LIỆU PHÁP NHẬN THỨC HÀNH VI TRONG HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ NGHIỆN

pcmt.ubdt.gov.vn

LIỆU PHÁP NHẬN THỨC HÀNH VI TRONG HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ NGHIỆN

 

Nhận thức hành vi là một trường phái trong tâm lý và trị liệu được nhà tâm lý, trị liệu người Mỹ Albert Ellis cùng các cộng sự của ông phát triển. Đây là một trong những liệu pháp được ứng dụng rộng rãi, mang lại nhiều kết quả thiết thực.Triết lý liệu pháp nhận thức hành vi cho rằng con người được sinh ra với những tiềm năng sẵn có, trong đó có tiềm năng giúp cho con người suy nghĩ, ứng xử hợp lý, hướng tới hạnh phúc, suy nghĩ, yêu thương, giao tiếp tốt với người khác. Đồng thời, cũng có thể khiến con người suy nghĩ thiếu lô gích hoặc lảng tránh suy nghĩ, trì hoãn, luôn mắc lỗi, khó tha thứ cho người khác, hướng đến sự “hoàn hảo”, tự đổ lỗi cho mình và không muốn phát huy khả năng.

 

Trong ba phần suy nghĩ, cảm nhận và hành động, con người chịu sự chi phối mãnh mẽ của suy nghĩ (nhận thức). “Chất lượng” của suy nghĩ sẽ quyết định đến chất lượng cuộc sống của mỗi con người, giúp con người giải quyết những vấn đề trong cuộc sống và cũng có thể gây ra những vấn đề trong cuộc sống.

 

Điểm xuất phát của những suy nghĩ này là do con người nghe, tiếp nhận được từ những người sống xung quanh trong thời gian dài. Bên cạnh đó, bản thân con người luôn có xu hướng tự đánh giá, chịu đựng những suy nghĩ cũ mòn, không muốn thay đổi.



Xuất phát từ quan điểm trên Elliss và các cộng sự của ông đã phát triển ra một phương pháp tác động làm thay đổi nhận thức của con người có tên là ABC. Trong đó, A- Sự kiện gây tác động (activating event), B-Niềm tin (belief), và C-Hậu quả đối với cảm xúc và hành vi của con người (emotional and behavioral consequence).



Bản thân những vấn đề, sự kiện (A) không trực tiếp gây ra những hậu qủa trực tiếp đối với cảm xúc và hành vi của con người, mà chính do những niềm tin, cách lý giải của mỗi con người về những vấn đề, sự kiện đã tác động đến cảm xúc tiêu cực và dẫn đến hành vi không phù hợp.



Từ việc phát hiện ra mối liên kết này, những nhà trị liệu theo trường phái nhận thức hành vi đưa ra mô hình can thiệp có tên là ABCDEF. Trong đó D – là sự can thiệp và quá trình suy nghĩ, làm thay đổi những suy nghĩ thiếu lô gích (disputing intervention), E là tác động (effect), và F- là những cảm xúc mới (new feelings).



Hỗ trợ cho việc can thiệp và giúp cho con người có nhiều suy nghĩ hợp lý hơn, trường phái nhận thức hành vi còn giúp cho mỗi người học cách chấp nhận bản thân vô điều kiện (Unconditional Self-Acceptance- USA) và chấp nhận người khác vô điều kiện (UOA-Unconditional Other Acceptance). Điều này giúp cho con người dễ dàng tha thứ cho bản thân, người khác, không tự đổ lỗi cho mình trước những thất bại, đồng thời có thể đặt ra cho mình những mục tiêu thực tế.



Để chứng minh cho mô hình can thiệp trên, Ellis đã chỉ ra một suy nghĩ tự động làm mọi người rất đau khổ và khó chấp nhận đó là “mình phải được yêu thương và chấp nhận bởi những người quan trọng trong cuộc sống”, khi bản thân không có được điều này sẽ gây ra những thù hận, oán trách, mong muốn làm hài lòng người khác….Ellis đã tự giúp cho chính bản thân ông cũng như nhiều người hiểu rằng những người quan trọng của mình cũng có thể không yêu mình như mình mong muốn, mình phải chấp nhận điều đó.



