CÁC TRIỆU CHỨNG VÀ BỆNH TÂM THẦN DO SỬ DỤNG MA TÚY

 

(Trung tâm Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa biên soạn)

Viện Hàn Lâm Khoa Học Pháp năm 1999 định nghĩa: ma túy là những chất tác động tâm thần mà người lạm dụng sẽ gây ra cho mình sự lệ thuộc.

Tình trạng lệ thuộc ma túy đòi hỏi sử dụng ma túy đều đặn như một phương thức sống. Người lệ thuộc sẽ bị những biến đổi về khí sắccảm xúc cũng như nhận thức do những tổn thương trong não. Những tổn thương này có thể tồn tại rất lâu hoặc vĩnh viễn sau khi ngưng sử dụng.

Sự rối loạn trên bắt nguồn từ nhiều lý do khác nhau: bản thân, gia đình, xã hội, tâm lý. Sử dụng, lạm dụng rồi lệ thuộc ma túy dẫn đến tình trạng nghiện là triệu chứng cuối cùng hoàn tất quá trình rối loạn trên. Do vậy việc điều trị phục hồi nghiện ma túy bao gồm rất nhiều lĩnh vực y tế, tâm lý.

Người nghiện bị lệ thuộc tâm lý và lệ thuộc cơ thể đối với ma túy. Nếu thiếu sẽ thèm muốn, đòi hỏi phải tái sử dụng để cảm thấy thoải mái.

Khi được cung cấp đủ ma túy con nghiện ở trạng thái ngất ngây hoặc kích thích mạnh mẽgiảm bớt đau đớn thân xác cũng như tinh thần, cảm giác khoẻ mạnh yêu đời.

Bởi tính chất ép buộc sử dụng ma túy, cuộc sống người nghiện suốt đời loanh quanh trong việc sử dụng nó. Đó là phương thức tồn tại của người nghiện.

Một phương thức sống như vậy sẽ làm xáo trộn và đảo lộn nhiều giá trị cá nhân cũng như xã hội cùng những chức năng tâm sinh lý.

Càng sử dụng ma túy lâu bao nhiêu hoặc sử dụng sớm bao nhiêu thì hậu quả càng nhiều và nặng nề bấy nhiêu. Mặt khác, những tác động của ma túy trên bộ não có thể gây ra những tổn thương tạm thời hoặc vĩnh viễn làm cho người nghiện suy giảm khả năng xử lý thông tin, xử lý những kinh nghiệm cũng như khả năng hiểu biết của đối tượng trong việc hướng đến một cuộc sống lành mạnh.

Như vậy, việc lạm dụng và lệ thuộc ma túy là một hội chứng trong một bối cảnh đa phương diện.

Xét về mặt hành vi, người nghiện đã phát triển những cách ứng xử không thích nghi hoặc những thói quen xấu. Chính những hành vi ấy ngăn cản đối tượng hoà nhịp với cộng đồng, mất đi lòng tự trọng, tinh thần trách nhiệm, không còn khả năng hiểu biết những hậu quả do hành vi của mình gây ra. Người nghiện ma túy không còn đủ nhận thức để sống một cách trong sạch, cũng như kỹ năng làm việc để sống bình ổn trong một xã hội trật tự. Nói chung, về mặt tinh thầnsức khoẻ, nghề nghiệpgia đình, xã hội,… có thể suy sụp đến một mức làm sự điều trị phục hồi cho đối tượng trở thành khó khăn.


Sau khi cai, nếu những nhân tố tác động thúc đẩy đối tượng tìm đến ma túy vẫn chưa được giải quyết, hầu hết những người nghiện sẽ tái nghiện.

 

Ngoài trạng thái lạm dụng và lệ thuộc, các hội chứng lâm sàng liên quan đến các chất ma túy có thể gây các phản ứng tâm lý và rối loạn tâm trí thực thể sau:

I-   CÁC PHẢN ỨNG TÂM LÝ:

Các hậu quả tâm lý của các chất ma túy phụ thuộc vào nhiều yếu tố quyết định phức tạp trong đó có cả các nhân tố dược lý và tâm lý:

– Các nhân tố dược lý tùy thuộc chất ma túy, liều lượng với phương thức sử dụng, với độ dung nạp, với các tương tác.

– Mức độ tác hại gồm nhiều yếu tố như: phối hợp nhiều chất ma túy với nhau, ảnh hưởng tính chất sinh lý của từng cá nhân, tác động bởi bối cảnh xã hội, phương thức dùng ma túy, nhân cách của chủ thể và trạng thái lâm sàng, các mong ước và tác động của xã hội trong việc phòng chống ma túy thông qua nhiều phương cách khác nhau.

II- CÁC RỐI LOẠN TÂM TRÍ THỰC TỔN:

Trong DSM – III mục phân loại các rối loạn này gồm những hội chứng tâm trí thực tổn khác nhau gây ra do hậu quả trực tiếp của nhiều chất ma túy trên hệ thần kinh trung ương. Đây là trạng thái nhiễm độc, lẫn các phản ứng loạn tâm thần trực tiếp do dùng ma túy.

1- TRẠNG THÁI NHIỄM ĐỘC:

Mô tả trạng thái này như một rối loạn tâm trí bị gây ra do mới sử dụng ma túy, thể hiện qua các hành vi như hung dữ, thay đổi phán đoán, biến loạn hoạt động xã hội, và bằng hội chứng đặc hiệu thông thường nhất là các rối loạn về tri giác, về chú ý và sự tỉnh thức, về tư duy nhận đoán và vận động.

2- LÚ LẪN TÂM TRÍ:

Hội chứng lú lẫn hay mê sảng của DSM – III thể hiện bằng các rối loạn chú ý và tư duy nặng hơn trong trạng thái nhiễm độc, biểu hiện bằng các rối loạn tỉnh thức, rối loạn tư duy, mất định hướng thời gian, không gian và các rối loạn tri giác. Các triệu chứng trên liên quan với dùng quá liều các chất ma túy.

3- CÁC PHẢN ỨNG LOẠN TÂM THẦN:

Các phản ứng này thể hiện tính hoang tưởng hay ảo giác trong trạng thái tỉnh thức bình thường. Thời gian các phản ứng này thường ngắn từ vài giờ đến vài ngày. Phản ứng loạn tâm thần có thể kịch phát do dùng các chất kích thích, các chất gây ảo giác  cần sa.

4- HỘI CHỨNG HỒI TƯỞNG (SYNDROME DE REVISISCENCE):

Trong DSM – III – R gọi là rối loạn tri giác sau ảo giácđặc trưng cho hội chứng này là khi không dùng ma túy thì cảm thấy một hay nhiều triệu chứng đã xảy ra trong trạng thái nhiễm độc trước đây (Flashback).

Các triệu chứng này xảy ra đột ngột và thường chỉ kéo dài vài giây hay vài phút. Chúng có thể tái diễn ít hay nhiều lần trong ngày. Các triệu chứng này luôn kèm theo một phản ứng lo hãi, và có thể xuất hiện sau một lần dùng ma túy nhưng hay xảy ra sau khi dùng ma túy nhiều lần. Các triệu chứng nhiễm độc tái cấp diễn này được quan sát chủ yếu với các chất gây ảo giác, hiếm hơn nhưng còn gặp với cần sa. Các triệu chứng thường gặp nhất là các rối loạn tri giác và nhiều về thị giác.

III- LOẠN TÂM THẦN:

Việc dùng các chất ma túy thường gây hậu quả là một rối loạn tâm thần. Các mối liên hệ giữa sử dụng ma túy và các rối loạn tâm thần khá phức tạp.

Rối loạn tâm thần góp phần dẫn đến sử dụng ma túy, đồng thời có thể do cả hai yếu tố trên tác động lên nhau.

Sự phân biệt này khó xác định, một khi cùng xảy ra song song, việc sử dụng các chất ma túy và các rối loạn tâm thần sẽ tác động lẫn nhau thể hiện qua các biểu hiện và sự phát triển của chúng.

Phân biệt các rối loạn tâm thần tiên phát và thứ phát có thể dẫn đến các hành vi nghiện ngập và có thể ảnh hưởng đến các quyết định điều trị.

IV- TRẠNG THÁI TRẦM NHƯỢC:

Trầm nhược do rối loạn tâm thần có sự kết hợp do sử dụng các chất ma túy đã được nghiên cứu nhiều nhất. Lạm dụng ma túy kết hợp với trầm nhược thường gặp trong các quần thể của khoa lâm sàng. Lạm dụng rượu và ma túy luôn luôn kết hợp với các trầm nhược nặng.

Trong nghiên cứu Ryan và ctv (1987) về 92 ca trầm nhược nặng18% đối tượng có sử dụng thêm các chất ma tuý “dịu”, 4% ít nhất đã dùng các chất ma tuý, việc dùng rượu quá mức kết hợp với việc sử dụng ma tuý gây các trạng thái trầm nhược loạn tâm và các rối loạn nhân cách.

Trầm nhược luôn kết hợp với lạm dụng ma tuý.

Các trường hợp trầm nhược hình như luôn luôn dẫn đến nghiện ma túy. Trong nghiên cứu của Deykin và ctv (1987), lạm dụng ma túy và rượu hầu như bao giờ cũng theo sau trạng thái trầm nhược nặng.

Trong nghiên cứu của De Milio (1989) các triệu chứng trầm nhược khởi đầu trước khi lạm dụng ma tuý trong khoảng nửa số trường hợp.

Các điều tra dịch tễ học đã khẳng định tần suất các tiền sử trầm nhược của chứng nghiện ma túy: các nghiên cứu này đã nhận định các triệu chứng trầm nhược như một nhân tố nguy cơ ở giai đoạn mới dùng ma túy (Bukstein và ctv, 1989).

Trầm nhược và sử dụng ma túy ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Các triệu chứng trầm nhược có thể dẫn đến sử dụng ma tuý. Là tiên phát hoặc thứ phát, trạng thái trầm nhược có thể làm nặng thêm hay duy trì lạm dụng ma túy.

V- TỰ SÁT VÀ CÁC Ý ĐỊNH TỰ SÁT:

Lạm dụng ma tuý đựơc công nhận là nguy cơ hàng đầu của các hành vi tự sát của thanh thiếu niên. Trong số 1824 đối tượng được gởi tới chữa bệnh vì lạm dụng ma tuý, 40,7% có ý tưởng tự sát thường xuyên (Harrison và Hoffiman, 1987).

Sử dụng hay lạm dụng ma tuý hoặc rượu còn là một trong các yếu tố kết hợp chính của các ý định tự sát ở thanh thiếu niên theo các nghiên cứu của Christoffel và ctv (1990).

Đa số các công trình có sự lên quan giữa tự sát, trầm nhược và lạm dụng ma túy. Lạm dụng ma túy có thể làm trầm trọng thêm trầm nhược và làm cho dễ chuyển sang hành động tự sát do tác dụng dược lý làm giải ức chế tính xung động và hung tính.

Cuối cùng, việc dùng ma tuý, trầm nhược và tự sát có thể làm bộc lộ cùng một bệnh lý phát triển.

VI- CÁC RỐI LOẠN HÀNH VI:

– Ma tuý và rối loạn hành vi thường kết hợp với nhau. Các rối loạn hành vi thường gặp trong lạm dụng ma túy ở thanh thiếu niên: Rechrich và Gold (1986) thấy trong 41 đối tượng có 95% rối loạn hành vi liên quan đến sử dụng ma tuý. De Milio (1989) thấy 42% có rối loạn hành vi trong 57 thanh thiếu niên nằm viện vì ma túy.

Myers và Kemph (1990) khảo sát trên 14 thanh thiếu niên đã giết người (12 con trai và 2 con gái) tuổi từ 10 đến 17 (tuổi trung bình 15,2). Ở thời điểm chúng có hành vi giết người: 86% đã mắc một rối loạn hành vi.

Các nghiên cứu khác cho thấy mối tương quan giữa hành vi phạm pháp và sử dụng ma túy: Hundleby và ctv (1982) ghi nhận trên 100 thanh thiếu niên nam và 130 thanh thiếu niên nữ dùng ma tuý có hoạt động tình dục nhiều hơn, nhận thức về xã hội và học tập lệch lạc.

Các liên quan giữa rối loạn hành vi và dùng ma tuý rất phức tạp. Các rối loạn hành vi và sử dụng ma túy tác động lẫn nhau. Các rối loạn hành vi thường dẫn đến dùng ma túy.

