Bắt nhóm nghiện ma túy gây hàng loạt vụ cướp

http://soha.vn

Sáng 30-1, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Thuận An (Bình Dương) đã bắt giữ Nguyễn Anh Tâm (21 tuổi), Lê Minh Tuệ (19 tuổi), Nguyễn Hùng Hậu (24 tuổi, cùng ngụ thị xã Thuận An, Bình Dương), Lê Hoài Sơn (16 tuổi, quê Bình Thuận) và Phạm Văn Tuần (17 tuổi, quê Bình Định) về hành vi cướp, cướp giật và trộm cắp tài sản.

Theo cơ quan Công an, Tâm cầm đầu băng nhóm này, từ 12-2017, đã tụ tập và rủ rê nhiều thanh thiếu niên hư hỏng trên địa bàn đến phòng trọ của mình để chơi ma tuý và sau đó khiển xe máy, sử dụng mã tấu để khống chế cướp, cướp giật và trộm tài sản của người dân.

Cả nhóm đã gây ra hàng lọat vụ cướp, cướp giật và trộm cắp tài sản trên địa bàn.

Ai từng là nạn nhân của các đối tượng (ảnh) liên hệ với Công an thị xã Thuận An để giải quyết.

 

 

 

 

TỪ “PHÊ” THÀNH ĐIÊN

tuoitre.vn

TỪ "PHÊ" THÀNH ĐIÊN

TT – Ma túy tổng hợp đang đẩy không ít bạn trẻ vào bệnh viện tâm thần vì rối loạn tâm thần tức thời ngay sau khi sử dụng. Nguyễn Khắc H. (26 tuổi, Hà Nội) đã điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội gần hai tháng.

Khoảng một năm trước, H. được đưa vào đây trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.

Từ  "phê" thành điên Phóng to
Bác sĩ thăm khám cho Nguyễn Khắc H.- người đã hai lần nhập viện tâm thần do dùng ma túy tổng hợp – Ảnh: Ngọc Hà

Vì sao?

Sau khi hít ma túy đá, H. chìm trong ảo giác kỳ lạ, tưởng mình là chim nên cứ thế bật tung cửa bancông trên tầng ba rồi… nhảy xuống đất. May mắn, kết quả cú nhảy bất thường chỉ là hai gót chân bị gãy giập. Nhưng ra viện, cai được vài tháng H. lại “phập” vào đường cũ. Bạn bè dùng ma túy để thức liên tục vài ngày không ngủ, “chơi tới bến” đủ thứ như cờ bạc, nhảy nhót thâu đêm, còn H. chỉ dùng cùng vợ. “Nó đem lại cho cả hai vợ chồng hưng phấn đặc biệt”, H. không giấu giếm. Theo H., nhiều cặp vợ chồng trẻ, mới cưới như H. rất ưa dùng ma túy tổng hợp để phục vụ chuyện “riêng tư”. “Nhưng chỉ được một thời gian” – H. bộc bạch.

Không đơn giản dùng ma túy để khoe độ chơi như nhiều người nghĩ, nhiều bạn trẻ như H. đang lặng lẽ chơi thứ hàng chết người này để thỏa mãn “bản lĩnh giới tính”. H. lý giải đó là lý do cậu không phải thành phần hư hỏng, đã tốt nghiệp đại học, có công ăn việc làm tử tế, còn vợ cũng là trưởng phòng một công ty du lịch, cả hai đã có con, có nhà riêng mà vẫn tìm đến ma túy đá. Theo H., dù chơi rất hạn chế, nhưng hơn một năm hai vợ chồng cũng chi hết 400-500 triệu đồng để “đập đá”.

Thống kê tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội cho thấy cả năm 2010 chỉ có chín bệnh nhân nhập viện thì năm 2011 số bệnh nhân tăng hơn 10 lần, lên đến 93 người. Riêng ba tháng đầu năm 2012, nguyên số bệnh nhân ra viện sau điều trị bệnh lý này đã là 15 người. Bệnh nhân gia tăng, phác đồ điều trị chưa có, đặc điểm bệnh lý nhiều nét đặc thù… buộc bệnh viện đang gấp rút xây dựng một đề tài nghiên cứu về những rối loạn tâm thần do sử dụng Amphetamine và dẫn xuất.

H. chỉ là một trong nhiều bệnh nhân tâm thần vì ma túy tổng hợp đang điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội. Sự gia tăng của dạng bệnh này khiến khoa H. – khoa điều trị nghiện chất – trở nên quá tải. Hơn 50 giường bệnh của khoa luôn tiếp nhận điều trị trên 60 bệnh nhân.

Bác sĩ Lý Trần Tình – giám đốc Bệnh viện Tâm thần Hà Nội – khẳng định xã hội vẫn dồn lo lắng vào tình trạng nghiện heroin, nhưng gần đây các hệ lụy từ nghiện các loại ma túy tổng hợp dạng Amphetamine và dẫn xuất (như “ma túy đá”, thuốc lắc Ecstasy…) mới là vấn đề đáng báo động. “Nhiều người dùng ma túy tổng hợp còn tìm cách thỏa mãn hưng phấn bằng cách sinh hoạt tình dục bừa bãi, thậm chí sinh hoạt tình dục tập thể” – bác sĩ Tình nói.

Bệnh nhân trí thức

Theo bác sĩ Tình, ma túy có thể chia làm các nhóm chất gây nghiện: chất dạng thuốc phiện; các chất kích thần nhóm Amphetamine, Methamphetamine, Ecstasy; các chất yên dịu gây ảo giác. Trong đó nhóm chất Amphetamine và các dẫn xuất (hay còn gọi là ma túy tổng hợp) đang trở thành nỗi ám ảnh của bác sĩ chuyên ngành tâm thần. Bệnh nhân chịu những rối loạn về thần kinh thường biểu hiện tức thời sau khi sử dụng.

“Biểu hiện phổ biến là nói nhiều, tự cao, đa nghi và kích động, tăng ham muốn tình dục, tăng nhạy cảm với ánh sáng, âm thanh. Khi sử dụng liều cao, bệnh nhân dễ rơi vào trạng thái loạn thần như hoang tưởng, ảo giác” – bác sĩ Tình phân tích. Bệnh nhân không chỉ nằm ở nhóm “thanh niên hư hỏng” như thường thấy ở người nghiện thuốc phiện, tại các đô thị lớn người nghiện ma túy tổng hợp đang xuất hiện nhiều hơn ở giới công chức, những người có trình độ, tốt nghiệp các trường đại học lớn…

Gia đình có thể phát hiện sớm người thân mình sử dụng ma túy tổng hợp qua các biểu hiện dễ thấy như: không ngủ 3-7 ngày liên tục, nhạy cảm với âm thanh, tiếng ồn, có các hoạt động thể chất liên tục (liên tục vặn vẹo hoặc đan các ngón tay vào nhau, tháo lắp sửa chữa đồ vật, đứng ngồi không yên)…

Bác sĩ Nguyễn Quang Bính – trưởng khoa H Bệnh viện Tâm thần Hà Nội – cho biết hiện vẫn chưa có phác đồ điều trị cụ thể cho bệnh nhân nghiện ma túy tổng hợp, mà chỉ điều trị trên những triệu chứng riêng lẻ. “Nguy hiểm là nhóm chất kích thích, thuốc lắc này thường gây ảo giác mạnh, có thể khiến người dùng gây tội ác ngay sau khi sử dụng. Có đến 48% người nghiện ma túy “có vấn đề” với pháp luật chính là những người nghiện Amphetamine” – bác sĩ Bính nói.