Những người tham gia trị liệu bằng nhận thức hành vi cần sự thành thực với bản thân, có khả năng suy nghĩ, và phải làm rất nhiều bài tập về nhà, chủ yếu là những bài tập có sự trải nghiệm. Tuy nhiên, thời gian tham gia trị liệu theo nhận thức hành vi rất ngắn, thường gói gọn tối đa trong 6 buổi làm việc (1 tuần/buổi)



Áp dụng trong việc hỗ trợ người nghiện rượu, ma túy



Từ khi ra đời đến nay, liệu pháp nhận thức hành vi đã được áp dụng rất nhiều trong việc hỗ trợ những người bị rối loạn cảm xúc (trầm cảm, sợ hãi, tức giận), những người gặp khó khăn trong mối quan hệ với người khác, và đặc biệt có hiệu quả với những người nghiện chất (rượu, ma túy).



Với những người sử dụng chất gây nghiện lần đầu hoặc sử dụng không thường xuyên, khi bị cảnh sát bắt giữ, thay cho việc gửi những người này vào nơi điều trị nghiện hoặc nhà tù, họ được chuyển đến một nơi có tên gọi là “chuyển làn”, đây chính là một chương trình giáo dục giúp thay đổi suy nghĩ và hành vi trong một thời gian nhất định.



Trong thời gian đó, sự hỗ trợ của các nhà giáo dục, tư vấn…giúp cho người sử dụng chất gây nghiện chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống cá nhân, lý do của việc sử dụng chất gây nghiện, mối quan hệ với những người xung quanh, và tất nhiên, cả những “kiểu suy nghĩ” đặc trưng của mỗi người.



Những người sử dụng chất gây nghiện trong giai đoạn này được coi như “khách hàng”, một người được đi đào tạo và nhiệm vụ của họ là hợp tác, tuân thủ chương trình đào tạo dành cho mình. Thời gian tham gia chương trình này sẽ do bản thân người sử dụng chất gây nghiện và cán bộ tư vấn, trị liệu xác định, nhưng thường kéo dài từ 1-3 tháng.



Đối với những người nghiện được đưa vào các cơ sở điều trị hoặc vào tù, để giúp cho họ thích nghi với cuộc sống bên ngoài sau thời gian cai nghiện hoặc hết hạn tù, họ được tham gia một một chương trình miễn phí gọi là Chuẩn bị hòa nhập. Lúc này liệu pháp nhận thức hành vi được sử dụng như một liệu pháp hỗ trợ tích cực giúp cho những người tham gia hiểu về bản thân nhiều hơn, chuẩn bị ứng phó với những thay đổi mới

 

Việc áp dụng liệu pháp nhận thức hành vi cho những người nghiện chất trong chương trình này không chỉ được điều trị về việc nghiện chất, mà còn tạo điều kiện để những người nghiện “tự giáo dục các suy nghĩ”, học cách tập trung thay đổi suy nghĩ của bản thân, tập trung vào những vấn đề cần giải quyết trong cuộc sống thay cho những suy nghĩ tiêu cực, tự đổ lỗi, mong muốn trả thù…



Theo báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, hiện con số người nghiện ma túy được quản lý ở Việt Nam vào khoảng 180.000 người, chưa kể những người mới sử dụng. Với nhiều thay đổi về mặt quan điểm, chính sách đối với người nghiện chất nói chung và người sử dụng ma túy nói riêng, chúng ta đang trên con đường chuyển đổi từ việc đưa người sử dụng ma túy vào trại tập trung sang hình thức cai nghiện tự nguyện dựa vào cộng đồng với nhiều chương trình điều trị phù hợp.