Trong các nghiên cứu theo chiều dọc hậu cứu về các trẻ em hiếu động, đã nhận thấy rằng khuynh hướng chống đối xã hội thường dẫn đến các rối loạn liên quan đến việc sử dụng các chất ma túy.

Dùng ma tuý có thể dẫn đến các rối loạn hành vi: tác động của chất ma túy giải ức chế và làm tăng hung tính tạo điều kiện cho việc chuyển thành hành vi chống đối xã hội. Do lệ thuộc ma túy đối tượng gây nên những hành vi phạm pháp để tìm cho được chất ma túy: ăn cắp, buôn bán ma túy và làm gái điếm thường kết hợp (Tarr và Macklin, 1987).

Phạm pháp và lạm dụng ma túy đều liên quan đến các điều kiện xã hội, gia đình không êm ấm và các rối loạn xúc cảm. Thanh thiếu niên phạm pháp, nhất là khi chúng bị trầm nhược khai là sử dụng ma tuý hay các hoạt động bất hợp pháp để làm nhẹ nổi buồn chán và ưu phiền của họ.

Trong nghiên cứu của Farrow French (1990), khảo sát trên 89 thanh thiếu niên phạm pháp khai có dùng ma túy trong đó 74% trường hợp là để làm giảm các cảm nghĩ buồn chán và ưu phiền, 39% để quên các vấn đề của họ, 42% để được yên tĩnh, 65% để được thích thú và 45% vì nhiều bạn của họ dùng ma túy.

VII- CÁC RỐI LOẠN TẬP TRUNG:

Các rối loạn tập trung mang tính hiếu động có tiền sử dùng ma tuý thường xảy ra ở tuổi thanh thiếu niên: De Milio (1989) thấy trong 14% các trường hợp này, có rối loạn tập trung và hiếu động. Rối loạn tập trung cũng có thể là di chứng của sử dụng ma túy.

Trong 114 thanh thiếu niên phạm pháp, Halikas và ctv (1990) nhận thấy lạm dụng ma túy có trên 67%, trong đó không rối loạn tập trung 19% trường hợp, các rối loạn hành vi đa hung bạo trong 61% trường hợp.

VIII- CÁC RỐI LOẠN NHÂN CÁCH:

Lạm dụng ma túy liên quan đến một số rối loạn nhân cách.

Các rối loạn nhân cách bệnh lý và nghiện ma túy liên hệ và tác động với nhau. Các rối loạn nhân cách dễ dẫn đến sử dụng ma túy:

–         Các rối loạn về cảm xúc của trạng thái ranh giới.

–         Các cảm nghĩ trống rỗng và buồn phiền.

–         Tính xung động.

Ngược lại, việc dùng ma túy làm nặng thêm các rối loạn về tâm lý, về quan hệ và sinh học biểu hiện rõ nét nhân cách bệnh lý.

         IX- CÁC BIỂU HIỆN LO HÃI:

 Một nghiên cứu dịch tễ học của NIMH trên thanh niên (Christie và ctv…1988) cho thấy người có tiền sử rối loạn lo hãi mà tuổi khổi phát trung bình là 15, dẫn đến các nguy cơ lạm dụng hay lệ thuộc ma túy tăng gấp đôi với thanh niên không có tiền sử rối loạn lo hãi.

 Trong nghiên cứu của Johnston và O'Malley, 41% học sinh trung học đã giải thích dùng ma túy do nhu cầu giảm căng thẳng

          X. CÁC RỐI LOẠN ĂN UỐNG:

Lạm dụng ma túy và rượu còn gặp ở người háu ăn, người chán ăn và còn ở một mức độ thấp hơn trên những người chán ăn hạn chế (Garner và ctv,…1985). Kille và ctv.(1987) so sánh 57 thanh thiếu niên háu ăn, 59 thanh thiếu niên ăn kiêng dùng các biện pháp nôn, nhuận trường hay lợi tiểu đễ kiểm tra trọng lượng của họ và 444 thanh thiếu niên không có rối loạn hành vi ăn uống: Kết quả cho đối với 3 nhóm người: nhóm 1: háu ăn, nhóm 2: chán ăn, nhóm 3: ăn hạn chế say rượu ít nhất 1 lần mỗi tháng tỷ lệ lần lượt là 25, 21 và 17%, say rượu nhiều lần mỗi tháng là 10, 23 và 7% trường hợp, sử dụng mà ăn ít nhất mỗi tháng là 16, 9 và 10% trường hợp và ít nhất 1 lần mỗi tuần là 14, 12 và 6% trường hợp.

Dùng ma túy và các trạng thái say có tần suất vẫn cao hơn tần suất của nhóm chứng không trầm nhược có các rối loạn hành vi ăn uống.

 XI. CÁC RỐI LOẠN NHÂN CÁCH:

Lạm dụng ma túy liên quan đến một số rối loạn nhân cách (Crumley, 1990). Trong  số 57 thanh thiếu niên nghiện ma túy do De Milio khảo sát (1989), 16% cho thấy những nét rõ rệt về rối loạn nhân cách một cách rõ rệt, nhân cách phân liệt 2 ca, nhân cách ái kỷ 2 ca, nhân cách kiểu phân liệt 1 ca.

Các rối loạn nhân cách bệnh lý và nghiện ma túy liên hệ và tác động với nhau. Các rối loạn nhân cách dễ dẫn đến sử dụng ma túy:

  • Các rối loạn về cảm xúc của trạng thái ranh giới
  • Các cảm nghĩ trống rỗng và buồn phiền
  • Tính xung động

​Ngược lại, việc dùng ma túy là nặng thêm các rối loạn về tâm lý, về quan hệ và sinh học biểu hiện rõ nét nhân cách bệnh lý.

XII. CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN:

Các chất gây ảo giác, amphetamin, cocain, cần sa, phesncyclidin có thể gây các triệu chứng loạn tâm thần. Loạn tâm thần do amphetamin có thể gây các triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt ở thanh thiếu niên (Angrist, 1983).

Ngược lại bệnh tâm thần phân liệt của thanh thiếu niên có thể bộc lộ và nặng lên do ma túy.

Một số ma túy được xem như có thể gây ra không nững các bệnh tâm thần phản ứng ngắn hay các rối loạn dạng phân liệt mà cả bệnh tâm thần phân liệt thực sự:dùng lâu dài các chất amphetamin có thể gây ra một số bệnh tâm thần phân liệt (Me – Lellam và ctv.1979), LSD xuất hiện đúng hơn như một nhân tố thúc đẩy (Vardy và Kay, 1983)

IX- TỶ LỆ CHẾT:

Việc sử dụng có thể gây chết người, các biến chứng cơ thể và một ảnh hưởng tiêu cực trên đời sống tâm lý và quan hệ cũng như trên sự thích ứng xã hội.

Trong khi tỷ lệ chết của các nước công nghiệp hoá giảm, thì tỷ lệ chết lại tăng ở thanh thiếu niên và thanh niên: các tai nạn giao thông, các tai nạn khác, tự sát và giết người do ma túy là nguyên nhân gây tỷ lệ chết cao. Các tai nạn giao thông chiếm 70% nguyên nhân chết của những người 16 – 19 tuổi trong Cộng Đồng Châu Au: Rượu và các chất ma túy là những nguyên nhân chủ yếu.

Trong một nghiên cứu nam giới từ 15 -34 tuổi, chết do tai nạn giao thôngrượu được phát hiện trong 75% trường hợp, cần sa 37% và cocain 11%; trong đó kết hợp rượu và cần sa 85% trường hợp (Williams, 1985). Tác hại của ma túy ngoài các tai nạn và tự sát, nguy cơ lây nhiễm HIV/ AIDS qua tiêm chích tĩnh mạch các chất ma túy và quan hệ tình dục bừa bãi cũng là một vấn đề rất đáng quan tâm.

X-  TÁC HẠI CỦA CÁC LOẠI MA TÚYXin xem mục MA TÚY VÀ CÁC CHẤT GÂY NGHIỆN trên trang Web này của Trung tâm.

KẾT LUẬN:

Sử dụng các chất ma túy dẫn đến nhiều nguy cơ: tăng liều lượng và chuyển sang các chất ma túy mạnh hơnrối loạn phát triển, thất bại trong hoà nhập xã hội, các tổn thương thể chất, tinh thần và dẫn đến cái chết. Nếu đối tượng bị gạt ra bên lề xã hội do sử dụng ma túy thì nguy cơ tổn thương về thể chất dẫn đến cái chết có thể xảy ra sớm, do bệnh tật và thiếu sự chăm sóc.

 

QUY TRÌNH ĐIỀU TRỊ VÀ CAI NGHIỆN TẠI TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG VÀ CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA

QUY TRÌNH ĐIỀU TRỊ, GIÁO DỤC NHẰM

ĐIỀU CHỈNH, PHỤC HỒI NHẬN THỨC,HÀNH VI, NHÂN CÁCH – NÂNG CAO SỨC KHỎE – CHỐNG TÁI NGHIỆN CHO NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY TẠI

TRUNG TÂM CAI NGHIỆN THANH ĐA

 

Bs. Nguyễn Hữu Khánh Duy – Giám đốc Trung tâm

Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa biên soạn

 

MÔ HÌNH ĐIỀU TRỊ

  1. CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU (Community Therapy) theo mô hình DAYTOP QUỐC TẾ . Có sửa đổi để phù hợp với điều kiện Việt Nam.XEM CHI TIẾT XIN BẤM VÀO ĐÂY (1) 
  2. MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU (Environment therapy) là sử dụng Môi trường để điều trị, giáo dục cho học viên. Bao gồm:
  • Môi trường Thiên nhiên Trị liệu (Natural – environment Therapy).
  • Môi trường Nhân tạo Trị liệu (Artificial – environment Therapy).
  • Môi trường Văn hóa Trị liệu (Cultural – environment Therapy).
  • Môi trường Xã hội Trị liệu (Social – environment Therapy).

III. KẾT HỢP ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC VỚI CÁC LIỆU PHÁP TƯ VẤN – LIỆU PHÁP TÂM LÝ – LIỆU PHÁP GIÁO DỤC –  LIỆU PHÁP XÃ HỘI… XEM CHI TIẾT XIN BẤM VÀO ĐÂY (2)  và CHI TIẾT TẠI ĐÂY (3) 

 

CÁC GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRỊ

 

 

 

GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ

 

  1. GIAI ĐOẠN TIẾP NHẬN: Các bước tiến hành

+  Xét nghiệm nước tiểu học viên để xác định loại ma túy

+  Tư vấn về phương pháp cai nghiện tại Trung tâm.

+  Tư vấn về các vấn đề vướng mắc của học viên và gia đình

+  Làm thủ tục nhập viện theo quy định.

+  Phổ biến nội quy, quy định của Trung tâm. Trước khi bệnh nhân nhập viện kiểm tra đồ dùng cá nhân – thay đồng phục của Trung tâm.

+  Làm các xét nghiệm cận lâm sàng để phát hiện các bệnh cơ hội hoặc các bệnh lây lan: XQ phổi – ECG – công thức máu – tổng phân tích nước tiểu – xét nghiệm để phát hiện viêm gan siêu vi B, C – giang mai – HIV/AISD.

+  Tư vấn 100% gia đình và học viên về chương trình cai nghiện: Nội trú – Bán trú và ngoại trú.

+  Sơ bộ xây dựng kế hoạch điều trị cho từng cá nhân.

+  Cung cấp tài liệu về cai nghiện phục hồi cho gia đình.

II.  GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRỊ CẮT CƠN – GIẢI ĐỘC – NÂNG CAO SỨC KHỎE:

+  Tiến hành ghi chép bệnh án theo lời khai bệnh nhân – Bác sĩ khám bệnh và cho Y lệnh điều trị – chú ý phát hiện các bệnh tâm thần – bệnh cơ hội.

+  Xác định các loại ma tuý và liều lượng ma túy mà đối tượng đã sử dụng để định hướng cắt cơn.

+  Phác đồ cắt cơn: phác đồ an thần kinh của Bộ Y tế đối với bệnh nhân sử dụng Heroine.

+  Thực hiện tư vấn tâm lý trước khi cắt cơn

+  Kết hợp sử dụng thuốc với biện pháp tâm lý và các biện pháp phục hồi chức năng: cắt cơn trong phòng lạnh (lạnh trị liệu) – Massage – tắm hơi.

+  Cắt cơn kết hợp với điều trị các bệnh cơ hội (Nếu cần thiết phải điều trị ngay).

+  Nâng cao sức khỏe.

III. GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRỊ – GIÁO DỤC NHẰM GỌT GIŨA – ĐIỀU CHỈNH – PHỤC HỒI NHẬN THỨC – HÀNH VI – NHÂN CÁCH bao gồm:

1.   NÂNG CAO NHẬN THỨC -TRÌNH ĐỘ học viên:

1.1 DẠY VĂN HÓA:

1.2 HỌC TẬP CÁC CHUYÊN ĐỀ: Giáo dục công dân + Giáo dục đạo đức + Giáo dục sức khỏe và cộng đồng + Giáo dục pháp luật, an ninh quốc phòng + Giáo dục truyền thống.

2. GIÁO DỤC TRỊ LIỆU: nhằm nâng cao bản lĩnh và kỹ năng sống cho học viên.

2.1 GIÁO DỤC TƯ DUY TÍCH CỰC – TỰ CHỦ, QUẢN LÝ BẢN THÂN – NHẬN THỨC CÁC GIÁ TRỊ SỐNG (Living values) XEM CHI TIẾT XIN BẤM VÀO ĐÂY (3) . Chương trình này được sự hỗ trợ của Tổ chức UNESCO và UNICEF (Liên hiệp quốc) và do CỤC PHÒNG CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI – Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội huấn luyện.

2.2 TÂM NĂNG DƯỠNG SINH:

–     Thiền định XEM CHI TIẾT XIN BẤM VÀO ĐÂY (7)

–     Tập Thái cực Trường sinh

2.3.SINH HOẠT TRỊ LIỆU: người cai nghiện tham gia các hoạt động lao động, sinh họat hàng ngày như trực vệ sinh buồng ở và cảnh quan nơi công cộng, sữa chữa tu bổ cơ sở vật chất để người nghiện sống có trách nhiệm lẫn nhau, có trách nhiệm với Trung tâm, với cộng đồng và hình thành thói quen tốt trong sinh hoạt.

2.4.HOẠT ĐỘNG TRỊ LIỆU – GIẢI TRÍ TRỊ LIỆU:

Hoạt động văn hóa văn nghệ: thiết bị âm thanh được trang bị đầy đủ, đội văn nghệ tập luyện thường xuyên, ngoài ra còn được học vẽ, học nhạc. Định kỳ hoặc các ngày lễ Tết đều tổ chức các chương trình sinh hoạt tập thể, trò chơi vận động, giao lưu văn thể mỹ với các đơn vị bạn hoặc mời các đơn vị bạn đến Trung tâm.

* Hoạt động thể dục thể thao được quan tâm – cơ sở vật chất đầy đủ – Học viên được thường xuyên tập luyện và giao lưu, thi đấu với các đơn vị bạn.

Ngoài mục đích giáo dục, 02 biện pháp giải trí này còn giúp học viên chống trầm cảm, phục hồi hệ thống sản xuất Dopamin của não.

IV.  TƯ VẤN – TÂM LÝ TRỊ LIỆU NHÓM, CÁ NHÂN GIA ĐÌNH – QUẢN LÝ CA mục đích: XEM CHI TIẾT XIN BẤM VÀO ĐÂY (2) 

* Hiểu biết hoàn cảnh– Tâm tư người cai nghiện.

Giúp người cai nghiện nhận thức được bản thân, sửa chữa lỗi lầm, xóa bỏ sự cô độc, mặc cảm, đồng thời thúc đẩy sự tôn trọng lẫn nhautạo sự cởi mở vui vẻ với mọi người.

* Định hướng được cuộc sống và biện pháp hành động cho bản thân thời gian tới.

V. HUẤN NGHIỆP TRỊ LIỆU – LAO ĐỘNG TRỊ LIỆU – SẢN XUẤT TRỊ LIỆU:

1. MỤC ĐÍCH: HUẤN NGHIỆP TRỊ LIỆU – LAO ĐỘNG TRỊ LIỆU – SẢN XUẤT TRỊ LIỆU là yếu tố quan trọng giúp đối tượng phục hồi nhanh chóng tình trạng nghiện – Mục tiêu trị liệu bao gồm:

+  Cải thiện sức khỏe.

+  Tập luyện và phát triển về thể chất và tâm trí.

+  Tăng cường ý thức tổ chức kỷ luật trong lao động.

+  Tăng cường kỹ năng lao động.

+  Tăng lòng tự tin.

+  Tăng tính tự trọng.

+  Khuyến khích tinh thần tự lập.

+  Hiểu được ưu nhược điểm của bản thân.

+  Nhận thức được giá trị của lao động trong đời sống

+  Lượng giá điều trị.

2. NỘI DUNG THỰC HIỆN:

Mục đích:

+  Tu bổ cơ sở vật chất Trung tâm, nâng cao đời sống của học viên.

+  Tùy theo sức khỏe, trình độ, thời gian và kết quả học tập – rèn luyện, nguyện vọng của học viên mà bố trí việc làm, học nghề phù hợp.

  • Các bộ phận hiện có:

+  Lớp điện cơ.

+  Lớp điện lạnh.

+  Lớp cơ khí.

  • Lớp may mặc

+  Lớp sinh ngữ.

+  Bộ môn máy công cụ (Tiện – phay – hàn – bào).

+  Bộ môn mỹ nghệ.

 

GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRỊ BÁN TRÚ

I. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Tại Việt Nam phần lớn người cai nghiện sau thời gian điều trị tại trung tâm về ngay với cộng đồng vì những lý do chủ yếu như công việc làm ăn, kinh tế, khó khăn, thiếu hiểu biết,… thêm vào đó chúng ta có rất ít trung tâm làm tốt công tác điều trị trung chuyển từ cai nghiện nội trú qua giai đoạn tái hòa nhập cộng đồng. Kết quả là giai đoạn tái hoà nhập cộng đồng được thực hiện một cách cưỡng ép và thường dễ bị thất bại.Người cai nghiện từ trung tâm trở về cộng đồng dễ có tư tưởng hụt hẫng khi thay đổi môi trường một cách đột ngột. Do đó, sau thời gian cai nghiện nội trú và trước khi tái hòa nhập cộng đồng, người nghiện cần một thời gian điều trị bán trú để học cách thích nghi dần thông qua thử thách gọi là “giai đoạn chuyển tiếp”. Để giúp người cai nghiện tiếp tục duy trì một cuộc sống không ma túy thì quá trình hỗ trợ là một yếu tố rất cần thiết. Người cai nghiện vừa có thể tham gia các hoạt động ngoài xã hội như làm việchọc nghềhọc văn hóa … nhưng vẫn chịu sự quản lý chặt chẽ của Trung tâmNHÀ TRUNG CHUYỂN SẼ GIÚP HỌ TỪNG BƯỚC TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG. Để thực hiện tốt việc này người cai nghiện phải hiểu rằng mình phải chịu trách nhiệm chính đối với bản thân mình dưới sự hỗ trợ của cán bộ điều trị và tập thể.

Chương trình chuẩn bị tái hoà nhập cộng đồng cho người nghiện ma tuý là rất cần một sự liên tụcPhục hồi được gọi là thành công khi người nghiện có thể đương đầu được với các tình huống  sau khi họ được ra về từ NHÀ TRUNG CHUYỂN (HALFWAY HOUSE).

II. NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ TRUNG CHUYỂN:

Thông qua điều trị bán trú tại Nhà trung chuyển, người cai nghiện vẫn tiếp tục được quản lý tại Trung tâm nhưng vẫn có những cơ hội tiếp cận dần với các hoạt động ngoài xã hội, giải quyết những khó khăn của bản thân, trang bị bản lĩnhkỹ năng sống. Người cai nghiện được sự hỗ trợ cần thiết để cho họ thay đổi dần trước khi hòa nhập lại cộng đồng. Để thực hiện tốt mục tiêu trên cần sự hợp tác chặt chẽ giữa Trung tâm – học viên và gia đìnhTinh thần hợp tác và ý thức tự giác của học viên là vô cùng quan trọng.

1. MỤC ĐÍCH THÀNH LẬP KHOA ĐIỀU TRỊ BÁN TRÚ:

1.1 Giúp người đã cai nghiện củng cố những kỹ năng cần thiết cho cuộc sống bình thường, tập thích nghi dần với các sinh hoạt tại cộng đồng.

1.2 Khuyến khích người đã cai nghiện tham gia các hoạt động để họ cảm thấy mình còn có ích, vẫn còn khả năng, có ý thức về bổn phận vàtrách nhiệm.

1.3 Người đã cai nghiện được mạng lưới hỗ trợ xã hội giúp đỡ để gắn kết với những người bình thường.

1.4 Giúp người đã cai duy trì ý thức làm chủ bản thân và trách nhiệm với cuộc sống của mình.

1.5 Đối tượng được tiếp tục kiểm tra việc sử dụng ma túy để có những biện pháp xử lý kịp thời.

1.6 Tất cả mọi người đều có nhu cầu giao tiếptrao đổi tâm tư tình cảmsuy nghĩ. Riêng đối với người cai nghiện khi trở về cộng đồng khó có ngay bạn bè tốt mà lại phải tiếp cận với một số bạn bè xấu, tiêu cực, sử dụng ma túy. Đây là một nguy cơ rất lớn trong việc tái sử dụng ma túy của người cai nghiệnNhà trung chuyển sẽ là nơi người cai nghiện có điều kiện tiếp cận được những bạn bè đồng cảm – những bạn bè này đã từng sử dụng ma túy nhưng họ đã được giáo dục, rèn luyện một thời gian dài tại trung tâm, đồng thời họ cũng được tuyển chọn từ những người cai nghiện tốt.

2. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN:

Hồi phục là một quá trình phát triển liên tục, bao gồm các vấn đề sau:

2.1 Điều chỉnh về tâm lý: Giúp đối tượng chế ngự và xử lý những thèm nhớ ma tuý, những dấu hiệu cảnh báo tái nghiện, những nguyên nhân dẫn đến buồn chán, cô đơnthất vọngchấn thương tâm l‎ý.

2.2 Điều chỉnh về xã hộiGiải quyết các mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau, giữa cá nhân và gia đình, những căng thẳng trong cuộc sốngduy trì việc làm ổn định, những áp lực từ bạn bè  xã hộiquản lý tiền bạc và sự điều chỉnh với cuộc sống mới 

2.3 Cân bằng lối sốngThực hiện và tham gia các hoạt động xã hội, cân bằng giữa công việc  thời gian nhàn rỗi  Trung tâm có nhiệm vụ quản lý giờ giấc sinh hoạt, làm việc, học tập của học viên để người cai nghiện có lối sống trật tự, ngăn nắp.

2.4 Kế hoạch hồi phục dài hạnCó kế hoạch từng bước cho công tác cai nghiện.

2.5 Phát triển mạng lưới trợ giúp: Đây là một yếu tố quan trọng trong quá trình hỗ trợ người cai nghiện tiến đến sự hồi phục.

3. NỘI DUNG THỰC HIỆN:

Mô hình nhà bán trú đã giữ một vai trò rất quan trọng từ thập niên 1970. Một số nhà bán trú thuộc nhà thờ Thiên chúa đã được thành lập vào khoảng thời gian đó, gồm có tên là: Hiding Place (Nơi ẩn nấp), Helping Hand (Bàn tay giúp đỡ), và Teen Challenge (Thách thức tuổi thơ) … Các nhà bán trú này đã giúp đỡ hàng ngàn người nghiện kể từ khi đó. Yếu tố tinh thần tự giáclà nhân tố quyết định chính trong chương trình phục hồi của các nhà bán trú.

Chương trình điều trị trong giai đoạn này bao gồm:

3.1 Quản lý học viên:

Trong thời gian này người cai nghiện sẽ được phép đi ra ngoài làm việc,học nghềhọc văn hóa và quay về lại trung tâm khi đến giờ quy định. Quá trình này nên kéo dài ít nhất là 6 tháng.

Việc gặp gỡ giữa các học viên đã hoàn thành chương trình cai nghiện trở về tái hòa nhập cộng đồng là cần thiết để các thành viên có thể hỗ trợ nhau trao đổi tình cảm, kinh nghiệm trong cuộc sống.

3.2 Tư vấn – Tâm lý trị liệu – Giáo dục trị liệu:

Trong giai đoạn này người cai nghiện vẫn tiếp tục được sự giúp đỡ  và giám sát của cán bộ điều trị. Mọi mặt đời sống của họ được chăm sóc thông qua các buổi sinh hoạt và tư vấn cá nhân  nhómNgười đã cai, từng bước được phép về nhà để học cách thích nghi dần với cuộc sống và gia đình. Họ được khuyến khích bày tỏ các cảm xúc tích cực cũng như tiêu cực khi quay trở về nhà  về với cộng đồng. Đây là một cách tốt để điều chỉnh về hành vi  tâm lý của họ. Thông qua các biện pháp chuyên môn cán bộ điều trị sẽ sớm nhận biết các biểu hiện của người cai nghiện như thất vọng, bi quan là cực kỳ quan trọng để phát hiện  giải quyết kịp thời những khả năng gây tái nghiện. Tất cả những gì mà họ đã học được trong quá trình điều trị sẽ được bộc lộ ở giai đoạn này.

