý, mà chủ yếu họ là người rất thông hiểu suy nghĩ và cảm xúc của người nghiện. Khả năng của họ trong việc bày tỏ bản lĩnh của mình đối với những người nghiện khác là không gì sánh nổi. Họ đoán trước được hành vi của người nghiện trong từng hoàn cảnh cụ thể. Điều này biến họ thành những người hướng dẫn rất có hiệu quả trong môi trường trị liệu cộng đồng – một môi trường điều trị mà việc thành công hay thất bại có liên quan chặt chẽ với việc thông hiểu những suy nghĩ , thậm chí cả những mánh lới của đối tượng. Tuy nhiên việc sử dụng người cai nghiện thành công vào công tác quản lý của Trung tâm là vấn đề phức tạp như việc dùng dao hai lưỡicó thể tốt nhưng cũng có thể rất nguy hiểm nếu họ có ý đồ xấu thiếu trình độ hoặc tái nghiện lại. Do đó, để xử lý tình huống, người cán bộ quản lý phải có khả năng đoán trước sự việc xảy ra và những nguyên nhân gây ra sự việc đó.

 

D. YÊU CẦU VỀ CƠ CẤU – HOẠT ĐỘNG – MỐI QUAN HỆ ĐỂ MỘT MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG CÓ HIỆU QUẢ:

I/ HỆ THỐNG TỔ CHỨC:

1. SƠ ĐỒ TỔ CHỨC:

preview

2. NHIỆM VỤ CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO: Là vô cùng quan trọng đòi hỏi phải có TRÌNH ĐỘ và NHẠY BÉN trong công việc:

  • Điều chỉnh cơ cấu cho phù hợp.
  • Điều chỉnh các dịch vụ điều trị.
  • Điều chỉnh vai trò các cán bộ điều trị.
  • Phân công nhiệm vụ của cán bộ điều trị và nhân viên tư vấn phù hợp.
  • Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng kiến thức và kinh nghiệm cho tập thể CBNV để có thể triển khai chương trình điều trị.
  • Lập kế hoạch xây dựng chương trình điều trị – phục hồi dựa vào trung tâm và dựa vào cộng đồng.
  • Tổng kết tiến độ triển khai các chương trình từng giai đoạn.

    1. NHIỆM VỤ CỦA CÁC PHÒNG BAN CHỨC NĂNG:

Cơ bản gồm 4 bộ phận chính:

  • Y tế.
  • Giáo dục.
  • Quản lý.
  • Phục vụ.

Tất cả các bộ phận trên đều phải tác nghiệp trên một thể thống nhất nhằm vào công tác điều trị, điều chỉnh, phục hồi nhận thức – hành vi – nhân cách cho đối tượng cai nghiện, nhưng nhiệm vụ ai người đó làm.

Tổ chức như trên nhằm mục tiêu :

  • Đảm bảo sức khỏe cho đối tượng cai nghiện – phát hiện và ngăn chặn kịp thời các bệnh cơ hội – dịch bệnh – bệnh mắc phải.
  • Sử dụng các phương pháp điều trị không dùng thuốc thông qua tư vấn – liệu pháp tâm l‎ý – liệu pháp giáo dục – liệu pháp xã hội,…
  • Theo dõi tiến độ của học viên thông qua các hoạt động của cá nhân, nhóm, tổ chức, huấn nghiệp trị liệu, lao động trị liệu, sản xuất trị liệu, …
  • Đảm bảo môi trường điều trị an toàn.
  • Tạo một môi trường sẵn sàng đáp ứng kịp thời cho công tác cai nghiện ( xây dựng cơ sở vật chất – vệ sinh môi trường – chuẩn bị cho công tác quản l‎ý cũng như phục vụ cho mọi hình thức trị liệu,… ).

II/ NHIỆM VỤ THỰC HIỆN:

  • Xác định nhiệm vụ rõ ràng cho từng cá nhân, từng nhóm, từng tổ chức của học viên và người phụ trách.
  • Xác định nhiệm vụ người giám sát.
  • Xác định nhiệm vụ của điều phối viên.