 

LIỆU PHÁP NHẬN THỨC HÀNH VI TRONG HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ NGHIỆN

pcmt.ubdt.gov.vn

LIỆU PHÁP NHẬN THỨC HÀNH VI TRONG HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ NGHIỆN

 

Nhận thức hành vi là một trường phái trong tâm lý và trị liệu được nhà tâm lý, trị liệu người Mỹ Albert Ellis cùng các cộng sự của ông phát triển. Đây là một trong những liệu pháp được ứng dụng rộng rãi, mang lại nhiều kết quả thiết thực.Triết lý liệu pháp nhận thức hành vi cho rằng con người được sinh ra với những tiềm năng sẵn có, trong đó có tiềm năng giúp cho con người suy nghĩ, ứng xử hợp lý, hướng tới hạnh phúc, suy nghĩ, yêu thương, giao tiếp tốt với người khác. Đồng thời, cũng có thể khiến con người suy nghĩ thiếu lô gích hoặc lảng tránh suy nghĩ, trì hoãn, luôn mắc lỗi, khó tha thứ cho người khác, hướng đến sự “hoàn hảo”, tự đổ lỗi cho mình và không muốn phát huy khả năng.

 

Trong ba phần suy nghĩ, cảm nhận và hành động, con người chịu sự chi phối mãnh mẽ của suy nghĩ (nhận thức). “Chất lượng” của suy nghĩ sẽ quyết định đến chất lượng cuộc sống của mỗi con người, giúp con người giải quyết những vấn đề trong cuộc sống và cũng có thể gây ra những vấn đề trong cuộc sống.

 

Điểm xuất phát của những suy nghĩ này là do con người nghe, tiếp nhận được từ những người sống xung quanh trong thời gian dài. Bên cạnh đó, bản thân con người luôn có xu hướng tự đánh giá, chịu đựng những suy nghĩ cũ mòn, không muốn thay đổi.



Xuất phát từ quan điểm trên Elliss và các cộng sự của ông đã phát triển ra một phương pháp tác động làm thay đổi nhận thức của con người có tên là ABC. Trong đó, A- Sự kiện gây tác động (activating event), B-Niềm tin (belief), và C-Hậu quả đối với cảm xúc và hành vi của con người (emotional and behavioral consequence).



Bản thân những vấn đề, sự kiện (A) không trực tiếp gây ra những hậu qủa trực tiếp đối với cảm xúc và hành vi của con người, mà chính do những niềm tin, cách lý giải của mỗi con người về những vấn đề, sự kiện đã tác động đến cảm xúc tiêu cực và dẫn đến hành vi không phù hợp.



Từ việc phát hiện ra mối liên kết này, những nhà trị liệu theo trường phái nhận thức hành vi đưa ra mô hình can thiệp có tên là ABCDEF. Trong đó D – là sự can thiệp và quá trình suy nghĩ, làm thay đổi những suy nghĩ thiếu lô gích (disputing intervention), E là tác động (effect), và F- là những cảm xúc mới (new feelings).



Hỗ trợ cho việc can thiệp và giúp cho con người có nhiều suy nghĩ hợp lý hơn, trường phái nhận thức hành vi còn giúp cho mỗi người học cách chấp nhận bản thân vô điều kiện (Unconditional Self-Acceptance- USA) và chấp nhận người khác vô điều kiện (UOA-Unconditional Other Acceptance). Điều này giúp cho con người dễ dàng tha thứ cho bản thân, người khác, không tự đổ lỗi cho mình trước những thất bại, đồng thời có thể đặt ra cho mình những mục tiêu thực tế.



Để chứng minh cho mô hình can thiệp trên, Ellis đã chỉ ra một suy nghĩ tự động làm mọi người rất đau khổ và khó chấp nhận đó là “mình phải được yêu thương và chấp nhận bởi những người quan trọng trong cuộc sống”, khi bản thân không có được điều này sẽ gây ra những thù hận, oán trách, mong muốn làm hài lòng người khác….Ellis đã tự giúp cho chính bản thân ông cũng như nhiều người hiểu rằng những người quan trọng của mình cũng có thể không yêu mình như mình mong muốn, mình phải chấp nhận điều đó.



Những người tham gia trị liệu bằng nhận thức hành vi cần sự thành thực với bản thân, có khả năng suy nghĩ, và phải làm rất nhiều bài tập về nhà, chủ yếu là những bài tập có sự trải nghiệm. Tuy nhiên, thời gian tham gia trị liệu theo nhận thức hành vi rất ngắn, thường gói gọn tối đa trong 6 buổi làm việc (1 tuần/buổi)



Áp dụng trong việc hỗ trợ người nghiện rượu, ma túy



Từ khi ra đời đến nay, liệu pháp nhận thức hành vi đã được áp dụng rất nhiều trong việc hỗ trợ những người bị rối loạn cảm xúc (trầm cảm, sợ hãi, tức giận), những người gặp khó khăn trong mối quan hệ với người khác, và đặc biệt có hiệu quả với những người nghiện chất (rượu, ma túy).



Với những người sử dụng chất gây nghiện lần đầu hoặc sử dụng không thường xuyên, khi bị cảnh sát bắt giữ, thay cho việc gửi những người này vào nơi điều trị nghiện hoặc nhà tù, họ được chuyển đến một nơi có tên gọi là “chuyển làn”, đây chính là một chương trình giáo dục giúp thay đổi suy nghĩ và hành vi trong một thời gian nhất định.



Trong thời gian đó, sự hỗ trợ của các nhà giáo dục, tư vấn…giúp cho người sử dụng chất gây nghiện chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống cá nhân, lý do của việc sử dụng chất gây nghiện, mối quan hệ với những người xung quanh, và tất nhiên, cả những “kiểu suy nghĩ” đặc trưng của mỗi người.



Những người sử dụng chất gây nghiện trong giai đoạn này được coi như “khách hàng”, một người được đi đào tạo và nhiệm vụ của họ là hợp tác, tuân thủ chương trình đào tạo dành cho mình. Thời gian tham gia chương trình này sẽ do bản thân người sử dụng chất gây nghiện và cán bộ tư vấn, trị liệu xác định, nhưng thường kéo dài từ 1-3 tháng.



Đối với những người nghiện được đưa vào các cơ sở điều trị hoặc vào tù, để giúp cho họ thích nghi với cuộc sống bên ngoài sau thời gian cai nghiện hoặc hết hạn tù, họ được tham gia một một chương trình miễn phí gọi là Chuẩn bị hòa nhập. Lúc này liệu pháp nhận thức hành vi được sử dụng như một liệu pháp hỗ trợ tích cực giúp cho những người tham gia hiểu về bản thân nhiều hơn, chuẩn bị ứng phó với những thay đổi mới

 

Việc áp dụng liệu pháp nhận thức hành vi cho những người nghiện chất trong chương trình này không chỉ được điều trị về việc nghiện chất, mà còn tạo điều kiện để những người nghiện “tự giáo dục các suy nghĩ”, học cách tập trung thay đổi suy nghĩ của bản thân, tập trung vào những vấn đề cần giải quyết trong cuộc sống thay cho những suy nghĩ tiêu cực, tự đổ lỗi, mong muốn trả thù…



Theo báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, hiện con số người nghiện ma túy được quản lý ở Việt Nam vào khoảng 180.000 người, chưa kể những người mới sử dụng. Với nhiều thay đổi về mặt quan điểm, chính sách đối với người nghiện chất nói chung và người sử dụng ma túy nói riêng, chúng ta đang trên con đường chuyển đổi từ việc đưa người sử dụng ma túy vào trại tập trung sang hình thức cai nghiện tự nguyện dựa vào cộng đồng với nhiều chương trình điều trị phù hợp.