3.3 Kiểm tra việc tái sử dụng ma túy:

Học viên được thường xuyên xét nghiệm nước tiểu đột xuất và định kỳ tối thiểu 01 lần / 01 tuần để kịp thời phát hiện học viên tái sử dụng ma túy hay không để có biện pháp ngăn chặn kịp thời.

3.4 Người tư vấn đồng đẳng: 

Những người đã hoàn thành chương trình ở NHÀ TRUNG CHUYỂN (Halfway House) với kết quả đạt yêu cầu được xét làm người tư vấn đồng đẳng. Người tư vấn đồng đẳng cần có đầy đủ năng lực nghiệp vụ đề ra  thực hiện được vai trò của người giám sát. Người tư vấn đồng đẳng có thể được xem như là đầu đàn của tập thể học viên nội trúbán trú, người sẽ làm vai trò mẫu mực cho người cai nghiện, sẽ làm việc thường xuyên trong chương trình điều trị và được hưởng phụ cấp. Họ là những trợ lý cho các cán bộ điều trị trong hoạt động hàng ngày cũng như việc tiến hành chương trình cai nghiện. Là vai trò hình mẫu và vai trò hỗ trợ cho những vẫn còn đang điều trị, họ sẽ không chỉ thôi thúc người cai nghiện tiến đến cuộc sống không ma tuý, mà họ còn là những động lực để duy trì sự thành công trong việc hoà nhập xã hội của người cai nghiện. 

3.5 Sự quan hệ đối với gia đình và những người có ảnh hưởng:

Các thành viên gia đình được mời tham gia vào quá trình điều trị ngay khi người cai được đưa vào chương trình điều trị bán trúCán bộ điều trị giữ liên lạc đều đặn với các thành viên gia đình và các buổi sinh hoạt nhóm gia đình cũng được tiến hành đều đặn. Theo cách đó, các thành viên gia đình và những người có ảnh hưởng sẽ biết cách đóng vai trò hỗ trợ trong quá trình phục hồi của người cai nghiện. Sự hợp tác từ phía gia đình và của những người có ảnh hưởng là cực kỳ quan trọng để cán bộ điều trị nắm bắt được quá trình tiến bộ cá nhân của người cai nghiện.

3.6  Làm việc nhóm: 

Người tư vấn và những tình nguyện viên có kinh nghiệm tiến hành làm việc nhóm cho người nghiện đang phục hồi. Mục tiêu là giúp người nghiện sự điều chỉnh cho phù hợp vói một lối sống mới để hoà nhập với xã hội.

3.7 Giải quyết việc làm – tiếp tục theo học các chương trình văn hóa, đào tạo nghề: 

Người cai nghiện được tạo cơ hội để tự quản lý giờ giấc sinh hoạt bản thân, mặt khác họ được trao quyền tự chịu trách nhiệm với cuộc sống. Với tính tự giác cao, dưới sự kiểm soát chặt chẽ của trung tâm giúp nâng cao sự tự tin và lòng tự trọng của người cai nghiện, khích lệ và tạo động cơ cho họ thay đổi lối sống. 

Một số người cai nghiện là sinh viên – học sinh cần phải tiếp tục theo học ở các trường lớp. Vì lý do bỏ học và ma túy làm tổn thương hệ thống não bộnên việc theo học văn hóa sẽ gặp phải một số khó khăn.

3.8 Can thiệp gia đình: 

Gia đình cần tích cực trợ giúp họ. Điều này cực kỳ quan trọng bởi vì khi người cai nghiện trở về nhà họ cần tiếp sự hỗ trợ của gia đình để giúp họ phục hồi. Do có nhiều gia đình vẫn chưa biết cách giải quyết hay điều chỉnh khi có người nghiện trở về nên việc tư vấn gia đình là rất cần thiết. Các gia đình cần có sự hiểu biết tốt cách giúp đỡ những người thân yêu của mình khi trở về gia đình. Đôi khi có một số tình huống mà gia đình có thể trở thành những cản trở thay vì giúp đỡ sự phục hồi của người cai nghiện nếu gia đình không biết cách xử lý.

III. NHỮNG VẤN ĐỀ THƯỜNG GẶP ĐỐI VỚI NGƯỜI TƯ VẤN VÀ NGƯỜI CAI NGHIỆN:

Kết quả cai nghiện phụ thuộc vào khả năng giải quyết của người cai nghiện, họ phải sống theo một lối sống mới không ma tuý.

  1. KHẢ NĂNG GIẢI QUYẾT CỦA NGƯỜI CAI NGHIỆN ĐƯỢC QUYẾT ĐỊNH BỞI NHỮNG YẾU TỐ SAU:
  •  Mức độ tự tin và tính kiên nhẫn của cá nhân
  • Phát triển các giá trị khác nhau để bắt đầu lại
  • Gặp những người bạn mới không nghiện ma tuý hoặc đã cai nghiện thành công
  • Làm việc hàng ngày trong một môi trường mới
  1. KỸ NĂNG TƯ VẤN TRONG VIỆC TRANG BỊ KIẾN THỨC:

Người tư vấn cần dẫn bước người cai nghiện đi suốt quá trình học tập. Cá nhân đang phục hồi phải học cách đối phó một cách chủ động và quyết liệt khi họ rời khỏi chương trình bán trú, vì họ vẫn chưa hết rủi ro tái nghiện. Trong giai đoạn hỗ trợ điều trị nội trú và trước khi tái hoà nhập cộng đồngsự trợ giúp đưa ra phải đúng đắn, phù hợp và đúng lúcNhững trượt ngã là không thể tránh khỏi, do vậy, điều quan trọng là cá nhân đang phục hồi cần có một người thầy tốt để họ có thể có những sự giúp đỡ trước khi bị sa vào tình trạng tái nghiện. Việc giúp đỡ tư vấn này cần kéo dài ít nhất là một năm.

3. CÁCH TRỢ GIÚP NGƯỜI NGHIỆN ĐANG PHỤC HỒI:

–   Sự cần thiết về tâm lý: ý thức về những nhu cầu của đối tượng và lưu ý về những cái có thể gây tổn thương đối tượng.

–   Cách tiếp cận: Coi đối tượng là trung tâm chứ không phải là việc điều trị và cần vô tư, bày tỏ sự ấm áp, niềm nở và quan tâm.

–   Quyết định thời điểm: Khi đối tượng sẵn sàng phục hồi thì cần đưa ra những trợ giúp cần thiết.

–   Sự tận tâm giúp đỡ: Có mặt cùng đối tượng khi cần, giúp đỡ và cần phải chắc chắn.

–   Môi trường: Cần có nơi thuận lợi, tạo điều kiện phù hợp cho công tác cai nghiện phục hồi.

–   Việc chăm sóc: phải tôn trọng, không xúc phạm đối tượng và cónội quyquy định cụ thể

–   Việc kiểm tra – giám sát: Thông qua các biện pháp thử thách vàtheo dõi, có quy định cụ thể.

Việc trang bị cho người cai nghiện đang phục hồi những kỹ năng sống vànghề nghiệp có tầm quan trọng to lớn. Khái niệm việc làm được xem là một yếu tố cơ bản. Tầm quan trọng của việc học nghềhọc văn hóa được đặt trọng tâm chủ yếu ở phần điều trị bán trú. Nó nằm ở sự nhận thức về chính bản thân; có đóng góp tài chính cho gia đình được coi trọng vànâng sự tự tin lên. Lòng tự trọng thấp và sự tự tin nghèo nàn luôn song hành với tình trạng thất nghiệp. Do vậy, việc học kinh nghiệm thông qua thái độ và cách ứng xử trong công việc cần được xem là một phần của chương trình phục hồi. Việc đặt ra trách nhiệm cùng công việc (nghề nghiệp) được xem là một phần của chương trình điều trị sẽ chắc chắn đem lại sự hoà nhập cho người cai nghiện quay trở về với xã hội.

Phải giúp đỡ người cai nghiện bằng cách khơi dậy cách nhìn nhận về những điều tốt đẹpcó ý nghĩa trong cuộc sống thay vì việc phải dùng đến ma tuý hay những thứ gây hại khác.

Việc tìm hiểu các yếu tố cần thiết trong việc hỗ trợ sau cai và tái hoà nhập cộng đồng là để xác định những nhu cầu của đối tượng trong cuộc sống, để đề ra những trợ giúp về tinh thần và để nâng cao nhận thức về xã hội. Đối tượng cần được giúp đỡ để nhận ra và giải quyết những tâm tư khúc mắc của họ khi tái hoà nhập cộng đồng.

Định hướng trong giai đoạn này là đáp ứng nhu cầu của đối tượng để đảm bảo họ sẵn sàng tiến tới kết quả thực sự. Do đó điều cơ bản là cán bộ điều trị vừa có thể tạo lập được sự đánh giá lại vừa xây dựng kế hoạch điều trị có sự tham gia của đối tượng. Sự đồng ý và quyết tâm phục hồi của đối tượng là điều căn bản, nó là động lực cổ vũ họ đổi mớisẽ phục hồi họ một cách toàn diện, và nối tiếp là sự hoà nhập xã hội thành công của họ.

IV. KẾT LUẬN:

Nghiện ma túy là một bệnh não mãn tính có đặc tính dễ tái nghiện, việcđiều trị phải kiên trì nắm bắt kịp thời tâm tư, tình cảm sinh hoạt của đối tượng để có sự điều chỉnh phù hợp. Chúng ta không nên quá hoảng hốt khi một người đã cai nghiện ma túy tái sử dụng ma túy. Vấn đề chính làphải phát hiện sớm – điều trị sớm để tránh những tổn thương hệ thống não bộ, hình thành thói quen xấu.

Công tác cai nghiện phải xác định là khó khăn, lâu dài. Mục đích cai nghiện là thúc đẩy nhanh quy trình cai nghiện bằng những biện pháp khoa học, trong đó có công tác tư vấn – Tâm lý trị liệu – Giáo dục trị liệu và các liệu pháp xã hội là chủ yếu.

Để cai nghiện ma túy thành công cần có những bước đi thích hợpNgôi nhà trung chuyển là bước đệm cần thiết cho người cai nghiện chuyển từ cai nghiện nội trú qua tái hòa nhập cộng đồng.

preview

preview

GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ

  1. ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU TRỊ:

     

     

     

     

    1. Các học viên sử dụng ma túy nhóm OMH (Thuốc phiện – Morphim- Heroin)
    2. Các học viên nghiện các loại ma túy khác (hàng đá, cần sa, cỏ mỹ ….) đã qua giai đoạn điều trị bán trú.
  2. ĐIỀU TRỊ CHO ĐỐI TƯỢNG NGHIỆN NHÓM OMH 
    XEM CHI TIẾT XIN BẤM VÀO ĐÂY (4) 

     

     

     

     

    XEM CHI TIẾT XIN BẤM VÀO ĐÂY (5) 

XEM CHI TIẾT XIN BẤM VÀO ĐÂY (6) 

Phải thông qua 2 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1: Điều trị nội trú, thời gian tối thiểu là 1 tháng
  • Giai đoạn 2: Điều trị ngoại trú thời gian tối thiểu 1 năm
  1. NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ

Khi học viên uống thuốc Naltrexone sẽ không còn cảm giác thèm nhớ và thích thú khi sử dụng Heroin.

1.1 Tuy nhiên học viên cần có một thời gian điều trị nội trú tối thiểu là 1 tháng để học tập, rèn luyện nhằm phục hồi một phần về nhận thức, hành vi, nhân cách và hiểu biết một số kiến thức tối thiểu những kỹ năng từ chối, kỹ năng đối phó khi gặp sự lôi kéo của bạn bè tiếp tục sử dụng heroin.

1.2  Do đặc tính sử dụng Naltrexone học viên quên dần ma túy chứ không quên ngay được nên việc điều trị nội trú một thời gian là rất cần thiết.

2. NỘI DUNG ĐIỀU TRỊ:

2.1. Học viên uống thuốc một tuần 3 lần vào bất cứ thời gian nào trong ngày.

2.2 Thường xuyên xét nghiệm nước tiểu để kịp thời phát hiện học viên có tái sử dụng ma túy hay không hoặc chuyển đổi sử dụng loại ma túy khác để có biện pháp giải quyết phù hợp.