III/ PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC:

  • Sắp xếp công việc cụ thể cho từng đối tượng.
  • Cho phép đối tượng đăng ký với cán bộ điều trị nhận công việc cho mình, tất nhiên sự lựa chọn phải dựa vào khả năng từng người và tiến độ điều trị.
  • Trách nhiệm của từng người trong công việc được giao, nếu như không đáp ứng được yêu cầu cần làm rõ vì những lý do bệnh lý hoặc lý do hành vi.

IV/ LỊCH SINH  HOẠT HẰNG NGÀY:

Mục đích của việc bố trí lịch sinh hoạt là để điều hành hoạt động của Trung tâm, tạo cho đối tượng ‎có ý‎ thức tổ chức kỷ luậthình thành thói quen tốt và nhận thức tốt.

Một ví dụ của lịch sinh hoạt:

6:00 Thức dậy/ dọn giừơng/ vệ sinh phòng ngủ/ điểm danh.

6:30 Thể dục buổi sáng/ tắm rửa.

7:00 Ăn sáng.

8:00 Giao ban buổi sáng (là không thể thiếu được).

8:45  Cán bộ họp giao ban/ Họp nhóm đối tượng/ Sinh hoạt cộng đồng.

9:30  Lao động trị liệu – Huấn nghiệp trị liệu.

11:30 Tắm rửa.

12:00 Ăn trưa – nghỉ trưa.

14:00 Sinh hoạt nhóm điều trị.

15:30 Lao động trị liệu.

17:00  Hoạt động trị liệu.

18:00 Tắm rửa.

18:30 Ăn tối.

19:30 Tư vấn, họp nhóm, giải trí…

21:00 Họp toàn thể cộng đồng/ thông báo chung.

22:00 Điểm danh tối/ đi ngủ.

Lịch sinh hoạt này thay đổi tùy theo từng giai đoạn điều trị và điều kiện của từng đơn vị.

V/ NHỮNG NGUYÊN TẮC TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC NHÂN VIÊN ĐIỀU TRỊ:

Tình đồng đội và sự tôn trọng lẫn nhau là nguyên tắc cơ bản của các nhân viên điều trị trong cộng đồng. Các đối tượng là thành viên của cộng đồng cũng phải coi hai nguyên tắc đó là nền tảng mối quan hệ trong công việc của mình.

Để xây dựng được môi trường trị liệu cộng đồng có hiệu quả, các nhân viên điều trị phải có khả năng phối hợp làm việc trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau. Để tạo ra được một thái độ làm việc như vậy những người lãnh đạo tổ chức phải là tấm gương của cộng đồng trị liệu. Người cán bộ lãnh đạo phải tuân thủ nguyên tắc này trong khi giao tiếp với các nhân viên của mình.

VI/  NHỮNG NGUYÊN TẮC TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÂN VIÊN ĐIỀU TRỊ VỚI ĐỐI TƯỢNG:

Cộng đồng có mục tiêu là tạo một môi trường cho sự điều chỉnh nhận thức – hành vi – nhân cách của đối tượng. Cộng đồng sẽ thất bại nếu như thiếu đi lòng quyết tâm của những người lãnh đạo và những người có uy tín trong cộng đồng. Môi trường cộng đồng trị liệu bao gồm nhiều thành phần khác nhau: Có những đối tượng ích kỷ, mang chủ nghĩa anh hùng cá nhân, nhưng cũng có những sự hy sinh bản thân để giúp đỡ các đối tượng khác. Đa số người cai nghiện có trạng thái tình cảm không ổn định, nhưng điều đáng chú ý là chính những cán bộ điều trị chuyên đi hàn gắn vết thương này đôi khi không giải quyết được những khó khăn của chính bản thân mình. Tuy nhiên dù tình huống nào, người cán bộ điều trị, những người được xem là tấm gương sáng để toàn thể cộng đồng noi theo, luôn luôn phải cư xử với các thành viên của cộng đồng với một thái độ có trách nhiệm. Những cơ chế của cộng đồng được thể hiện ở những nghi thức và quy tắc xã hội, có thể giúp ngăn chặn việc vô tình hay cố tình sử dụng sai nguyên tắc về sức mạnh và quyền hạn trong mọi đối tượng điều trị tại cộng đồng.