Để việc điều trị cho người nghiện chất được hiệu quả hơn, cũng như việc áp dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau trong hỗ trợ người nghiện trong tương lai ở Việt Nam, chúng ta cần tạo điều kiện để quá trình đào tạo, trị liệu, giáo dục được lồng nghép trong tất cả các bước hỗ trợ người cai nghiện chất, tập trung vào các chương trình đào tạo mang tính ứng dụng cao cho những nhà tư vấn, trị liệu, khuyến khích những mô hình thử nghiệm hỗ trợ người nghiện và tạo điều kiện cho các tổ chức chuyên môn cùng tham gia.



Điển hình, từ năm 2009-2012, trong khuôn khổ của một cấu phần dự án HIV/AIDS nơi làm việc mang tên Chuẩn bị trước khi đi làm, dành cho những nhóm dễ bị tổn thương trong đó có người đã từng sử dụng ma túy, những tư vấn viên việc làm của Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến phát triển Cộng đồng (SCDI) đã thử nghiệm đưa những kỹ thuật liệu pháp nhận thức hành vi trong quá trình đào tạo và tư vấn.



Trong quá trình đào tạo về nhận thức bản thân, tư vấn viên đã lựa chọn những suy nghĩ phổ biến và gây ra những cảm xúc tiêu cực cho người sử dụng ma túy như: Sử dụng ma túy là một điều xấu xa, người nghiện ma túy là những người không tốt, Những người sử dụng ma túy rất khó tìm kiếm việc làm…để cùng những người dùng ma túy thực hành cách thay thế những suy nghĩ có ích hơn.



Những người sử dụng ma túy đã chia sẻ những cảm giác bất lực, xấu hổ, mất hy vọng, thiếu tự tin, tự đổ lỗi cho bản thân…. khi để những suy nghĩ trên “ám ảnh trong đầu”. Người hướng dẫn và các bạn đồng đẳng đã giúp họ thay thế suy nghĩ bằng cách: Dừng suy nghĩ (trong những trường hợp những suy nghĩ tiêu cực trên quá ảm ảnh quá nặng) hoặc thay thế suy nghĩ (ví dụ, sử dụng ma túy là một điều không tốt cho sức khỏe, nhưng điều đó không có nghĩa những người sử dụng ma túy là người không tốt; mọi người thường nghĩ những người sử dụng ma túy rất khó kiếm việc làm, nhưng trên thực tế có nhiều người đã tìm được việc làm)…



Sau khi được tham gia thực hành bài tập, những người sử dụng ma túy đều chia sẻ một tâm trạng thoái mái, dễ chịu và cởi mở hơn khi nói về vấn đề của mình. Việc tích cực hơn. Tuy nhiên, đây là một hoạt động mang tính lồng nghép và thử nghiệm nên không có điều kiện để áp dụng cho nhiều người và chỉ giới hạn trong khoảng thời gian nhất định.

 

Mai Thị Việt Thắng

Nguồn tiengchuong.vn

CÁC PHƯƠNG PHÁP CAN THIỆP CHO NHÓM NGƯỜI SỬ DỤNG/NGHIỆN CÁC CHẤT KÍCH THÍCH DẠNG AMPHETAMINE

Các phương pháp can thiệp cho nhóm người sử dụng/nghiện các chất kích thích dạng Amphetamine

TS Nguyễn Tố Như – Tổ chức FHI

Lịch sử của ATS

Thảo dược chứa ephedrine đã được người Trung Quốc dùng để chữa bệnh trong nhiều thế kỷ 

  • Amphetamine được tổng hợp vào năm 1887 bởi một nhà hóa học người Đức để sử dụng thay cho ephedrine
  • Methamphetamine được một nhà hóa học người Nhật Bản tổng hợp năm 1917
  • Ephedrine và chất giống ephedrine “pseudo ephedrine” là thành phần chủ yếu trong methamphetamine
  • (Nguồn: Rasmussen (2008) On speed: The many lives of amphetamines
  • Sản xuất ATS bất hợp pháp
  • Sản xuất ATS khá dễ dàng
  • Nhiều thành phần sản xuất ATS còn hợp pháp
  • (Giả)-ephedrine, ((pseudo)-ephedrine)
  • Phốt-pho đỏ
  • I-ốt
  • Nước cất
  • Công thức tổng hợp trên Internet
  • Các la-bô sản xuất ATS lậu

 

Hậu quả ATS

(*) Bao gồm cả Trung Mỹ và vùng Caribe;
Nguồn: UNODC. World Drug Report 2008.

Trải nghiệm tiêm chích ATS

 

Lạm dụng ATS tại Việt nam

  • vXuất hiện bất hợp pháp tại Việt Nam từ  cuối những năm 90 thế kỷ trước hiện ATS đã có mặt ở tất cả các tỉnh, thành phố
  • vATS được dùng phổ biến tại Việt Nam là Methamphetamine và Ecstasy với các tên lóng như: đá , thuốc lắc, hồng phiến, viên nữ hoàng, ngọc điên, yaba…
  • vATS được dùng phổ biến trong nhóm người nghiện ma túy là những thanh niên con nhà khá giả ở những thành phố lớn.
  • vATS được dùng phổ biến trong nhóm người nghiện ma túy là những thanh niên con nhà khá giả.
  • vGiá từ 200.000 VNĐ – 500.000 VNĐ (12 – 30 USD)

Các chất dạng Amphetamine được sử dụng theo các cách khác nhau

  • Sử dụng để giải trí Thỉnh thoảng dùng một lượng nhỏ  
  • Dùng kiểu Binge Sử dụng nhiều trong vài ngày (2-10 ngày) có những khoảng nghỉ giữa các đợt dùng
  • Dùng thường xuyên Sử dụng thường xuyên thành thói quen có thể liên quan hoặc không liên quan đến lệ thuộc
  • Lệ thuộc/nghiện sử dụng thường xuyên và có những biểu hiện lệ thuộc về thể chất hoặc tâm lý
  • Mức độ tác động phụ thuộc vào liều lượng và tần suất sử dụng
  • Mức độ ngộ độc tăng lên khi dùng cùng với rượu, cocaine, dẫn chất thuốc phiện hoặc cần sa.

Điều gì sẽ xảy ra ở những người “dùng để giải trí”?