2.3 Học viên được tiếp tục tư vấn tâm lý trị liệu để:

  • Giúp bệnh nhân hiểu và có thể đương đầu với áp lực của bạn bè cũphe nhóm xấu muốn họ tái nghiện.
  • Nếu bệnh nhân bị vui hay buồn quá độ, giúp họ nhận ra tình trạng bất thường ấy để tìm cách vượt qua.
  • Nếu bệnh nhân có những nhận thức sai lạc, giúp họ cách xử lý chúng.
  • Giúp bệnh nhân hướng tới một lối sống điều độ, cân bằng.
  • Giúp bệnh nhân tự xây dựng cho mình những biện pháp phòng chống sa ngã và tái nghiện.
  • Học viên sinh hoạt bình thường nên có thể tự đi học – tự đi làm tăng thêm thu nhập cho gia đình và gia đình không còn sợ cảnh học viên trộm cắp đồ đạc trong gia đình hoặc vi phạm hình sự.

3) BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:

  • Kiên trì đeo bám từng học viên để họ không bỏ chương trình.
  • Đặt vấn đề Giáp dục – Tư vấn – Tâm lý trị liệu nhằm Gọt giũa – điều chỉnh – phục hồi nhận thức hành vi – nhân cách là chủ yếu. Uống thuốc là biện pháp hỗ trợ.
  • Thực hiện một cách khoa học, kết hợp, đồng bộ, xuyên suốt, khép kín, kịp thời, linh hoạt.
  • Học viên không vào uống thuốc sẽ được nhắc nhở liên tục trong ngày, thông báo gia đình. 100% gia đình học viên có số điện thoại của tất cả CBNV KHOA CHỐNG TÁI NGHIỆN để kịp thời thông báo và giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến học viên.
  • Khoa phục vụ 24/24h mỗi ngày.
  • Học viên được điều trị ngoại trú có một thời gian dài để gọt giũa – điều chỉnh – phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách mà không ảnh hưởng đến sinh hoạt – học tập và tình cảm cá nhân cũng như gia đình – chi phí điều trị cũng giảm hơn 60% so với điều trị tập trung.
  • Khoa có rất nhiều tư liệu về ma túy. CBNV Khoa thường xuyên được tập huấn về công tác cai nghiện – phục hồi.
  • Củng cố cơ sở vật chất tạo điều kiện vui chơi, giải trí. Học viên đến uống thuốc được sử dụng toàn bộ câu lạc bộ. Mỗi tháng Khoa tổ chức cho học viên ngoại trú kết hợp với học viên bán trú sinh hoạt nhóm, kết hợp với dã ngoại và tổchức liên hoan vào các dịp lễ, tếtTrung tâm chịu mọi chi phí,để lôi kéo học viên uống thuốc Naltrexone.
  • Khoa thành lập Câu lạc bộ Khoa trực thuộc Hội LHTN VN Công ty gồm các Đoàn viên, Hội viên Khoa và các học viên điều trị ngoại trú, để hổ trợ học viên về tinh thần – xây dựng niềm tin và lòng tự trọng của học viên.

4. QUAN HỆ HỌC VIÊN TRUNG TÂM – GIA ĐÌNH – CỘNG ĐỒNGlà vô cùng cần thiết. Sau thời gian điều trị ngoại trú bằng thuốc Naltrexone tối thiểu 1 nămtiếp tục theo dõi học viên có tái sử dụng ma túy hay không bằng cách xét nghiệm thường xuyên nước tiểu để phát hiện chất ma túyThời gian theo dõi nước tiểu tối thiểu là 1 năm. Học viên nếu tái sử dụng ma túy điều trị lại từ đầu. Do phát hiện kịp thời nên giảm được tác hại của ma túy, học viên phục hồi nhanh.

II. ĐIỀU TRỊ CHO ĐỐI TƯỢNG SAU GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRỊ BÁN TRÚ:

Đối tượng sau giai đoạn điều trị bán trú một năm có thể tham gia chương trình này. Do Naltrexone chỉ có tác dụng trên đối tượng sử dụng nhóm OMH (Heroin – Morphim – Thuốc phiện) nên không điều trị bằng Naltrexone cho học viên cai nghiện sử dụng các loại ma túy khác mà chỉ theo dõi học viên có tái sử dụng ma túy hay không (thông qua xét nghiệm nhằm phát hiện ma túy trong nước tiểu), kết hợp với biện pháp: Tư vấn – Tâm lý trị liệu – Giáo dục trị liệu.

HÌNH ẢNH TỔN THƯƠNG NÃO BỘ NGHIÊM TRỌNG

 TRÊN NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY:

 

MA TÚY:

NÃO BỆNH NHÂN NGHIỆN HÀNG ĐÁ (METHAMPHETAMINE)

ma tuy

 ma tuy

ma tuy

ma tuy

ma tuy

 

ma tuy

ma tuy

 

ma tuy

ma tuy

 

Phạm tội do “ngáo đá”: Xử phạt như thế nào?

(Chinhphu.vn) – Từ lúc ma túy đá xuất hiện ở Việt Nam, đã có nhiều vụ thảm án mà hung thủ thực hiện trong cơn cuồng loạn. Người bị “ngáo đá” có các biểu hiện gần như giống với bệnh tâm thần phân liệt nhưng mức độ nguy hiểm hơn. “Ngáo đá” gây hoang tưởng tâm thần nhưng có phải là tình tiết giảm nhẹ khi xử án?

 

Đối tượng "ngáo đá" cầm kéo khống chế người yêu. Ảnh minh họa

Ma túy đá có chứa chất dạng Methamphetamine hoặc Amphetamine được tổng hợp từ các hóa chất. Ngoài tác dụng gây “phê” như heroin, thuốc lắc, ma túy đá còn khiến người sử dụng sẽ trở nên hung hãn, tinh thần hưng phấn, thần kinh bị rối loạn, mất khả năng làm chủ hành vi.

Từ lúc ma túy đá xuất hiện ở Việt Nam, đã có nhiều vụ thảm án mà hung thủ thực hiện trong cơn cuồng loạn, như trường hợp một ca sĩ ở Hưng Yên lên cơn “ngáo đá” đã giết người yêu chỉ vì nghĩ cô này là quỷ. Hay nam thanh niên tại Mỹ Đức (Hà Nội) dùng dao đâm trọng thương bố mẹ và em trai, sau đó tự tử.

Vậy người “ngáo đá” có được hiểu là mất năng lực hành vi dân sự? Và những kẻ phạm tội do tình trạng "ngáo đá" sẽ bị xử phạt như thế nào?

Xử như thường  

Theo ý kiến của chuyên gia, dưới góc độ luật pháp, “ngáo đá” có thể khiến người sử dụng ma túy gây các tội ác trong tình trạng loạn thần nặng nhưng không phải là tình tiết giảm nhẹ. Pháp luật đã có quy định về trường hợp người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc các chất kích thích mạnh khác vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự và “ngáo đá” cũng không ngoại lệ.

TS. Ngô Văn Vinh, Viện trưởng Viện Giám định Pháp y tâm thần Trung ương cho rằng, người  “ngáo đá” có triệu chứng của tâm thần dưới góc độ khoa học. Nhưng dưới góc độ pháp luật, “ngáo đá” chính là hậu quả của hành vi sử dụng ma túy gây ảo giác. Một khi đã xác định đây chính là hậu quả của hành vi sử dụng ma túy gây ảo giác thì phải giám định rất kỹ để đánh giá được việc sử dụng ra sao, mức độ ảnh hưởng thần kinh đến đâu.

Luật sư Lê Văn Đài, Văn phòng luật sư Khánh Hưng, Đoàn luật sư Hà Nội cho biết, ở góc độ y học, sau khi sử dụng Methamphetamine, người “ngáo đá” có triệu chứng của người mắc bệnh tâm thần, tách rời khỏi thực tại (ảo tưởng) hoặc ảo giác. 

Còn ở góc độ pháp lý, người bị “ngáo đá” là hậu quả của hành vi chủ động, không vô thức khi bắt đầu sử dụng chất ma túy (là một loại chất kích thích mạnh), do đó, pháp luật hiện hành không coi họ là người mắc bệnh tâm thần và không có cơ sở đề nghị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

Pháp luật chưa có quy định riêng biệt đối với người phạm tội trong tình trạng bị kích thích do nghiện ma túy, do “ngáo đá”, nhưng ở Điều 14 Bộ luật Hình sự đã có quy định chung là người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

Trường hợp người “ngáo đá” phạm tội thì cũng tương tự người phạm tội trong tình trạng say rượu hoặc chất kích thích mạnh khác, đều phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm đã gây ra.

Hoàng Anh

Bắt nhóm nghiện ma túy gây hàng loạt vụ cướp

http://soha.vn

Sáng 30-1, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thuận An (Bình Dương) đã bắt giữ Nguyễn Anh Tâm (21 tuổi), Lê Minh Tuệ (19 tuổi), Nguyễn Hùng Hậu (24 tuổi, cùng ngụ thị xã Thuận An, Bình Dương), Lê Hoài Sơn (16 tuổi, quê Bình Thuận) và Phạm Văn Tuần (17 tuổi, quê Bình Định) về hành vi cướp, cướp giật và trộm cắp tài sản.

Theo cơ quan Công an, Tâm cầm đầu băng nhóm này, từ 12-2017, đã tụ tập và rủ rê nhiều thanh thiếu niên hư hỏng trên địa bàn đến phòng trọ của mình để chơi ma tuý và sau đó khiển xe máy, sử dụng mã tấu để khống chế cướp, cướp giật và trộm tài sản của người dân.

Cả nhóm đã gây ra hàng lọat vụ cướp, cướp giật và trộm cắp tài sản trên địa bàn.

Ai từng là nạn nhân của các đối tượng (ảnh) liên hệ với Công an thị xã Thuận An để giải quyết.

 

 

 

 

Con nghiện đào hố chôn ma túy để qua mắt công an

http://doctinnhanh.net/

Nhằm qua mắt lực lượng chức năng, Vi Văn Xá (49 tuổi) đã đào hố để cất giấu ma túy, vũ khí. Tuy nhiên, đối tượng đã bị bắt quả tang khi đang thực hiện hành vi chia nhỏ ma túy để tiêu thụ. 

Vi Vông Xá (49 tuổi, trú xã Ngọc Lâm, huyện Thanh Chương) vốn là đối tượng nghiện hút ma túy lâu năm. Vì muốn kiếm tiền nhanh lại có ma túy để dùng, Xá không ngần ngại vượt đường xa lên huyện Tương Dương mua 2 gói ma túy với giá 20 triệu đồng rồi đem về chia nhỏ, bán lại cho những con nghiện ở địa phương.

con nghien dao ho chon ma tuy de qua mat cong an
Vi Văn Xá tại cơ quan công an.

Để qua mắt lực lượng chức năng, Xá nghĩ ra cách đào hố chôn ma túy dưới nền nhà. Tuy nhiên, đối tượng lại bị bắt quả tang khi đang chia lẻ ma túy để tiêu thụ.

Từ đó, Cơ quan công an đã phát hiện trên người và dưới nền nhà bếp của gia đình Xá có hai gói ma túy với trọng lượng 32, 325 gam ma túy đá; 5,32 gam heroin; một khẩu súng K54; 3 viên đạn, dao nhọn và một số vật dụng khác.

Tại cơ quan điều tra, Xá đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Hiện vụ việc đang được cơ quan công an điều tra và làm rõ.

Bảo Trang (Tổng hợp)

Phương pháp mới: Cai nghiện ma túy không dùng thuốc

zing.vn

Phương pháp mới: Cai nghiện ma túy không dùng thuốc

 

Người nghiện không phải đến trại tập trung, không cần dùng thuốc. Mỗi ngày cần bỏ ra 2h đồng hồ cùng các chuyên gia tâm lý thực hiện những bài tập. Sau 3 tháng họ có thể cai.

Đây là phương pháp chống tại nghiên trên cơ sở  xóa bỏ sự lệ thuộc vào ma túy bằng ngôn ngữ tình cảm do Trung tâm Nghiên cứu và Hỗ trợ tâm lý cho người nghiện ma túy (PDS) công bố.