Nhằm nâng cao những quy tắcchuẩn mực của cộng đồng cần phải quan tâm đến việc đào tạo những cán bộ điều trị trở thành những nhân viên chuyên nghiệp có trình độ. Việc chuyên môn hóa đội ngũ điều trị có thể sẽ giúp cải thiện chất lượng điều trị của cộng đồng nói chung và của những người cán bộ quản lý nói riêng.

VII/ CƠ CẤU CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI  ĐỐI TƯỢNG:

Môi trường cộng đồng trị liệu nổi tiếng là nhờ nó được sự tổ chức tốt, có nguyên tắc,  có cơ sở vật chất đầy đủ các yếu tố trên sẽ khích lệ những hành vi lành mạnh. Môi trường sẽ phản ánh bản chất của cộng đồng sống trong môi trường đó. Mặc dù có một vài mô hình cộng đồng buộc phải thích nghi với cơ sở vật chất sẵn có ví dụ như là nhà tù, các khu nhà cũcơ sở khám chữa bệnh thiếu thốn nhưng chúng ta phải quyết tâm từng bước nâng cấp môi trường sao cho phù hợp với yêu cầu của một môi trường cộng đồng trị liệu.

Cộng đồng trị liệu phải mang dáng dấp một gia đình nhiều hơn là một trung tâm điều trịNgay cả ở trong tù hay trong trại cải tạo, trại giáo dưỡng trẻ em vị thành niên: không khí “nhà tù” cũng không còn nữa, nhằm khiến cho cộng đồng trở thành một môi trường nhẹ nhàng, tin cậy cho việc điều trị – phục hồian toàn cả về thể chất lẫn tinh thần cho đối tượng: Đó phải là chỗ mà đối tượng có thể chịu trách nhiệm về sự lựa chọn và hành vi của chính mình. Trong khi nhà tù tạo ra không khí thiếu an toàn, nơi mà đối tượng muốn sinh tồn thì phải dựa hoàn toàn vào mánh khoé và luật rừng, thì môi trường cộng đồng tạo ra những hành vi xã hội lành mạnh như tin tưởng và giúp đỡ lẫn nhau trong bầu không khí gia đình.

Những thành công lớn của môi trường cộng đồng trị liệu có được là nhờ một cơ cấu hoạt động chặt chẽ. Cần tổ chức tốt lịch sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng tùy theo người  hay người mới tham gia điều trị. Tuy nhiên, mọi đối tượng cai nghiện đều phải hiểu được trách nhiệm của mình và các mục tiêu chung do cộng đồng đề ra.

 

E. TỔNG QUAN CÁC GIAI ĐOẠN KẾ HOẠCH QUẢN LÝ ĐIỀU TRỊ GIÁO DỤC TRONG MỘT MÔI TRƯỜNG CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU:

  • Việc học tập và chuyển đổi hành vi mới cần được tiến hành từng bước.
  •  Có đủ thời gian để đối tượng tiếp nhận các bài giảng và sự giáo dục của người quản lý.
  • Sự chuyển biến của đối tượng có thể nhanh hay chậm tùy thuộc vào nhiều yếu tố.

I. GIAI ĐOẠN 1: ĐỊNH HƯỚNG:

  • Làm quen với chương trình điều trị (nội dung, hoạt động trung tâm, các bước tiến hành )
  • hội kiểm tra đánh giá (học vấn, nghề nghiệp, tình trạng, tâm lý … ).
  • Cán bộ quản lý cần quan tâm đến những biểu hiện về thái độ – suy nghĩ – những nhu cầu của đối tượng.

II. GIAI ĐOẠN 2: SƠ BỘ ĐIỀU TRỊ:

  • Phân loại đối tượng căn cứ vào: Trình độ – nhận thức – hoàn cảnh – hành vi – bệnh lý – tiền sử đối tượng…
  • Xây dựng mục tiêu điều trị và những giá trị tinh thần cần đạt được (thông qua quản lý công tác tư vấn – liệu pháp tâm l‎ý, liệu pháp giáo dục, liệu pháp xã hộilao động trị liệu – hướng nghiệp trị liệu …).
  • Huấn luyện cho đối tượng về tính năng động, sáng tạoxây dựng trong học tập, trong công việc, trong quan hệ với mọi người và với gia đình.