  • Hầu hết trong số họ sẽ ngừng sử dụng mà không cần điều trị
  • Một số ít chuyển sang dùng thường xuyên, dùng nhiều và lệ thuộc vào ATS
  • Một số có thể chuyển sang dùng loại chất gây nghiện khác…

Một số tác hại của việc sử dụng amphetamine KHÔNG liên quan đến liều lượng và không thể phục hồi được

Hành vi nguy cơ cao trong khi phê có thể bao gồm:

  • Dùng chung bơm kim tiêm bẩn hoặc quan hệ tình dục không an toàn dẫn đến nhiễm HIV và/hoặc viêm gan B và C
  • Theo đuổi nguy cơ cao – đua ô tô, xe máy, đua với tàu hỏa
  • Bạo lực
  • “Suy sụp/suy kiệt”
  • Biểu hiện cai:
  • Kiệt sức
  • Rối loạn giấc ngủ
  • Ý tưởng tự sát
  • Tăng lo lắng và/hoặc rối loạn tâm lý lo lắng (chứng sợ chỗ đông người)
  • Có thể dẫn đến tiếp tục sử dụng (“tránh suy sụp”)
  • Sử dụng thuốc ngủ và chất dạng thuốc phiện nhằm giảm triệu chứng cai
  • Người nhiễm HIV sử dụng M/A
  • Nghiên cứu chỉ ra rằng sử dụng M/A thường dẫn tới tăng tải lượng virus, tăng tốc độ tiến triển của HIV, giảm chức năng miễn dịch hơn và tăng tổn thương thần kinh.
  • M/A có thể có tương tác thuốc có hại với nhiều thuốc điều trị HIV.
  • Khi phê, người ta thường quên không dùng thuốc hoặc tuân theo hướng dẫn ăn, uống. Sỏi thận cũng thường gặp.

Các giải pháp và can thiệp

Phương pháp dựa trên cộng đồng:

  • Các quy tắc giảm nguy cơ (tác hại)

     

    • Thừa nhận rằng, đối với một số người, việc từ bỏ ma túy là rất khó khăn và tái nghiện là một phần của quá trình phục hồi.
    • Thừa nhận rằng cần có các can thiệp tạm thời để đảm bảo rằng người sử dụng không bị ảnh hưởng sức khỏe không thể hồi phục (như bị nhiễm HIV/viêm gan B hoặc C) hoặc tử vong do quá liều hoặc hành vi nguy cơ khác
  • Giảm nguy cơ dựa trên khái niệm về ‘bậc thang mục tiêu điều trị’

     

    • Giảm nguy cơ: các nấc thang mục tiêu
    • Nếu không thể ngừng sử dụng ma túy trong thời gian ngắn:
  • Giảm số loại ma túy và số lượng từng loại (vd: tiêu ít tiền hơn cho ma túy)
  • Giảm số lần dùng (như chỉ dùng vào cuối tuần; một lần/tháng, trong dịp đặc biệt)
  • Không tiêm chích ma túy.

     

    • Nếu tiêm chích, không chích chung.
    • Nếu dùng chung, đảm bảo rằng BKT được làm sạch.
  • Chương trình Giảm tác hại cho người sử dụng chất kích thích
  • Chương trình trao đổi bơm kim tiêm tại cộng đồng
  • Nhân viên còn tiến hành phân phát bơm kim tiêm tại nhà và tại cộng đồng
  • Tiếp cận đồng đẳng trao đổi BKT thứ cấp
  • Người sử dụng nhận dịch vụ tư vấn cá nhân và tư vấn nhóm về giảm tác hại
  • Chuyên biệt cho sử dụng chất kích thích. 
  • Người sử dụng được tiếp cận với dịch vụ tư vấn và xét nghiệm HIV, thông tin về HCV, các thông tin sức khỏe khác và được hỗ trợ khi cần.
  • Người sử dụng được tiếp cận với các nguồn dịch vụ giảm tác hại khác nhau.
  • Trước khi bạn phê:

     

    • Chuẩn bị cho an toàn tình dục trước khi bạn phê.
    • Quyết định bạn muốn quan hệ tình dục như thế nào và với ai.
    • Thỏa thuận về việc bộc lộ/hỏi về tình trạng HIV/STD và sử dụng bao cao su khi phê.
    • Cầm theo nhiều bao cao su và chất bôi trơn. Để ở chỗ bạn có thể thấy khi bạn phê.
    •  
  • Trong khi phê:

     

    • Ăn, uống nhiều nước và ngủ
    • Kéo dài thời gian quan hệ tình dục dưới tác dụng của M/A dẫn đến sự cọ sát quá mức và có thể làm cho bao cao su khô nhanh hơn hoặc vỡ. Thay bao cao su sau mỗi giờ. Kiểm tra xem có máu không.
    • Sử dụng nhiều chất bôi trơn dạng hòa tan trong nước hơn bình thường. 
    • M/A sử dụng cùng với các thuốc khác như Viagra, khí cười (poppers – amyl và butyl nitrates) và Ecstasy có thể gây ra những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng và thậm chí là nguy hiểm đến tính mạng.
  • Giảm nguy cơ/giảm tác hại
  • Kết quả tích cực từ mạng lưới can thiệp đồng đẳng
  • Thử nghiệm ngẫu nhiên can thiệp đồng đẳng trong nhóm thanh thiếu niên sử dụng methamphetamine ở Chiang Mai, Thái Lan (2005- 2007)
  • Đối tượng trong cả hai nhóm đều báo cáo giảm sử dụng methamphetamine rõ rệt (99% trong đánh giá ban đầu so với 53% sau 12 tháng)
  • Tăng sử dụng bao cao su liên tục rõ rệt, (32% trong đánh giá ban đầu lên 44% sau 12 tháng)

 

Các giải pháp khác

Khuyến nghị:

  • Củng cố luật pháp
  • Giải quyết bạo lực gia đình
  • Vấn đề y tế công cộng STD/HIV
  • Phúc lợi cho trẻ em
  • Các bệnh nhiễm trùng
  • Lạm dụng chất gây nghiện
  • Sức khỏe tâm thần
  • Đào tạo cán bộ điều trị
  • Giáo dục
  • Thông tin đại chúng
  • Điều trị bằng thuốc

Nghiên cứu điều trị bằng thuốc

Các thuốc điều trị nhằm thay thế tác động dược động học và dược tính học của chất dạng amphetamine và methamphetamines cũng như tác động của nó lên não bộ đang được thử nghiệm (chủ yếu ở Mỹ và Úc)

  • Tập trung vào các thuốc có thể giúp:
  • Giảm sử dụng
  • Tăng duy trì điều trị
  • Giảm thèm nhớ và giúp duy trì cai thuốc
  • Cung cấp điều trị thay thế phù hợp

 

Một số loại thuốc đã được thử nghiệm trong điều trị lệ thuộc ATS

Thuốc chống trầm cảm:  Thuốc khác:

  • Fluxetine  Ondasetron (seratonin đối kháng)
  • Bupropion  Baclofen  (đồng vận)
  • Paraoxetine  Tyrosine (amino-acid)
  • Thuốc chống trầm cảm 3 vòng  Amlodipine (chặn kênh can-xi)
  • Imimpramine
  • Despiramine

Thuốc kích thích không phải amphetamine

 

Một số kết quả nghiên cứu dược lý điều trị lệ thuộc

Tìm kiếm liệu pháp điều trị thay thế

Kết quả ban đầu:

Dextroamphetamine

  • Duy trì điều trị tốt và cải thiện một số chỉ số.
  • Không có tác dụng không mong muốn
  • Phù hợp với ‘bệnh nhân khó điều trị’.