Cai nghiện sau 10 năm chìm đắm trong khói thuốc

Phương pháp này dựa trên nền tảng lý thuyết về hệ thống chức năng được phát triển bởi P.K. Anokhin; các phương pháp khơi gợi ngôn ngữ tình cảm của các nhà khoa học như I.M, Schenov, P.V, Pavlov… 

Ông Lê Trung Tuấn, chủ tịch hội đồng sáng lập trung tâm cho biết: Phương pháp nhằm ngăn chặn sự hình thành tất cả những động cơ tiềm ẩn, thúc đẩy hành vi sử dụng ma túy, trong đó căng thẳng tâm lý là động cơ chủ yếu. 

Theo đó, nó tập trung vào giai đoạn chống tái nghiện, với tỷ lệ cai nghiện bước đầu thành công là 60%. Đây là phương pháp điều trị ngoại trú, không dùng thuốc, tác động đến tâm lý tạo cho người nghiện niềm tin nghiện ma túy hoàn toàn chữa được. 

Phuong phap moi: Cai nghien ma tuy khong dung thuoc hinh anh 1

Là một trong số những người cai nghiện thành công bằng phương pháp này, anh Lương Minh Tuấn (sinh năm 1977) kể lại, anh bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2001 khi bắt đầu bước chân vào trường ĐH Luật. Trong suốt thời gian nghiện, anh đã rất nhiều lần đi cai ở các trung tâm và cũng tự mua thuốc về cai tại nhà nhưng tất cả các hình thức cai nghiện đều trở nên vô nghĩa.

“Chỉ cần bước ra khỏi trung tâm, trở về nhà, vào nhà vệ sinh là tôi lại lên cơn thèm thuốc.  Trong hơn 10 năm nghiện, không nhớ bao lần đi cai, tôi chỉ biết thời gian cách ly với thuốc lâu nhất chỉ từ 10- 15 ngày, rồi lại tái sử dụng”, anh Tuấn nói. 

Chiếc gương trong nhà tắm – nơi anh Tuấn thường đứng trước gương, soi mình và hưởng thụ cảm giác phê sau mỗi lần hút, chích mang lại – chính là lý do khiến anh tái nghiện. 

Sau khi tìm đến Trung tâm PDS, anh Tuấn đã được các chuyên gia hướng dẫn tập luyện. Những buổi chuyện trò, những bài test tâm lý đã giúp anh cân bằng tâm lý, thoát ra khỏi nỗi ám ảnh của bản thân, cũng là tác nhân gây tái nghiện.

Chuyên gia nói gì?

Có mặt tại buổi hội thảo,Thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Nguyễn Trọng Đàm cho rằng, phương pháp này xuất phát từ cơ sở khoa học quốc tế, không dùng thuốc. Tuy nhiên, kết quả thực tế đến đâu còn phải chờ xem xét, công nhận của nhà khoa học. 

“ Qua các bài trình bày chúng tôi chưa rõ lắm về khía cạnh họat động thực tiễn của việc đưa phương pháp này vào như thế nào? Nói gì với người nghiện, ai nói, nói ở đâu, thời điểm nào, nói trong bao lâu thì người nghiện có thể có chuyển biến… 

Vì thế, tôi đề nghị Trung tâm cố gắng nghiên cứu thêm, đăng ký đề tài với cơ quan khoa học để được công nhận bằng hội đồng khoa học; từ đó mới có cơ sở để áp dụng”, thứ trưởng Đàm nhấn mạnh.

Đồng tình với quan điểm này, đại diện Cục Cảnh sát Điều tra Tội phạm Ma túy (Bộ Công An) cho rằng, đã từng đọc một tài liệu của Nga trong đó nêu rõ muốn cai nghiện chỉ có “ khoét não”-  điều này cho thấy việc cai nghiện ma túy không hề dễ dàng. “Trên thực tế việc cai nghiện tại cộng đồng, gia đình không hiệu quả – 100% tái nghiện. 

Còn vào trung tâm cai nghiện thì như biến tướng của trại tù. Đặc biệt, người nghiện nói nhẹ không nghe, động viên cũng khó suy chuyển chỉ có dùng bạo lực cưỡng ép thì mới thay đổi hành vi. Vì thế, khi nghe về phương pháp này, tôi thấy rất hay. Tuy nhiên vẫn cần có những nghiên cứu, những dẫn chứng cụ thể hơn nữa” – vị đại diện nhấn mạnh.

‘Cỏ Mỹ’ nguy hiểm hơn cần sa đang ‘hút’ giới trẻ

http://cand.com.vn/

‘Cỏ Mỹ’ nguy hiểm hơn cần sa đang ‘hút’ giới trẻ

 

TÁC HẠI MA TÚY THIÊN NHIÊN DẠNG HOANG TƯỞNG – CẦN SA

TÁC HẠI MA TÚY THIÊN NHIÊN DẠNG HOANG TƯỞNG – CẦN SA

Bác sĩ Chuyên khoa II, thầy thuốc ưu tú Nguyễn Minh Tuấn

CẦN SA

A. Mở đầu

Cannabis: hoạt tính δ9 – THC (δ9 – THC Tetrahydrocannabinol) không gây dung nạp và phụ thuộc cơ thể. Gây phụ thuộc tâm thần và gây nhiễm độc tâm thần. Chúng được chia làm 3 loại:

 – Marijuana: lá và hoa khô.

– Haschich: chiết xuất từ rễ cảu cây cái. 10 lần mạnh hơn marijuana.

 – Dầu: sền sệt, nhựa đen, độ tập trung δ9 – THC rất cao.

Được sử dụng bằng cách hút như hút thuốc lá hoặc thuốc lào cũng có thể được ăn hoặc uống (trộn lẫn).

B. Dịch tễ

Cần sa (còn được gọi là tài mà, thuốc cỏ…): là một chất ma túy bất hợp pháp được sử dụng phổ biến nhất ở Mỹ. Năm 1991 có khoảng 1/3 dân số sử dụng cannabis ít nhất một lần và khoảng 5% vẫn đang sử dụng. Ở nhóm 18-25 tuổi khonagr 50% đã sử dụng cannabis ít nhất một lần và khoảng 13% vẫn đang sử dụng. Ở nhóm 13-17 tuổi khonagr 13% đã sử dụng cannabis ít nhất một lần và khoảng 4% vẫn đang sử dụng (NIDA, 1991).

Theo số liệu của Pháp: ở nhóm 17- 18 tuổi sử dụng cannabis đều đặn là 13%(nam 18%, nữ 8%), {OFDT, 2003}. Và ở nhóm 18-75 tuổi sử dụng cannabis đều đặn là 1,4%(nam 2,3%, nữ 0,6%), {OFDT, 2002}. Ở nhóm 18-64 tuổi 32% đã sử dụng cannabis ít nhất một lần trong đời và 12% nam, 7% nữ đã sử dụng ít nhất một lần trong năm, {OFDT, 2003}.

C. Đặc điểm dược lý

Như đã nêu ở trên, thành phần chính của cannabis là δ9 – THC (Tetrahydrocannabinol), tuy nhiên cannabis chưa tới hơn 400 chất hóa học và khoảng 60 chất trong số đó có δ9 – THC .Ở trong cơ thể, δ9 – THC nhanh chóng được chuyển hóa thành 11-hydroxy-δ9 – THC, chất chuyển hóa này tác động trên hệ thần kinh trung ương.

Receptor cannabinoid được liên kết với G protein ức chế thông qua liên kết với adenylyl cyclase. Các receptor cannabinoid tập trung cao nhất ở hạch nền, hồi hải mã và tiểu não và tập trung ít hơn ở vỏ não.

Người ta thấy có sự dung nạp cannabis và sự phụ thuộc về tâm thần nhưng chưa có bằng chứng thuyết phục về sự phụ thuộc về cơ thể. Hội chứng cai trên người rất ít và tăng biểu hiện cáu kỉnh, bồn chồn, mất ngủ, chán ăn tâm thần avf buồn nôn. Các triệu chứng này chỉ xuất hiện khi ngừng sử dụng cannabis ở liều cao.

Khi hút cannabis tác dụng khoái cảm xuất hiện sau vài phút, đạt đỉnh điểm sau khoảng 30 phút và kéo dài 2-4 giờ. Một số tác động lên vận động và nhận thức kéo dài từ 5-12 giờ. Cannabis cũng được sử dụng qua đường ăn uống như có trong bánh, nước phở, súp…Tác động qua đường hút mạnh gấp 2-3 lần qua đường ăn uống.

D. Biểu hiện lâm sàng

Biểu hiện lâm sàng thường gặp sau khi sử dụng cannabis là giãn mạch máu kết mac nên gây đỏ mắt và nhịp tim tăng vừa. Dùng liều cao, có thể tụt huyết áp ở tư thế đứng. Tăng khẩu vị, mồm nhai chóp chép, khô miệng là biểu hiện thường thấy trong nhiễm độc cannabis. Hầu như không thấy tử vong nếu chỉ nhiễm độc cannabis.

  1. Tác động: 70 lần hơn Nicotine.
  • Với liều trung bình  cảm thấy khoái cảm, âm thanh và âm nhạc nghe khác đi, cảm thấy thời gian biến đổi.
  • Với liều cao toàn bộ các chức năng tâm thần bị rối loạn, cảm giác thực tại bị rồi loạn, những điều cấm kỵ bị coi thường, có cảm giác như đã trải qua quan hệ với người khác, không gian và thời gian bị biến đổi sâu sắc. Ở một số người có thể đồng thời xuất hiện lo âu, số khác buồn ngủ, số khác có thể có hành vi phạm pháp không thể kiểm soát được.

      2. Tác hại

  • Có thể có các biến chứng tâm thần cần nhập viện như trầm cảm, lo âu, loạn thần, rối loạn hành vi.
  • Liều cao có thể làm mất ý trí, thu rút, mất động cơ.
  • Tác hại về cơ thể tương tự như thuốc lá nhưng mạnh hơn, có nguy cơ suy hô hấp mạn và ung thư phổi.
  • Sử dụng lâu dài cannabis thường gây teo não, cơn co giật liên tục, tổn thương nhiễm sắc thể, thai non tháng, giảm phản ứng miễn dịch, giảm độ tập trung testosterone, rối loạn kinh nguyệt.
  • Tăng nguy cơ tai nạn khi tham gia giao thông và vận hành máy móc.
  • Việc làm giảm sút, mất việc.

  E. Chẩn đoán

  1. Tiêu chuẩn chẩn đoán lạm dụng và nghiện cần sa

           Xem chương trước, tiêu chuẩn chung.

     2. Tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm độc cần sa theo DSM IV

          a. Vừa mới sử dụng cannabis.

          b. Thay đổi tâm lý hoặc hành vi không thích hợp (ví dụ: Sự phối hợp vận động bị suy giảm, khoái cảm, lo âu, cảm giác thời gian chậm lại, lý lẽ suy giảm, thu rút xã hội) xuất hiện trong hoặc sau khi sử dụng cannabis.

         c. Có ít nhất 2 dấu hiệu sau khi xuất hiện trong vòng 2 giờ sau khi sử dụng cannabis.

           (1) Có tiêm chích kết hợp.

           (2) Tăng khẩu vị.

           (3) Khô miệng.

           (4) Mạch nhanh.

        d. Các triệu chứng trên không do bệnh cơ thể hoặc rối loạn tâm thần khác

           Đặc trưng nếu có rối loạn tri giác.

     3. Sảng run do nhiễm độc cần sa

         Sảng run do nhiễm độc cần sa được biểu hiện bằng suy giảm nhận thức và hiệu xuất công việc. Thậm chí liều cannabis vừa phải cũng gây suy giảm trí nhớ, thời gian phản ứng, tri giác, sự phối hợp vận động và sự chú ý. Liều cao cũng gây suy giảm nhận thức và ý thức của người sử dụng.

     4. Rối loạn loạn thần do cần sa

        Rối loạn loạn thần do cần sa thì hiếm hơn nhưng ý tưởng paranoid tạm thờ thì phổ biến hơn. Sử dụng cannabis hiếm khi với một trải nghiệm tồi tệ. Hiện tượng này thường kết hợp với nhiễm độc các chất gây ảo giác. Khi rối loạn loạn thần do cannabis xảy ra, nó có thể kết hợp với một rối loạn nhân cách tồn tại đồng thời ở người bệnh.

    5. Rối loạn lo âu do cần sa

       Rối loạn lo âu do cannabis là một chẩn đoán chung cho nhiễm độc cannbis cấp, Ở nhiều người xuất hiện một cơn lo âu ngắn, thường do ý tưởng cannabis gây ra. Trong một số tình huống, có các cơn hoảng sợ. Người sử dụng cannabis thiếu kinh nghiệm thường bị rối loạn này nhiều hơn người sử dụng có kinh nghiệm.