III. GIAI  ĐOẠN 3: CHUẨN BỊ TÁI HOÀ NHẬP VỚI CỘNG ĐỒNG:

Người quản lýphải nắm rõ và giúp đối tượng các vấn đề sau :

  • Yếu tố gia đìnhcông việc, giáo dục, xã hội.
  • Khó khăn tồn tại của gia đình đối tượng.
  • Mạng lưới trợ giúp của xã hội.
  • Những vấn đề riêng biệt của từng cá nhân đối tượng.
  • Bắt đầu công tác phòng ngừa tái nghiện.

Để đối tượng thu nhận được những kiến thức sau khi tham gia điều trị phục hồi và áp dụng những kiến thức đó vào thực tiễn công tác hằng ngày đòi hỏi phải có sự nhận thức sâu sắc về bản thân và mong muốn duy trì một cuộc sống lành mạnh không có ma tuýGiá trị của những gì đối tượng thu nhận được trong quá trình điều trị sẽ kiểm chứng lại trước khi đối tượng hoà nhập cộng đồng, trở về với cuộc sống xã hội. KHÓ CÓ THỂ TƯỞNG TƯỢNG được rằng một người nghiện rượu lâu nămsau khi điều trị quay trở lại cộng đồng làm việc tại một quày rượu, lại vẫn có thể duy trì một cuộc sống lành mạnh không uống rượu.

Trong giai đoạn cuối của chương trình điều trị, cộng đồng sẽ cho người nghiện dần dần thoát ly môi trường có kiểm soát và tiếp xúc ngày một nhiều với môi trường xã hội. Đối tượng có thể tự đi tìm việctrở lại nhà trường hay tham gia các hoạt động có ích khác. Đối tượng sẽ tự sắp xếp thời gian cho những hoạt động bên ngoài cộng đồng điều trị nhưng vẫn đảm bảo tham gia sinh hoạt nhóm, tư vấn, chăm sóc sau cai của các chuyên gia về tái hoà nhập cộng đồng. Họ phải hoàn tất khóa học về tình huống có nguy cơ dẫn đến tái nghiện. Họ cũng có thể tham gia giúp đỡ những thành viên khác của cộng đồng trong việc thực hiện các hoạt động điều trị.

Khả năng tìm việc làm và duy trì một việc làm ổn địnhhoà nhập được với gia đìnhtiếp tục làm việc và duy trì trạng thái phục hồi là mục đích chính của giai đoạn này. Đối tượng lúc này nhận được sự giúp đỡ cả từ phía nhân viên điều trị và từ gia đình. Nếu tái nghiện xảy ra trong giai đoạn này, đối tượng phải trở lại môi trường điều trị cộng đồng và được trang bị thêm những biện pháp can thiệp cho đến khi đối tượng thực sự đủ khả năng duy trì trạng thái phục hồi.

IV. GIAI ĐOẠN 4: TÁI HOÀ NHẬP VỚI CỘNG ĐỒNG:

  • Có nghề nghiệp hoặc tiếp tục học tập.
  • Bố trí thời gian tham gia các hoạt động mang tính chất cộng đồng.
  • Tăng cường ảnh hưởng của nhóm nhằm giải quyết những mối lo ngại.
  •  Lập kế hoạch từng bước để đảm bảo : đời sống, sinh hoạt lành mạnh.
  • Tăng cường các hoạt động nhằm phòng ngừa tái nghiện.

V. GIAI ĐOẠN 5: QUẢN LÝ THEO DÕI SAU CAI:

  • Thời gian là 6 tháng đến một năm hoặc nếu cần nhiều hơn nữa.
  • Dần ổn định cuộc sống.
  • Tham gia các nhóm điều trị được tổ chức định kỳquản lý theo trường hợp cụ thể với sự giúp đỡ của xã hội.
  • Trở lại nơi làm việc, học sinh quay trở lại trường học.
  • Đặt kế hoạch chỉ tiêu cụ thể từng giai đoạn của cuộc sống.