Modafinil

  • Không gây cảm giác phê, có tác dụng tích cực với việc thực hiện chức năng và động lực
  • Sử dụng hiệu quả trong điều trị nghiện cocaine

Các mô hình điều trị tâm lý xã hội

  • Liệu pháp nhận thức hành vi (CBT)
  • Dựa trên lý thuyết về học tập xã hội
  • Vận dụng lý thuyết học tập để giúp cá nhân giảm sử dụng ma túy:

     

    • Khuyến khích và củng cố thay đổi hành vi
    • Giúp khách hàng học được các kỹ năng đối phó
    • Giúp khách hàng học cách đối phó với “yếu tố cám dỗ”
    • Giúp khách hàng đối phó với thèm nhớ

 

Phỏng vấn tạo động cơ

Dựa trên lý thuyết về ‘Các giai đoạn thay đổi hành vi’

Nhằm khuyến khích khách hàng từ bỏ ma túy

Các khái niệm cơ bản gồm:

  • Đề nghị và củng cố thay đổi
  • Tạo ‘mối quan hệ trị liệu’ giữa khách hàng và cán bộ điều trị
  • Cán bộ điều trị cung cấp thông điệp rõ ràng cho khách hàng

 

Quản lý hành vi (CM)

  • Sử dụng khái niệm ‘các điều kiện có hiệu lực’
  • Điều kiện có hiệu lực là hình thức thay đổi của “hành vi tự nguyện" hoặc hành vi “quan sát được”
  • Sử dụng một số hình thức củng cố tích cực (khen thưởng) và can thiệp khi có hành vi tiêu cực (phạt) để duy trì tình trạng cai hoặc hành vi mong muốn đạt được.
  • Được sử dụng rộng rãi ở một số nước trong điều trị nghiện cocaine, benzodiazepine, heroin và nicotine.

Ví dụ về các phương pháp điều trị:

Nhóm nghiện ẩn danh: Chương trình “12 bước”, nhóm tự lực tại cộng đồng:

Thường là một cấu phần của phương pháp điều trị toàn diện khác có thể bao gồm điều trị cho bạn tình, gia đình và con cái.

Các nguyên tắc quan trọng

Thừa nhận rằng một người không thể tự kiểm soát được tình trạng nghiện hoặc cảm giác ép buộc của họ – đó là một bệnh.

Học cách sống một cuộc sống mới với những hành vi mới với sự giúp đỡ từ người khác – từ bỏ mọi loại ma túy (trên cơ sở kiêng nhịn/hoàn toàn không sử dụng)

Giúp người khác cùng bị nghiện hoặc chịu cảm giác ép buộc.

Tính vô danh khiến không thể tạo ra nghiên cứu hệ thống – nhưng có thể cung cấp ‘giá trị bổ sung’ cho các chương trình khác.

Ví dụ về các phương pháp điều trị:

Mô hình Matrix (mô hình hỗn hợp):

Sử dụng nhiều liệu pháp tâm lý để phát triển kỹ năng (quản lý hành vi, liệu pháp nhận thức hành vi, phỏng vấn tạo động cơ, v.v…)

Có sự tham gia của bạn tình/gia đình trong quá trình điều trị (tư vấn cá nhân và tư vấn nhóm)

Cung cấp thông tin-giáo dục- truyền thông chính xác (IEC) và thúc đẩy tham gia chương trình phục hồi 12 bước

Thực hiện tư vấn nhóm liên tục khoảng 3 lần/tuần trong 16 tuần, sau đó là 36 tuần tham gia nhóm chăm sóc hỗ trợ

Nhóm dự phòng tái nghiện và hỗ trợ xã hội

 

Các cấu phần điều trị của
Mô hình Matrix

  •   Buổi tiếp xúc cá nhân
  •   Nhóm hồi phục sớm
  •   Nhóm dự phòng tái nghiện
  •   Nhóm giáo dục gia đình
  •   Cuộc họp 12 bước
  •   Nhóm hỗ trợ xã hội
  •   Phân tích tái nghiện
  •   Xét nghiệm nước tiểu
  • Tổng quan kết quả điều trị
  •   Ví dụ: Cochrane 2001/2009: “Do chưa có thử nghiệm điều trị nào có kết quả hứa hẹn, các điều trị khác, cả sinh học và tâm lý xã hội cần được nghiên cứu thêm.”

 

Các nghiên cứu bằng chứng

Phương pháp Matrix

Matrix so với Điều trị thông thường (nhiều buổi tư vấn, nhiều hình thức)

Những khách hàng tham gia chương trình Matrix nhận được nhiều điều trị hơn, tham gia trong thời gian dài hơn, có nhiều kết quả thử nước tiểu âm tính trong khi điều trị hơn và nhiều khả năng hoàn thành điều trị hơn ‘Điều trị thông thường’.

  • 82% không sử dụng methamphetamines trong 30 ngày qua
  • 54% cai hoàn toàn từ 24 tháng trở nên
  • Tỷ lệ có việc làm toàn thời gian tăng từ 26% lên 62%
  • Gần 70% test nước tiểu âm tính khi hoàn thành điều trị và theo dõi.
  • Sau 6,12 và 36 tháng theo dõi kết quả không khác nhau
  • Khi kết thúc điều trị, trên 60% ở cả hai nhóm nói rằng họ không sử dụng methamphetamine và giảm sử dụng ma túy khác.

 

Liệu pháp nhận thức hành vi (CBT) và
quản lý hành vi (CM)

  • Tổng quan tài liệu nghiên cứu nhận thấy các can thiệp tâm lý đơn thuần có hiệu quả trong sử dụng và lệ thuộc methamphetamine.
  • Có ảnh hưởng tích cực trong quá trình điều trị.
  • Không có bằng chứng cho thấy kết hợp hệ thống giữa CBT và CM không tạo ra hiệu quả lớn hơn
  • Những người đang trong chương trình điều trị thông thường được kết hợp với CM có thể kiêng nhịn được lâu hơn.

Khuyến nghị: Cần nghiên cứu thêm

Can thiệp ngắn (brief intervention)

Các đợt điều trị ngắn (2 – 4 đợt) kèm theo Liệu pháp nhận thức hành vi và Phỏng vấn tạo động cơ liên quan đến giảm sử dụng methamphetamine và các thay đổi tích cực khác

Theo dõi sau 6 tháng, gần một nửa số người tham gia điều trị vẫn duy trì kiêng sử dụng, trong khi tỷ lệ này ở nhóm người chỉ nhận sách hướng dẫn tự điều trị với thông tin tương tự chỉ là 30%.

 

Tóm tắt các nghiên cứu điều trị

  • Chưa có thử nghiệm nào được thực hiện với điều trị bắt buộc
  • Số lượng thử nghiệm lâm sàng có đối chứng còn hạn chế.
  • Tất cả các can thiệp đều có hiệu quả với những người muốn được điều trị
  • Không có phương pháp nào hiệu quả với mọi đối tượng
  • Can thiệp ngắn có tiềm năng và kinh tế
  • Điều trị tập trung không hiệu quả hơn điều trị ngoại trú
  • Duy trì trong (bất kỳ) điều trị nào đều quan trọng
  • Hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng rất hữu ích

 

Kết quả tổng quan cho thấy

  • Hầu hết các phương pháp điều trị đều tập trung vào người sử dụng nhiều hoặc lệ thuộc
  • Các can thiệp cần được thiết kế để giải quyết tính phức tạp của người sử dụng ATS nhằm điều trị cả cho người dùng thử, thỉnh thoảng dùng, dùng nhiều và người lệ thuộc
  • Trọng tâm bổ sung là dự phòng các bệnh lây qua đường máu (HIV, Viêm gan B và C), điều trị lệ thuộc ma túy và giảm các nguy cơ khác của ATS (amphetamine, loạn thần, quá liều, bạo lực).