Để việc điều trị cho người nghiện chất được hiệu quả hơn, cũng như việc áp dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau trong hỗ trợ người nghiện trong tương lai ở Việt Nam, chúng ta cần tạo điều kiện để quá trình đào tạo, trị liệu, giáo dục được lồng nghép trong tất cả các bước hỗ trợ người cai nghiện chất, tập trung vào các chương trình đào tạo mang tính ứng dụng cao cho những nhà tư vấn, trị liệu, khuyến khích những mô hình thử nghiệm hỗ trợ người nghiện và tạo điều kiện cho các tổ chức chuyên môn cùng tham gia.



Điển hình, từ năm 2009-2012, trong khuôn khổ của một cấu phần dự án HIV/AIDS nơi làm việc mang tên Chuẩn bị trước khi đi làm, dành cho những nhóm dễ bị tổn thương trong đó có người đã từng sử dụng ma túy, những tư vấn viên việc làm của Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến phát triển Cộng đồng (SCDI) đã thử nghiệm đưa những kỹ thuật liệu pháp nhận thức hành vi trong quá trình đào tạo và tư vấn.



Trong quá trình đào tạo về nhận thức bản thân, tư vấn viên đã lựa chọn những suy nghĩ phổ biến và gây ra những cảm xúc tiêu cực cho người sử dụng ma túy như: Sử dụng ma túy là một điều xấu xa, người nghiện ma túy là những người không tốt, Những người sử dụng ma túy rất khó tìm kiếm việc làm…để cùng những người dùng ma túy thực hành cách thay thế những suy nghĩ có ích hơn.



Những người sử dụng ma túy đã chia sẻ những cảm giác bất lực, xấu hổ, mất hy vọng, thiếu tự tin, tự đổ lỗi cho bản thân…. khi để những suy nghĩ trên “ám ảnh trong đầu”. Người hướng dẫn và các bạn đồng đẳng đã giúp họ thay thế suy nghĩ bằng cách: Dừng suy nghĩ (trong những trường hợp những suy nghĩ tiêu cực trên quá ảm ảnh quá nặng) hoặc thay thế suy nghĩ (ví dụ, sử dụng ma túy là một điều không tốt cho sức khỏe, nhưng điều đó không có nghĩa những người sử dụng ma túy là người không tốt; mọi người thường nghĩ những người sử dụng ma túy rất khó kiếm việc làm, nhưng trên thực tế có nhiều người đã tìm được việc làm)…



Sau khi được tham gia thực hành bài tập, những người sử dụng ma túy đều chia sẻ một tâm trạng thoái mái, dễ chịu và cởi mở hơn khi nói về vấn đề của mình. Việc tích cực hơn. Tuy nhiên, đây là một hoạt động mang tính lồng nghép và thử nghiệm nên không có điều kiện để áp dụng cho nhiều người và chỉ giới hạn trong khoảng thời gian nhất định.

 