 

F. CÔNG TÁC QUẢN LÝ – ĐIỀU CHỈNH – GIÁM SÁT HÀNH VI ĐỐI TƯỢNG CAI NGHIỆN:

Việc phân cấp cơ cấu tổ chức và lịch sinh hoạt thường ngày là một dạng kỷ luật và nó tạo ra cho người nghiện cảm giác ổn định. CUỘC SỐNG ĐỐI TƯỢNG PHẢI ĐƯỢC ĐI VÀO KHUÔN KHỔ VÀ CÓ KẾ HOẠCH CỤ THỂ ngược lại hẳn với cuộc sống trước kia của đối tượng ngoài xã hội đầy rẫy rối loạn, thiếu ý thức – một lối sống điển hình của người nghiện. Các hoạt động này khuyến khích việc đặt kế hoạch cho sự ổn định lâu dài. Tuy nhiên, những điều này không đơn giản và khó thực hiện. Khi người nghiện đã lệ thuộc vào ma túy thì khả năng nhận thức cuộc sống của đối tượng cũng bị hạn chế, do các thói quen xấu có liên quan đến việc sử dụng ma tuýĐối tượng không tự hành động như một người bình thường mà phải giúp đối tượng từng bước đạt được dần những thành công nhỏ trong quá trình phục hồi.

Tóm lại, môi trường trị liệu cộng đồng là một môi trường điều trị tích cực, năng động chứ không phải là một môi trường tĩnh. Những thay đổi có ý nghĩa mà người nghiện đạt được chính là kết quả của trạng thái đấu tranh tích cực bên trong bản thân người nghiện với sự giúp đỡ của tập thể nhằm loại bỏ những yếu tố làm suy yếu ý chí con người, những yếu tố thường được người nghiện sử dụng để bào chữa cho thất bại của mình. Bằng cách loại bỏ những yếu tố này, chúng ta còn có thể khiến cho đối tượng có được những hành vi phù hợp. Nếu chúng ta thành công trong việc thu hút sự tham gia tích cực của người cai nghiện vào chương trình điều trị, đối tượng sẽ có nhiều cơ hội hơn để phục hồi và lấy lại sự tự tin cho bản thân mình.

Để đạt được các mục tiêu trên công tác quản lý – điều chỉnh – giám sát hành vi đối tượng là vô cùng cần thiết.

Sau đây là một số điểm cần áp dụng :

I. NGUYÊN TẮC: Đối tượng phải luôn luôn đặt vấn đề với tự chính mình :

  • Cách thức nào để tạo hiệu quả trong cuộc sống.
  • Đặt mình vào địa vị người khác.
  • Điều gì sẽ đến khi suy nghĩ và hành động như thế này?
  • Kiểm soát tình cảm- suy nghĩ- làm chủ bản thân.

II. SINH HOẠT NHÓM: nhóm đối kháng, nhóm đặc biệt…nhằm :

  • Đối diện với sự thật.
  • Chấp nhận thử thách.
  • Bày tỏ sự đồng tình hoặc không đồng tình.
  • Giải toả nỗi bực dọc theo cách thức đối thoại trong hoà bình.
  • Môi trường sống của cộng đồng.
  • Sự tiến bộ của đối tượng.

III. CÁC LOẠI HỌP HÀNH, SINH HOẠT KHÁC:

  • Họp giao ban chung là rất quan trọng.
  • Họp gia đình, phát hiện nguy cơ, tiến hành kiểm điểm, giải quyết vấn đề.
  • Thực hiện các biện pháp điều trị không dùng thuốc là rất quan trọng: Tư vấn- Liệu pháp tâm lý – Liệu pháp giáo dục – Huấn nghiệp trị liệu – Lao động trị liệu và các hình thức trị liệu khác.

IV. NÓI CHUYỆN VỚI NHỮNG NGƯỜI CÓ THIỆN CHÍ GIÚP ĐỠ MÌNH.

V. KIỂM ĐIỂM – KHIỂN TRÁCH: Làm  các vi phạm