 

Khuyến nghi của Tổ chức Y tế Thế giới WHO và Văn phòng Kiểm soát ma túy – tội phạm Liên Hợp Quốc UNODC: cần có một Phương pháp Y tế Công cộng để giảm tác hại của methamphetamines

  • Cần có các phương pháp mang tính CÁCH MẠNG
  • Phát triển các chương trình can thiệp ngắn, chi phí thấp tại cộng đồng
  • Đặt mục tiêu có thể đạt được với người sử dụng ATS
  • Xây dựng các can thiệp trọn gói và linh hoạt với nhiều trọng tâm để chăm sóc từng bước
  • Đưa người sử dụng methamphetamine tham gia vào quá trình điều trị – họ là một phần của giải pháp
  • Xây dựng các hướng dẫn điều trị, chỉnh sửa cho phù hợp với những nơi có nguồn lực hạn chế bao gồm các khuyến nghị này.

 

Nguồn thông tin

  • Dựa trên nghiên cứu trên website do Tổ chức Y tế Thế giới yêu cầu – tập trung vào các nghiên cứu tiến hành trong 5 năm qua.
  • Thông tin bổ sung từ Hội nghị Quốc tế về Methamphetamine lần thứ nhất tại Praha (tháng 9 năm 2008)
  • Quá nhiều tài liệu được tham khảo nên không thể liệt kê được (tất cả bài báo) – Tham khảo trên 100 công trình nghiên cứu và chính sách đã được công bố

 

Tài liệu tham khảo

  • Nguồn thông tin chủ yếu liên quan đến Methamphetamine
  • Đây là danh mục đầy đủ về những nghiên cứu và bài viết về methamphetamine. Trong một vài trường hợp, có thể áp dụng cho amphetamines  (Mark Hammer, New York State Department of Health) http://www.jointogether.org/resources/a-key-to-meth.html
  • Websites
  • Tweaker
  • Thông tin về methamphetamine. Trong vài trường hợp có thể áp dụng cho amphetamines.
  • http://www.tweaker.org
  • The Methamphetamine Project
  • Bao gồm nhiều bài trình bày về các chất kích thích.
  • http://www.harmredux.org/Methproject.html
  • Đọc thêm
  • Vượt qua nghiện Meth dạng tinh thể: Hướng dẫn cơ bản để từ bỏ hoàn toàn của Steven J. Lee
  •  Có thể áp dụng với những chất kích thích khác. Tập trung vào việc thấu hiểu hơn là chỉ trích.
  • Đề cập tới hầu hết các câu hỏi cốt yếu. ISBN-10: 1569243131  / ISBN-13: 978-1569243138

 

 

 

Cảnh giác “biệt dược” cai nghiện ma túy tại nhà của các “thần y dỏm”

Cảnh giác “biệt dược” cai nghiện ma túy tại nhà của các “thần y dỏm”
Nhận thấy nhu cầu sử dụng thuốc cai nghiện tại nhà của một số người nghiện ma túy, nhiều đối tượng hám lợi dùng những trang mạng liên quan đến việc hỏi đáp cách cai nghiện ma túy để rao bán thuốc cai nghiện.

Với cách thức này, không ít người có nhu cầu đã rơi vào bẫy mua thuốc cai nghiện trôi nổi không rõ nguồn gốc, giá cao ngất ngưỡng mà không có hiệu quả như mong muốn.

“Biệt dược” cai nghiện ma túy bán tràn lan

Dạo quanh các trang mạng, đặc biệt ở những trang có nội dung hỏi đáp về cách cai nghiện ma túy, không khó để tìm thấy vài chục dòng bình luận phía dưới có kèm theo số điện thoại giới thiệu nơi bán thuốc cai nghiện như Methadone, Naltrexone…

Trên trang Hỏi đáp thuốc “biệt dược”, nhiều người tự giới thiệu từng cai nghiện ma túy thành công với nội dung: “Trước đây, tôi cũng là người nghiện, không biết bao nhiêu lần vào trường cai nghiện và cũng uống rất nhiều loại thuốc, nhưng cứ về là chơi lại liền nên tôi rất hiểu và thông cảm cho các bạn. Nhưng giờ tôi đã phát hiện ra loại thuốc cắt cơn và đoạn tuyệt với ma tuý, chắc nhiều bạn ở đây cũng biết về loại thuốc này đó là Methadone. Uống Methadone giúp ta không bị mệt mỏi hay giòi bò, không bị thèm nhớ ma túy. Bạn nào sợ vào trường cai nghiện hoặc muốn tự cai ở nhà thì hãy liên hệ với tôi qua điện thoại: 0994375xxx. Tôi sẽ tư vấn và chia sẻ loại thuốc này với giá rẻ cho các bạn”.

Một số khác lại đóng vai người đã cai nghiện thành công bằng cách sử dụng “biệt dược” này tại nhà. Họ giới thiệu cho mọi người mua thuốc của một người khác cũng thông qua số điện thoại. Mặc dù, nhiều bình luận, lời giới thiệu khác nhau nhưng quanh đi quẩn lại vẫn chỉ có một số điện thoại hoặc nhiều số nhưng vẫn chỉ có một người. Đóng vai người đi mua “biệt dược” cai nghiện ma túy, PV đã liên hệ với Q. chủ nhân của số điện thoại 093987xxxx, người được dân mạng ca ngợi nhiều nhất khi sở hữu khá nhiều “biệt dược” điều trị cai nghiện ma túy.

Tuy nhiên, người phụ nữ này tỏ ra e dè, và thông báo đã hết thuốc. Chúng tôi tìm sang một số điện thoại khác thì cũng ngay lập tức người phụ nữ này nghe máy và cũng với câu nói cũ: “Hết thuốc rồi em ơi”. Chúng tôi đem thắc mắc này hỏi nhiều người từng liên lạc mua thuốc của Q. thì họ chia sẻ có thể đó là một chiêu để nâng giá thuốc. Một số khác cho rằng, có lẽ cơ quan chức năng đã vào cuộc bởi hành vi bán thuốc cai nghiện bên ngoài không thuộc một trung tâm y tế, trại cai nghiện là vi phạm pháp luật.

Tuy hiện giờ bà Q. không còn bán, hoặc hết hàng, thì không chắc chắn các nơi khác đã ngưng bán tràn lan các loại thuốc cai nghiện ma túy. Theo thông tin trước đây, các loại thuốc này được tuồn ra, ăn cắp từ các trung tâm y tế, trung tâm cai nghiện và được bán với giá rất cao, khoảng từ vài trăm đến vài triệu đồng. Các tay buôn thuốc cai nghiện khác, thì giới thiệu hàng được xách tay từ Mỹ về hiện ở nước ta không có, từ đó nâng giá theo sự khan hiếm của thuốc.

Tiềm ẩn nguy cơ “tiền mất tật mang”

Sự tràn lan các loại “biệt dược” cai ma túy trên mạng, thị trường với nhiều lời rao, quảng bá có cánh khiến không ít người tin tưởng, tìm mua về tự cai ma túy. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, bác sĩ, việc làm trên là thiếu khoa học. Nguy hiểm hơn, các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực cai nghiện ma túy khuyến cáo, việc tự ý mua thuốc cai nghiện ma túy về sử dụng không theo y lệnh của bác sĩ có thể khiến người sử dụng rơi vào thảm cảnh “tiền mất tật mang”.