Mai Thị Việt Thắng

Nguồn tiengchuong.vn

Tâm sự mặn đắng của game thủ bỏ DOTA 2 sau 7 năm gắn bó

Mới đây trên Reddit, một game thủ DOTA 2 đã chia sẻ những dòng tâm sự đầy ưu tư khi anh buộc phải nghỉ DOTA 2 sau 7 năm trời gắn bó vì việc quá tập trung với tựa game MOBA đình đám này đã ảnh hưởng tới cuộc sống của anh ra sao:
“Tôi bắt đầu chơi DOTA 2 từ khi 15 tuổi. Và giờ đây khi đã 22, tôi thực sự nghĩ rằng DOTA 2 đã ảnh hưởng quá nhiều tới cuộc sống của chính bản thân mình. Đừng nghĩ xấu, tôi hoàn toàn không có thành kiến gì tới tựa game tuyệt vời này, vì 7 năm qua nó đã đem tới cho tôi rất nhiều thứ đáng nhớ.
Nhưng đôi khi tôi thấy bản thân mình không thể nào cân bằng nổi giữa cuộc sống trong game và đời thực nữa. Chìm đắm quá sâu vào DOTA 2 khiến công việc, học tập, và đáng buồn thay là cuộc sống cũng như quan hệ của tôi với gia đình trở nên tồi tệ. Tôi đã ngồi cùng mấy đứa bạn hồi cấp 3, và họ thật sự lo lắng cho tôi và tình trạng của tôi hiện tại. Họ đã có được những thành tựu vượt xa tôi trong cuộc sống thực.
Một trong số họ đã có nghề nghiệp ổn định, còn tôi vẫn đang chỉ ngồi đây, tự hỏi mình sẽ làm gì trong tương lai, và điều đó thực sự khiến tôi rất buồn. Tôi đã từng là một học sinh giỏi nhất lớp, và nhìn xem, DOTA 2 đã khiến tôi trở nên như thế này đây. Tôi vừa gỡ DOTA 2 và hy vọng rằng mình có thể thay đổi. Dĩ nhiên là tôi vẫn sẽ theo dõi những giải đấu, vẫn theo sát những người anh em chơi DOTA, nhưng chỉ vậy thôi.
Tôi có những mục tiêu riêng cần phải thực hiện trước. Cám ơn tất cả vì những trải nghiệm trong DOTA 2, sau 4 nghìn giờ chơi của tôi trong suốt 7 năm vừa qua. Nhưng đã đến lúc dừng lại, và tiếp tục sống như một người có trách nhiệm.”
Tâm sự mặn đắng của game thủ bỏ DOTA 2 sau 7 năm gắn bó
Ngay lập tức, rất nhiều game thủ DOTA 2 khác đã có những hồi âm tới game thủ vô danh này:
“Thật lòng, DOTA là một thứ rất dễ khiến cho chúng ta mất tập trung với cuộc sống thực. Bài tập về nhà á? Làm trận DOTA đã tý học tiếp. Đi tập gym? Cảm giác lên MMR có vẻ thích hơn… Cắm đầu vào chơi DOTA 2 là một cách rất đơn giản để tạm quên đi những vấn đề đang tồn tại trong cuộc sống của bạn, dĩ nhiên theo cách vô cùng tiêu cực.
Đôi lúc đối với một số người, việc họ chơi DOTA 2 không giống như khi đang giải trí. Thật lòng tôi nghĩ đối với nhiều người nó giống như một thứ chất gây nghiện, giống rượu và ma túy hơn. Và đó là lúc cuộc sống của bạn trở nên cực kỳ tồi tệ.”
Quả thật, quá nhiều không bao giờ là điều tốt đẹp cả. Game cũng vậy. Mỗi ngày 1 2 trận đấu để giải trí, game sẽ làm rất tốt công việc của nó, đó là xóa đi phần nào những mệt mỏi lo toan hàng ngày của con người. Thế nhưng khi tìm đến game để quên đi thực tại, để trốn tránh những thứ lẽ ra chúng ta phải giải quyết rốt ráo, thì đó là khi mặt trái của game xuất hiện. Lời cuối cùng, những game thủ Việt, hãy chơi game có ý thức, đừng biến game trở thành rào cản phát triển của bản thân trong cuộc sống thực !

8 minh chứng cho thấy Công nghệ làm chúng ta ngày càng… ngu

Những thiết bị thông minh đang khiến chúng ta ngày càng… ngu đi. Đó là một thực tế khi xét ở khía cạnh hậu quả tác động của công nghệ lên sự phát triển của não người cũng như với cuộc sống hàng ngày.

Tiến bộ công nghệ đi kèm với một vài hậu quả không thể dự báo. Theo nhà tâm thần học Michael Merzenich, não người đang bị thay đổi vì công nghệ, thậm chí có thể làm chết người. Cụ thể, tác động của nó đến con người đến đâu?