   6. Các cơn phản hồi

       Đang còn nhiều tranh luận về vấn đề này, nó có thể là do sử dụng cannabis một mình hay sử dụng đồng thời với các chất gây ảo giác hoặc với phencyclidine( PCP).

   7. Hội chứng mất động cơ
   
 Đang tranh luận chưa rõ hội chứng này có liên quan tới tác dụng của cannabis hay nó phản ứng với các tính cách ở một nhóm nhỏ, đang sử dụng cannabis. Hội chứng mất động cơ được xuất hiện khi sử dụng liều cao kéo dài. Các nét đặc trưng là sự thiếu quan tâm dai dẳng với công việc ở nhà, ở trường và với bất cứ việc gì đồi hỏi sự chú ý kéo dài. Người bệnh được mô tả như trở nên thờ ơ, vô cảm, mất năng lượng, thường tăng cân và có vẻ lười biếng.

 

 

 

 

 

 

 

 

LIỆU PHÁP NHẬN THỨC HÀNH VI TRONG HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ NGHIỆN

pcmt.ubdt.gov.vn

LIỆU PHÁP NHẬN THỨC HÀNH VI TRONG HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ NGHIỆN

 

Nhận thức hành vi là một trường phái trong tâm lý và trị liệu được nhà tâm lý, trị liệu người Mỹ Albert Ellis cùng các cộng sự của ông phát triển. Đây là một trong những liệu pháp được ứng dụng rộng rãi, mang lại nhiều kết quả thiết thực.Triết lý liệu pháp nhận thức hành vi cho rằng con người được sinh ra với những tiềm năng sẵn có, trong đó có tiềm năng giúp cho con người suy nghĩ, ứng xử hợp lý, hướng tới hạnh phúc, suy nghĩ, yêu thương, giao tiếp tốt với người khác. Đồng thời, cũng có thể khiến con người suy nghĩ thiếu lô gích hoặc lảng tránh suy nghĩ, trì hoãn, luôn mắc lỗi, khó tha thứ cho người khác, hướng đến sự “hoàn hảo”, tự đổ lỗi cho mình và không muốn phát huy khả năng.

 

Trong ba phần suy nghĩ, cảm nhận và hành động, con người chịu sự chi phối mãnh mẽ của suy nghĩ (nhận thức). “Chất lượng” của suy nghĩ sẽ quyết định đến chất lượng cuộc sống của mỗi con người, giúp con người giải quyết những vấn đề trong cuộc sống và cũng có thể gây ra những vấn đề trong cuộc sống.

 

Điểm xuất phát của những suy nghĩ này là do con người nghe, tiếp nhận được từ những người sống xung quanh trong thời gian dài. Bên cạnh đó, bản thân con người luôn có xu hướng tự đánh giá, chịu đựng những suy nghĩ cũ mòn, không muốn thay đổi.



Xuất phát từ quan điểm trên Elliss và các cộng sự của ông đã phát triển ra một phương pháp tác động làm thay đổi nhận thức của con người có tên là ABC. Trong đó, A- Sự kiện gây tác động (activating event), B-Niềm tin (belief), và C-Hậu quả đối với cảm xúc và hành vi của con người (emotional and behavioral consequence).



Bản thân những vấn đề, sự kiện (A) không trực tiếp gây ra những hậu qủa trực tiếp đối với cảm xúc và hành vi của con người, mà chính do những niềm tin, cách lý giải của mỗi con người về những vấn đề, sự kiện đã tác động đến cảm xúc tiêu cực và dẫn đến hành vi không phù hợp.



Từ việc phát hiện ra mối liên kết này, những nhà trị liệu theo trường phái nhận thức hành vi đưa ra mô hình can thiệp có tên là ABCDEF. Trong đó D – là sự can thiệp và quá trình suy nghĩ, làm thay đổi những suy nghĩ thiếu lô gích (disputing intervention), E là tác động (effect), và F- là những cảm xúc mới (new feelings).



Hỗ trợ cho việc can thiệp và giúp cho con người có nhiều suy nghĩ hợp lý hơn, trường phái nhận thức hành vi còn giúp cho mỗi người học cách chấp nhận bản thân vô điều kiện (Unconditional Self-Acceptance- USA) và chấp nhận người khác vô điều kiện (UOA-Unconditional Other Acceptance). Điều này giúp cho con người dễ dàng tha thứ cho bản thân, người khác, không tự đổ lỗi cho mình trước những thất bại, đồng thời có thể đặt ra cho mình những mục tiêu thực tế.



Để chứng minh cho mô hình can thiệp trên, Ellis đã chỉ ra một suy nghĩ tự động làm mọi người rất đau khổ và khó chấp nhận đó là “mình phải được yêu thương và chấp nhận bởi những người quan trọng trong cuộc sống”, khi bản thân không có được điều này sẽ gây ra những thù hận, oán trách, mong muốn làm hài lòng người khác….Ellis đã tự giúp cho chính bản thân ông cũng như nhiều người hiểu rằng những người quan trọng của mình cũng có thể không yêu mình như mình mong muốn, mình phải chấp nhận điều đó.



Những người tham gia trị liệu bằng nhận thức hành vi cần sự thành thực với bản thân, có khả năng suy nghĩ, và phải làm rất nhiều bài tập về nhà, chủ yếu là những bài tập có sự trải nghiệm. Tuy nhiên, thời gian tham gia trị liệu theo nhận thức hành vi rất ngắn, thường gói gọn tối đa trong 6 buổi làm việc (1 tuần/buổi)



Áp dụng trong việc hỗ trợ người nghiện rượu, ma túy



Từ khi ra đời đến nay, liệu pháp nhận thức hành vi đã được áp dụng rất nhiều trong việc hỗ trợ những người bị rối loạn cảm xúc (trầm cảm, sợ hãi, tức giận), những người gặp khó khăn trong mối quan hệ với người khác, và đặc biệt có hiệu quả với những người nghiện chất (rượu, ma túy).



Với những người sử dụng chất gây nghiện lần đầu hoặc sử dụng không thường xuyên, khi bị cảnh sát bắt giữ, thay cho việc gửi những người này vào nơi điều trị nghiện hoặc nhà tù, họ được chuyển đến một nơi có tên gọi là “chuyển làn”, đây chính là một chương trình giáo dục giúp thay đổi suy nghĩ và hành vi trong một thời gian nhất định.



Trong thời gian đó, sự hỗ trợ của các nhà giáo dục, tư vấn…giúp cho người sử dụng chất gây nghiện chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống cá nhân, lý do của việc sử dụng chất gây nghiện, mối quan hệ với những người xung quanh, và tất nhiên, cả những “kiểu suy nghĩ” đặc trưng của mỗi người.



Những người sử dụng chất gây nghiện trong giai đoạn này được coi như “khách hàng”, một người được đi đào tạo và nhiệm vụ của họ là hợp tác, tuân thủ chương trình đào tạo dành cho mình. Thời gian tham gia chương trình này sẽ do bản thân người sử dụng chất gây nghiện và cán bộ tư vấn, trị liệu xác định, nhưng thường kéo dài từ 1-3 tháng.



Đối với những người nghiện được đưa vào các cơ sở điều trị hoặc vào tù, để giúp cho họ thích nghi với cuộc sống bên ngoài sau thời gian cai nghiện hoặc hết hạn tù, họ được tham gia một một chương trình miễn phí gọi là Chuẩn bị hòa nhập. Lúc này liệu pháp nhận thức hành vi được sử dụng như một liệu pháp hỗ trợ tích cực giúp cho những người tham gia hiểu về bản thân nhiều hơn, chuẩn bị ứng phó với những thay đổi mới

 

Việc áp dụng liệu pháp nhận thức hành vi cho những người nghiện chất trong chương trình này không chỉ được điều trị về việc nghiện chất, mà còn tạo điều kiện để những người nghiện “tự giáo dục các suy nghĩ”, học cách tập trung thay đổi suy nghĩ của bản thân, tập trung vào những vấn đề cần giải quyết trong cuộc sống thay cho những suy nghĩ tiêu cực, tự đổ lỗi, mong muốn trả thù…



Theo báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, hiện con số người nghiện ma túy được quản lý ở Việt Nam vào khoảng 180.000 người, chưa kể những người mới sử dụng. Với nhiều thay đổi về mặt quan điểm, chính sách đối với người nghiện chất nói chung và người sử dụng ma túy nói riêng, chúng ta đang trên con đường chuyển đổi từ việc đưa người sử dụng ma túy vào trại tập trung sang hình thức cai nghiện tự nguyện dựa vào cộng đồng với nhiều chương trình điều trị phù hợp.



Để việc điều trị cho người nghiện chất được hiệu quả hơn, cũng như việc áp dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau trong hỗ trợ người nghiện trong tương lai ở Việt Nam, chúng ta cần tạo điều kiện để quá trình đào tạo, trị liệu, giáo dục được lồng nghép trong tất cả các bước hỗ trợ người cai nghiện chất, tập trung vào các chương trình đào tạo mang tính ứng dụng cao cho những nhà tư vấn, trị liệu, khuyến khích những mô hình thử nghiệm hỗ trợ người nghiện và tạo điều kiện cho các tổ chức chuyên môn cùng tham gia.



Điển hình, từ năm 2009-2012, trong khuôn khổ của một cấu phần dự án HIV/AIDS nơi làm việc mang tên Chuẩn bị trước khi đi làm, dành cho những nhóm dễ bị tổn thương trong đó có người đã từng sử dụng ma túy, những tư vấn viên việc làm của Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến phát triển Cộng đồng (SCDI) đã thử nghiệm đưa những kỹ thuật liệu pháp nhận thức hành vi trong quá trình đào tạo và tư vấn.



Trong quá trình đào tạo về nhận thức bản thân, tư vấn viên đã lựa chọn những suy nghĩ phổ biến và gây ra những cảm xúc tiêu cực cho người sử dụng ma túy như: Sử dụng ma túy là một điều xấu xa, người nghiện ma túy là những người không tốt, Những người sử dụng ma túy rất khó tìm kiếm việc làm…để cùng những người dùng ma túy thực hành cách thay thế những suy nghĩ có ích hơn.



Những người sử dụng ma túy đã chia sẻ những cảm giác bất lực, xấu hổ, mất hy vọng, thiếu tự tin, tự đổ lỗi cho bản thân…. khi để những suy nghĩ trên “ám ảnh trong đầu”. Người hướng dẫn và các bạn đồng đẳng đã giúp họ thay thế suy nghĩ bằng cách: Dừng suy nghĩ (trong những trường hợp những suy nghĩ tiêu cực trên quá ảm ảnh quá nặng) hoặc thay thế suy nghĩ (ví dụ, sử dụng ma túy là một điều không tốt cho sức khỏe, nhưng điều đó không có nghĩa những người sử dụng ma túy là người không tốt; mọi người thường nghĩ những người sử dụng ma túy rất khó kiếm việc làm, nhưng trên thực tế có nhiều người đã tìm được việc làm)…



Sau khi được tham gia thực hành bài tập, những người sử dụng ma túy đều chia sẻ một tâm trạng thoái mái, dễ chịu và cởi mở hơn khi nói về vấn đề của mình. Việc tích cực hơn. Tuy nhiên, đây là một hoạt động mang tính lồng nghép và thử nghiệm nên không có điều kiện để áp dụng cho nhiều người và chỉ giới hạn trong khoảng thời gian nhất định.

 

Mai Thị Việt Thắng

Nguồn tiengchuong.vn

MÔ HÌNH TRỊ LIỆU NHẬN THỨC – HÀNH VI

swvn.blogspot.com

MÔ HÌNH TRỊ LIỆU NHẬN THỨC – HÀNH VI

Mô hình can thiệp trị liệu nhận thức- hành vi trên thế giới 



Trong các mô hình can thiệp trị liệu trên thế giới, chúng được chia ra những hợp phần: tâm lý trị liệu, các kỹ thuật ứng dụng, dùng thuốc. Những hợp phần này có sự liên kết với nhau. 