Theo các bác sỹ, nhiều người nghiện ma túy vì nhiều lý do như ngại vào trung tâm cai nghiện, muốn cai nghiện ở nhà, tự cai nghiện, … nên đã tìm đến các loại thuốc cai nghiện ma túy. Hơn thế, nhiều gia đình có con, em sử dụng ma túy vì thương con cũng tìm cách mua thuốc để tự cai. Tuy nhiên, cách nhìn trên không khoa học và hiệu quả. Bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy, Chủ tịch hội đồng thành viên, Giám đốc Công ty điều dưỡng & cai nghiện ma túy Thanh Đa (TP.HCM) cho biết: “Tôi không đồng ý với quan điểm cai nghiện ma túy tại nhà bằng cách tự ý mua thuốc về uống. Đây là một việc làm thiếu khoa học và rất nguy hiểm”.

Lý giải nhận định trên, bác sỹ Duy cho biết: “Nhiều người lầm tưởng cai nghiện ma túy đơn thuần chỉ là việc cắt cơn, giải độc một vài lần. Thật ra đó là cả quá trình lâu dài, liên tục. Cai nghiện được gọi là thành công không chỉ là đối tượng không sử dụng ma túy nữa mà còn đòi hỏi phải được phục hồi nhận thức – hành vi – nhân cách, giải quyết được các chấn thương tâm lý, rối loạn, ức chế nội tâm, làm chủ được bản thân và có thời gian dài cách ly với ma túy để phục hồi hệ thống não bộ cho người nghiện. Để hoàn thành công việc trên cần có những bác sĩ, nhà tâm lý, nhân viên được đào tạo một cách chính quy, giàu kinh nghiệm thực hiện”.

Cùng nhận định trên, bà Nguyễn Thị Quang Nguyệt, trợ lý Dự án điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone, cho biết: “Ở các trung tâm cai nghiện thường có sự phối hợp của nhiều nhân viên, linh hoạt nhiều liệu pháp chữa trị, thậm chí là cả công cụ khống chế để ứng phó khi người nghiện lên cơn kích động, mới có thể đảm bảo công tác cai nghiện đi đến thành công”.

Cũng theo các bác sĩ, việc tự ý dùng thuốc cai nghiện ở nhà có thể dẫn đến những nguy hiểm khó lường. Theo đó, mỗi người có một cơ địa khác nhau, không phải loại thuốc nào cũng phù hợp với tất cả mọi người. Mỗi con nghiện có thể phải sử dụng những loại thuốc khác nhau với những liều lượng khác nhau. Bác sĩ Duy cho biết: “Việc tự ý dùng thuốc là rất nguy hiểm. Nếu dùng thuốc mà không có sự hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa, giàu kinh nghiệm, rất có thể dẫn đến các trường hợp khó lường”.

Bác sĩ Huỳnh Tấn Sơn, Phó giám đốc Trung tâm Giám định Tâm thần TP.HCM cho biết: “Thuốc cai nghiện không thể coi như một loại thực phẩm chức năng, cứ ra tiệm thuốc mua về sử dụng. Chúng ta phải rất thận trọng vì nếu sử dụng thuốc mà không có hướng dẫn chỉ định của bác sĩ còn có thể dẫn đến nguy hiểm cho tính mạng người được cai nghiện”.

Theo Báo Công lý

Giai đoạn cắt cơn – giải độc – nâng cao sức khỏe

(Trung tâm Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa biên soạn)

        I.   ĐIỀU TRỊ NGỘ ĐỘC CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN (CDTP):

Nguyên nhân ngộ độc các chất dạng thuốc phiện: là do người nghiện sử dụng các chát dạng thuốc phiện (CDTP) quá liều. Mức độ dung nạp lượng ma túy mỗi người nghiệnkhác nhau, tăng dần theo thời gian sử dụng (trường hợp đối tượng sau điều trị cắt cơn vẫn sử dụng liều lượng cũ, không giảm cũng sẽ bị ngộ độc). Ngộ độc CDTP thường gặptrong điều trị cấp cứu liên quan đến sử dụng ma túy. Sự thành công của điều trị ngộ độc CDTP đòi hỏi đánh giá trên 03 mặt:

–         Mức độ nhận thức (Bệnh nhân hồi tỉnh sớm hay muộn).

–         Khai thông đường thở.

–         Sử dụng một antidote hợp lý.

Tác dụngcủa ma túy nhóm OMH rất nhanh, khoảng 30 giây theo đường tĩnh mạch và 01 giờ theo đường uống. Phải sử dụng xét nghiệm cận lâm sàng kết hợp vớichẩn đoán lâm sàng trongngộ độc ma túy nhóm Opiates. Điều trị ngộ độc nhóm CDTP đòi hỏi đội ngũ cán bộ chuyên môn nhạy bén, giải quyết kịp thời.

1/ CHẨN ĐOÁN NGỘ ĐỘC CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN (CDTP):

1.1       Hiện đang sử dụng nhóm Opiates. Bệnh sử có sử dụng ma túy nhóm Opiates.

1.2       Phương diện lâm sàng có những triệu chứng thay đổi hành vi hoặc thay đổi các yếu tố tâm thần.

(Vd: Hưng cảm tiên phát sau đó có trạng thái vô cảm, rối loạn cảm xúc, tâm thần tự động hoặc sa sút, giảm sút sự phán đoán hoặc tổn hại chức năng xã hội).

1.3       Co đồng tử(Đôi khi giãn đồng tử do triệu chứng quá liều nặng), kèm theomột hoặc hơn những dấu hiệu sau khi sử dụng ma túy nhóm Opiates:

–         Ngủ gà hoặchôn mê

–         Nói lắp.

–         Giảm tập trung hoặctrí nhớ.

1.4       Trên lâm sàng có những đặc điểm kèm theo như: giảm hô hấp có thể dẫn đến ngưng thở, rối loạn nhịp tim chậm, giảm thân nhiệt, giảm phản xạ, nôn ói, hôn mê.

1.5       Những triệu chứng trên không do bệnh cơ thể, và loại trừ những nguyên nhân ngộ độc khác.

2/ NGUYÊN TẮC XỬ LÝ NGỘ ĐỘC CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN cần thiết trong một cơ sở đượctrang bị đầy đủ cho cấp cứu nội khoa.

+   Điều trị khởi đầu: Đánh giá đầu tiên là đường thở, phải xử lý trợ giúp kịp thờibằng mọi phương tiện như dụng cụ bóp bóng, Oxy nguồn, hoặc thông đường thở. Bệnh nhân có thể rơi vào tình trạng nặng của phù phổi cấp.

Các thuốcđược sử dụng như: Glucoza ưu trương, chất đối kháng Opiumnhưnaloxone.

+   Sau khi điều trị cấp cứucần theo dõi tiếp tục để điều trị nâng đỡ, chú ý đến tình trạng tụt huyết áp, rối loạn thân nhiệt. Nếu sau khi điều trị bằng Naloxon với tổng liều 10mg bệnh nhân vẫn chưa hồi tỉnh nên hướng tới một chẩn đoán của một loạingộ độc khác tương tự như ngộ độc thuốc phiện.