1. Công nghệ xáo trộn giấc ngủ

Các nghiên cứu chỉ ra ánh sáng xanh từ thiết bị như smartphone, tablet, laptop ngăn cản cơ thể tiết ra melatonin vào ban đêm. Melatonin là hormone quan trọng giúp điều hòa đồng hồ sinh học, thông báo cho cơ thể biết khi nào là đêm và nên đi ngủ. Ánh sáng xanh cản trở quá trình này, khiến bạn khó có giấc ngủ sâu.

Mất ngủ tạo ra nhiều hiệu ứng tiêu cực cho não. Nếu không ngủ đủ 8 tiếng, bạn sẽ cảm thấy tâm trạng khó chịu, giảm tập trung khi làm việc, gặp vấn đề về trí nhớ, chưa kể đến tổn thất mô não.

2. Bạn dễ bị phân tâm

Không cần phải giỏi khoa học bạn mới biết về điều này: thực tế công nghệ làm chúng ta dễ xao lãng dù đang làm một việc vô cùng quan trọng. Làm nhiều việc cùng lúc chưa bao giờ hiệu quả mà chỉ làm mọi thứ trở nên tồi tệ hơn.

Thanh thiếu niên là đối tượng bị ảnh hưởng nhất. Trong khảo sát năm 2012 của trung tâm Pew đối với hơn 2.400 giáo viên, họ cho biết học sinh ngày nay dễ phân tâm hơn thế hệ trước.

3. Bạn không thể nhớ nhiều thứ…

Công nghệ “thò mặt” vào mọi ngóc ngách khiến bạn khó hình thành ký ức mới. Theo tác giả Nicholas Carr, có hai dạng bộ nhớ: ngắn hạn và dài hạn, thông tin cần chuyển từ dạng ngắn hạn sang dài hạn để được lưu trữ lâu hơn. Bất kỳ hoạt động nào can thiệp vào quá trình này như dừng lại để kiểm tra email, nhắn tin trong khi đang đọc báo đều xóa bỏ thông tin trước khi sự trao đổi diễn ra.

Ngoài ra, còn có giới hạn về lượng thông tin ghi nhớ được trong một khoảng thời gian. Khi tiếp xúc với quá nhiều thứ, nó giống như “tưới nước liên tục cho cỏ cả ngày dài, vì thế bất cứ thứ gì nằm ở trên đều bị gạt sạch khi có đợt nước mới”, chuyên gia Tony Schwartz so sánh.

4. … nên phải nhờ cậy đến Internet

Mọi người thường muốn ghi nhớ lượng kiến thức lớn bằng cách đọc lai các cuốn sách đã đọc một cách tường tận song công nghệ loại bỏ cả nhu cầu lẫn động lực làm việc này. Khi bạn biết Google hay smartphone có thể làm điều đó thay bạn, bạn ít có mong muốn lưu nó trong bộ nhớ. Có người đã ví Internet như “ổ cứng ngoài” của bộ não khi chúng ta “outsource” một lượng lớn thông tin cho web.

5. Bạn đãng trí hơn hẳn

Theo khảo sát của Trending Machine năm 2013, thế hệ trẻ còn đãng trí hơn cả người 55 tuổi khi hay quên ngày tháng, nơi cất chìa khóa nhà. Trong thông cáo báo chí, bác sĩ trị liệu Patricia Gutentag gọi tên công nghệ là thủ phạm chính.

6. Không biết mình đang đọc gì

Dù gạt hết mọi thứ gây xao lãng sang một bên, bạn không thể hấp thụ thông tin đọc trên mạng như khi đọc sách. Hypertext (siêu văn bản) là một trong những nguyên nhân vì các đường liên kết màu mè ẩn trong bài báo buộc não hoạt động vất vả hơn, chỉ còn ít năng lượng để xử lý những gì đang đọc.