Tâm lý trị liệu 



Các tư liệu về trị liệu nhận thức đã phát triển theo cấp số nhân trong những thập kỷ qua. Có gốc rễ từ công trình của Aaron Beck trong việc trị liệu trầm cảm (Beck, 1972, 1976), phương pháp trị liệu nhận thức hiện đại đã trở thành mô hình được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực tâm lý trị liệu và tâm bệnh học và đã được áp dụng trong nhiều vấn đề, các nhóm thân chủ và các hoàn cảnh trị liệu khác nhau. Mô hình cơ bản đã được thích ứng ở nhiều nền văn hóa một cách dễ dàng. Các nhà trị liệu ở Thụy Điển cũng như ở Trung Quốc xác định có những quan tâm và phát triển trị liệu nhận thức như là một mô hình thích hợp với các đặc trưng của các quốc gia này. Đây là một thực tế khá lý thú, vì đây là hai nước có nền văn hoá rất khác nhau. Các cách tiếp cận nhận thức dường như được ứng dụng xuyên văn hoá vì chúng tập trung vào diễn tiến và đặt nền tảng trên hiện tượng học (phenomenologically based). Mô hình này tôn trọng thực tế cho rằng những niềm tin tiềm tàng đặc thù, có thể được chia sẻ bởi những người thuộc những nền văn hoá riêng biệt và có sự khác biệt xuyên văn hoá đáng kể về những niềm tin này. 



Giống như các nhà tâm lý trị liệu phân tâm, nhà trị liệu nhận thức xác nhận sự quan trọng của những đối thoại bên trong và những động cơ từ bên trong (internal dialogues and motivations). Nhà trị liệu nhận thức làm việc để giúp thân chủ nói ra những điều chưa được nói, dù rằng họ vẫn cố gắng tránh dùng các ẩn dụ về sự đè nén các bản năng và quan niệm về việc hành vi chịu sự chi phối bởi các yếu tố bên trong gây lo âu, đè nén. Họ cũng cố gắng phát hiện và thay đổi các niềm tin cùng các thái độ tạo nên sự đau khổ mà thân chủ không tự nhận biết được. 



Sự phát triển của trị liệu nhận thức như là một mô hình xử lý thông tin trong các rối loạn lâm sàng đã được phát triển trong những năm 1970, vì những kỹ thuật trị liệu đặt nền tảng trên các mô hình được điều hòa bởi nhận thức được đề nghị và vì các kết quả nghiên cứu trị liệu chứng minh tính hiệu năng của các kỹ thuật đã được công bố. 



Bandura (1969, 1977a, 1977b) là tác giả được biết đến nhiều nhất trong việc phát triển mô hình học tập xã hội của chứng lo âu và tính gay hấn, và ông đã phát hiện ra tầm quan trọng trung tâm của sự nhận biết về “hiệu năng của bản thân” (self-efficacy) hoặc năng lực cá nhân trong việc hướng dẫn hành vi con người. Trong việc tái công thức hóa học thuyết hành vi cổ điển, một số tác giả cho rằng hành vi con người không chỉ được dàn xếp bởi các yếu tố môi trường và yếu tố ngẫu nhiên mà do các yếu tố niềm tin và tri giác của cá nhân đó. 



Mô hình ABC rất thông dụng hiện nay để miêu tả sự quan hệ giữa “sự kiện đi trước” (Antecedent events), “niềm tin” (Beliefs), “hành vi” (Behavior) và “hậu quả” (Consequenses) ở mỗi cá nhân được đề nghị bởi Albert Ellis (1962, 1979, 1985) đã gợi ý rằng những hành vi kém thích nghi hoặc các chứng nhiễu tâm là có liên quan trực tiếp đến những niềm tin phi lý của một con người đối với những biến cố trong cuộc sống của họ. Ellis đã phát triển một hệ thống các kiểu thức lệch lạc hoặc sai lầm thường thấy về mặt nhận thức đồng thời phát triển một số kỹ thuật trị liệu có hướng dẫn để thay đổi chúng. Mô hình của ông cho rằng bằng cách phát hiện và thay đổi các niềm tin phi lý hoặc không thực tế có thể dẫn đến sự thay đổi các phản ứng cảm xúc và hành vi trước các sự kiện. Bởi vì những niềm tin phi lý thường khá kiên định và có tính chất lâu đời. 



Seligman (1974, 1975) cho rằng cá nhân bị trầm cảm khi họ tin rằng họ không thể kiểm soát các kết quả quan trọng trong đời sống của họ (bao gồm cả các sự kiện tích cực lẫn các sự kiện tiêu cực hay trừng phạt). Mô hình trầm cảm “học được sự tuyệt vọng” (learned-helplessness), sau khi được cải biên bởi các tác giả Abramson, Seligman và Teasdale (1978), đã tạo nên sự quan tâm nghiên cứu thực nghiệm và gợi ý rằng sự qui lỗi bởi các thân chủ trầm cảm về nguyên nhân các sự cố trên có thể là mục tiêu quan trọng của việc trị liệu . 



Rehn (1977) đã đề nghị một mô hình nhận thức – hành vi về trầm cảm tập trung vào các thiếu sót trong việc “điều hòa bản thân” (self-regulation). Đặc biệt, tác giả cho rằng các thân chủ trầm cảm biểu hiện sự kém cỏi trong việc tự quản lý bản thân mình (họ tham dự một cách chọn lọc vào các sự kiện tiêu cực và muốn có các hiệu quả tức thì thay vì chờ đợi những kết quả lâu dài từ các hành vi của mình) và họ cũng yếu kém trong khả năng tự đánh giá bản thân (họ thường chỉ trích bản thân quá đáng và có khuynh hướng đổ lỗi một cách không thích đáng về trách nhiệm của họ đối với các sự kiện tiêu cực) cũng như yếu kém trong khả năng tự củng cố bản thân (self-reinforcement) (họ không có khuynh hướng khen thưởng cho các thành công của mình và trừng phạt mình quá lố khi không đạt được các mục tiêu). Mô hình của Rehn là sự phát triển các mô hình ban đầu về điều hòa hành vi bản thân (Kanfer, 1971) và có ích lợi lâm sàng với các vấn đề hành vi nhận thức đặc thù được trải nghiệm bởi các thân chủ trầm cảm (Fuchs & Rehn, 1977). 



Kỹ thuật 



Một số lớn những kỹ thuật nhận thức và hành vi có thể được dùng để phát hiện và sau đó đặt câu hỏi về lệch lạc trong nhận thức và các sơ đồ ẩn bên dưới . Những kỹ thuật này được dạy cho thân chủ để giúp họ đáp ứng một cách lành mạnh hơn. Sự phối hợp đúng đắn các kỹ thuật nhận thức và hành vi sẽ tuỳ thuộc vào khả năng của thân chủ, kỹ năng của nhà trị liệu, mức độ bệnh lý và các mục tiêu trị liệu đặc hiệu. Ví dụ: khi làm việc với các thân chủ liệt giường, những mục tiêu ban đầu của trị liệu có thể tập trung giúp đỡ thân chủ thực hiện các công việc tự chăm sóc và việc phân tích công việc cần huấn luyện thành những bước nhỏ với độ khó tăng dần có thể đạt thành công tốt hơn. Bắt đầu với các công việc ít khó khăn nhất, sau đó tiến dần từng bước sang các công việc khó khăn hơn sẽ giúp cho thân chủ ý thức được sự thành công của mình nhiều hơn. 



Trị liệu bằng thuốc 



Trị liệu bằng thuốc có thể là một phần trợ lực quan trọng trong chương trình trị liệu. Ngược với các điều tin tưởng thông thường, trị liệu nhận thức và trị liệu bằng hóa dược không loại trừ lẫn nhau, mà có thể phối hợp với nhau trong một chương trình trị liệu (Wright & Schrodt, 1989; Wright, 1987, 1992). Ngoài giá trị thay đổi các suy nghĩ không lành mạnh và hành vi kém thích ứng, đã tạo cho thân chủ cảm giác buồn rầu, lo âu, giận dữ, trị liệu nhận thức còn có thể sử dụng để phát triển và thay đổi các niềm tin không tốt đẹp về thuốc men.. Ngoài ra, như tác giả Wright (1992) nhận xét, trị liệu nhận thức có thể trang bị cho thân chủ các kỹ thuật giải quyết vấn đề, giúp phát triển sự hoạt động tâm lý xã hội tốt hơn và có thể giảm nguy cơ không lệ thuộc vào chương trình trị liệu thuốc men lâu dài. 



Kinh nghiệm lâm sàng cho thấy rằng trị liệu bằng thuốc có thể ích lợi trong việc giảm bớt các triệu chứng sinh học của trầm cảm, như mất ngủ, mệt nhọc và kém tập trung và như vậy có thể giúp các thân chủ trầm cảm nặng tham gia tích cực hơn trong quá trình trị liệu. Tuy nhiên, cơ chế dẫn đến sự thay đổi do trị liệu bằng thuốc men vẫn chưa được hiểu hết. Đối với các thân chủ hưng trầm cảm và loạn thần, thường phải sử dụng kết hợp thuốc men và tâm lý trị liệu nếu thân chủ không đáp ứng với các can thiệp hành vi hoặc bằng lời nói. 



Mô hình trị liệu nhận thức- hành vi trong CTXH cá nhân 



– Đây là sự tích hợp của nhiều nhà thực hành hiện đại như thuyết giải mẫn cảm hệ thống của Wolpe; trị liệu cảm xúc thuần lý của Ellis; hiện tượng cảm xúc của Lazarus, Cautela, Mahoney; sự thay đổi hành vi nhận thức của Meichenbaum… 



– Thuyết nhận thức – hành vi là cơ sở giúp đối tượng giảm hành vi không phù hợp và tăng cường hành vi đúng đắn. Từ đó đem lại cho đối tượng cảm giác đúng đắn về bản thân và giúp họ tương tác một cách hài hòa về môi trường xung quanh. 



– Một trong những mốc phát triển quan trọng của việc ứng dụng thuyết này là việc áp dụng của nhà tâm lý học Glasser trong làm việc với đối tượng có hành vi lệch chuẩn và áp dụng của nhà tâm lý Gambrill trong cách trị liệu với trẻ em bị lạm dụng, sau này trị liệu nhận thức – hành vi được tiếp tục nghiên cứu và áp dụng có hiệu quả cả trong lĩnh vực tâm thần. 



– Tiếp theo đó một số nhà nghiên cứu và thực hành công tác xã hội đã bổ sung thêm một số luận điểm về quyền con người và tính nhân văn vào lý thuyết nhận thức – hành vi CTXH. Trong đó khẳng định, NVCTXH khi làm việc với đối tượng cần công nhận quá trình tâm lý là yếu tố tự nó của con người và bản thân đối tượng có quyền thay đổi và điều khiển suy nghĩ của mình một cách cá nhân. NVCTXH cố gắng nhìn nhận và thấu hiểu được chuỗi tiến trình tâm lý diễn ra ở đối tượng và những người có liên quan để từ đó chấp nhận và thấu hiểu cách đối tượng nhìn nhận thế giới. 



– NVXH cùng với TC nhận định được nguồn gốc của hành vi lệch lạc (do suy nghĩ sai lạc, nhận thức sai lầm và gán nhãn nhầm cả từ tâm trạng ở trong ra đến ngoài hành vi bên ngoài do đó gây nên những niềm tin, hình tượng, đối thoại nội tâm tiêu cực dẫn đến hành vi sai lầm) 



=> TC có thể học hỏi để tập trung nghĩ về việc phát triển nhận thức, củng cố nhận thức, thích nghi môi trường để sửa đổi hành vi. 



Ví dụ: một NVCTXH trợ giúp cho TC: ban đầu TC chỉ nói những câu như “ tôi thực sự chán ghét cuộc sống này” thì NVXH bằng mô hình trị liệu này có thể nhận thấy suy nghĩ của TC đang có vấn đề. NVCTXH: “ anh (chị) hãy kể cho tôi nghe những gì muốn diễn đạt khi a(chị) dùng từ chán ghét”. Từ đó NVXH hiểu lý do dẫn đến TC có suy nghĩ tiêu cực như vậy. Khi đã tạo niềm tin và hiểu về TC, NVCTXH nên tôn trọng nhận thức của TC, cùng xác định vấn đề, xây dựng kế hoạch và thực hiện đạt mục tiêu đặt ra. Ban đâu, TC xử sự một cách chủ động tránh lặp lại những tình huống trước đây đã tạo ra hành vi và sửa đổi các tình huống nhờ thực hành nhận thức và điều chỉnh hành vi. 



– Trong CTXH khi áp dụng mô hình trị liệu này, NVCTXH cùng TC nên lập sẵn kế hoạch nhằm tập luyện và củng cố khi gặp tình huống bất ngờ. 



– NVXH có thể áp dụng các chiến lược hành vi là sự mô hình hóa minh họa cho những đáp ứng tích cực hoặc bật mý cho TC biết cách thức đáp ứng tích cực mà TC khao khát học hỏi, có thể lấy video làm minh họa để TC học tập, diễn tập.