7. Không thể tìm đường nếu thiếu GPS

Những người quá phụ thuộc vào GPS có ít hoạt động trong hippocampus, một khu vực trong não bộ có liên quan đến bộ nhớ và khả năng điều hướng. Theo một nghiên cứu năm 2010, sử dụng trí nhớ không gian (spatial memory) liên quan đến dấu hiệu trực quan để phát triển bản đồ nhận thức, ghi nhớ tuyến đường thay vì dùng GPS sẽ giúp ngăn chặn các vấn đề bộ nhớ sau này.

Nghiên cứu năm 2008 của Đại học Luân Đôn chỉ ra lái xe taxi có hippocampus phát triển hơn lái xe thông thường, có lẽ vì họ quen với việc chạy quanh thành phố bằng trí nhớ không gian mà không lệ thuộc vào GPS.

8. Có bộ não của người nghiện

“Nghiện” không phải là một từ để nói đùa khi thấy ai đó dành quá nhiều thời gian cho game, mạng xã hội, smartphone. Thực tế, theo một nghiên cứu năm 2012, nó có thể tạo ra thay đổi trong não bộ tương tự tác động của ma túy và cồn.

Nghiện Internet, phổ biến nhất ở giới game thủ quên ăn, quên ngủ, quên học hành để chơi game, cản trở các vùng xử lý cảm xúc và ra quyết định. Người nghiện rượu, ma túy cũng có vùng não bất thường như vậy.

Qua những gì mô tả trên đây, bạn có thể nắm được phần nào tác động của công nghệ lên bộ não con người. Để không trở thành nô lệ của công nghệ hay tránh những phản ứng tiêu cực làm hủy hoại cuộc sống, cách tốt nhất là hãy ngắt kết nối, cân bằng giữa thời gian dùng Internet và sinh hoạt hàng ngày.

Nguồn: Theo ICTnews

Một thanh niên chặt tay để cai nghiện mạng xã hội

Theo thông tin vụ việc, do nghiện internet khiến cộng sống, các mối quan hệ của Wang bị ảnh hưởng nên nam sinh này đã nảy sinh ý định chặt tay. Để thực hiện, Wang lén xuống bếp lấy một con dao sắc rồi đến một chiếc ghế công cộng để chặt cánh tay trái với quyết tâm từ bỏ mạng xã hội và chứng nghiện internet.

Ngay sau đó, người dân đã phát hiện đưa nam sinh đi cấp cứu trong tình trạng nguy kịch. May mắn, Wang không nguy hại đến tính mạng nhưng đôi tay dù được nối lại vẫn không thể hoạt động như trước nữa.

Kể lại giây phút kinh hoàng khi biết tin con nghĩ quẩn, mẹ của Wang chia sẻ: “Tôi không thể chấp nhận được sự thật phũ phàng này. Bởi vì Wang là một đứa trẻ rất thông minh, có thể trong một phút nông nổi nên mới nảy sinh ý định làm hại bản thân…”.

Sự việc Wang chặt tay cai nghiện mạng xã hội- internet khiến dư luận Trung Quốc xôn xao bàn tán. Nhiều phụ huynh hết sức lo sợ khi nghĩ đến những gì Wang đã làm có thể tạo nên làn sóng ảnh hưởng đến con của họ.

Theo các nhà nghiên cứu, vào tháng 12/2014 có khoảng 7,1% dân số châu Á đang nghiện internet, đặc biệt là mạng xã hội. Riêng ở Trung Quốc có khoảng 24 triệu người trẻ tuổi xếp vào dạng nghiện web, do đó chính quyền đã lập 250 trại cai nghiện internet khắp quốc gia để dành cho những thiếu niên dưới 18 tuổi.

Ngoài ra, nếu phụ huynh cho con dưới 2 tuổi sử dụng các thiết bị điện tử như iPad, TV và điện thoại thông minh sẽ bị phạt 30 triệu đồng. Đây được xem là những sản phẩm hạn chế sử dụng như thuốc lá, rượu.

Nguồn: Khỏe & Đẹp