3/ XỬ TRÍ NGỘ ĐỘC NHÓM CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN (CDTP):

Trước hết phải để người bệnh nằm ở phòng thoáng mát để tiến hành cấp cứu (tốt nhất là chuyển đến khoa hồi sức cấp cứu càng sớm càng tốt)

3.1 NẾU NGUỜI BỆNH CÓ BIỂU HIỆN NGẠT THỞ

Tiến hành thổi ngạt, nếu không kết quả thì tiến hành bóp bóng AMBU, nếu người bệnh có biểu hiện nặng hơn (ngừng thở hoặc tím tái nhiều) thì cho thở máy.

3.2 TIÊM NALOXONE (THUỐC GIẢI ĐỘC ĐẶC HIỆU)

–         Tiêm tĩnh mạch chậm Naloxone: ống 0,4mg x 01 ống/lần tiêm; có thẻ tiêm tiếp lần thứ 2 sau 05 phút.

–         Có thể truyền tĩnh mạch Naloxone bằng cách hòa 2mg Naloxone (5 ống) trong 500ml Natri clorua (NaCl) 0.9%, tốc độ truyền thay đổi tùy theo đáp ứng lâm sàng.

–         Có thể dùng Naloxone tiêm dưới da hoặc tiêm bắp với tổng liều có thể tới 10mg.

3.3 KẾT HỢP GIẢI ĐỘC BẰNG TRUYỀN CÁC DUNG DỊCH MẶN, NGỌT ĐẲNG TRƯƠNG.

3.4 THEO DÕI LÂM SÀNG:

a)   Quan sát sự đáp ứng của người bệnh khi tiêm hoặc truyền Naloxone

–         Nếu đồng tử giãn ra, thở lại, tỉnh ra, đỡ dần tím tái,…tức là tình trạng tốt dần lên.

–         Nếu kích thước đồng tử co dưới 2mmtriệu chứng còn ngộ độcOpiats.

–         Nếu đồng tử giãn trên 3mmcó kèm theo trụy tim mạch, tím tái, tức là biểu hiện của quá liều Naloxone.

b)  Tiếp tục theo dõi người bệnh 4 giờ sau khi dùng liều Naloxone cuối cùng.

      II.   ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG CAI CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN (CDTP) – (ĐIỀU TRỊ CẮT CƠN)

Điều trị cắt cơn nghiện chất dạng thuốc phiện chủ yếu nhằm giúp cho người nghiện vượt qua hội chứng cai mà không bị đau đớn, vật vã, nhất là trong trường hợp nghiện nặng. Cắt cơn nghiện không phải là cai nghiện ma túy mà đó chỉ là bước đầu của điều trị, còn vấn đề chính củađiều trị phục hồi hệ thống não bộ, chuyển đổi nhận thức – hành vi – nhân cách, giải quyết cácchấn thương tâm lý, cácmâu thuẫn rối loạn nội tâm củađối tượng. Các liệu pháp này cần một thời gian điều trị lâu dàibằng cách kết hợp giữa điều trị thuốc với các liệu pháp tâm lý – giáo dục – xã hội.Trong đó điều trị bằng thuốc chỉ là liệu pháp hổ trợ.

1.      PHƯƠNG PHÁP CAI KHÔ: Cai khô còn gọi là cai chay được áp dụng tại Mỹ năm 1938, bằng cách cô lập bệnh nhân, không cho tiếp xúcvới môi trường bên ngoài,ngừng hoàn toàn việc sử dụng các chất ma túylàm cho người nghiện lên cơn vật vã. Cơn nghiện sẽ giảm dần sau 7 – 10 ngày. Phương pháp này hiện nay được một số nước Châu Á như Indonesia, Malaysia, Brunei sử dụng.

2.      PHƯƠNG PHÁP CAI DẦN: Bằng cách giảm liều lượng ma túymỗi ngày trong thời gian từ 15 – 30 ngày, đồng thời tăng cường thuốc bổ và thuốc an thần.Phương pháp này có ưu điểm là người nghiện thích nghi dần, cơn nghiện giảm từ từ, không vật vãnhư phương pháp cai khô, nhược điểm là đòi hỏi phải dùng chất ma túy, thời gian cắt cơn kéo dài.

3.      CẮT CƠN CỰC NHANH: Có thể điều trị hội chứng cai phương pháp cực nhanhbằng cách sử dụng đồng thời:

–         Gây mê ngắn(2-3 giờ), đồng thời tiêm naloxoneđể thúc đẩy hội chứng cai ngay lập tức.

–         Kết hợp với tiêm Catapressanđể điều trị các triệu chứng của hội chứng cai.

–         Sau đó điều trị tiếp hội chứng cai nhẹ còn lại, theo phác đồ dùng Catapressan. Người bệnh có thể ra viện sau điều trị tại bệnh viện 01 ngày.

4.      LIỆU PHÁP TÂM LÝ: Liệu pháp tâm lý có thể giảm nhẹcác triệu chứng của hội chứng cai(chỉ áp dụng với người nghiện nhẹ, trung bình). Thậm chí không điều trịgì sau 5 – 10 ngày hội chứng cai cũng thuyên giảm do cơ thể tự điều chỉnh cân bằngtrở lại. Việc điều trị chỉ là hổ trợ giảm khó chịucho người bệnh, giúp họ vượt quahội chứng cai.

5.      PHƯƠNG PHÁP THỤY MIÊN: Cho bệnh nhân giấc ngủ nhân tạotừ 3–7 ngày,nuôi dưỡng bệnh nhânbằng truyền dịch, săn sóc đặc biệt. Phương pháp này có tác dụng làm người cai nghiện bớt cơn vật vã. Thường hết hợp chlorpromazinevớidiazepam, phenobarbital. Phương pháp này có ưu điểmlàm giảm bớt cơn vật vã, bệnh nhân không đau đớn, nhưng nhược điểmlà nếu nội tạng có bệnh lýsẽ gặp khó khăntrong chẩn đoánđiều trị, ảnh hưởng đến tính mạng người bệnh. Thời gian cai nghiện từ 7 – 10 ngày.

6.      PHƯƠNG PHÁP PHẪU THUẬT THÙY TRÁN: Phẫu thuật nhằm phá hủy một số điểm ở thùy trán của não liên quan đến sư thèm muốn ma túy, làm cho người nghiệnkhông còn thèm muốn chất ma túy nữa. Phương pháp này có nhược điểmsau khi phẫu thuật, bệnh nhân trở nên không bình thường, không phân biệt được phải, trái của hành động. Viện Hàn lâm Y học Nga đã công bố thành tựu nghiện cứu này do GS.Natalia Bectereva thực hiện. Trong số 34 người nghiện đã phẫu thuật, có 27 ngườikhông trở lại với ma túy (đạt tỷ lệ 80%).

7.      CẮT CƠN BẰNG THUỐC CATAPRESSAN (CLONIDINE):

(1)Cơ chế:

Catapressanlà loại thuốc hạ huyết áp, α blocker có tác dụng ức chế dẫn truyền noradrenaline.

Catapressankhi vào cơ thể tác dụng vào thụ thể α 2, tăng ức chế dẫn tới nồng độnoradrenaline giảm xuống, do đó, dẫn đến hội chứng cai nhẹ.

(2)Liều lượng và cách sử dụng:

+ Catapressan 0.15 mg x ½ viên một lần, cứ 3 giờ một lần (liều hàng ngày từ 2-4 viên).

+ Chỉ điều trị khi huyết áp tối đa > 90mHgmạch > 60l/ phút.

+ Còn kết hợp điều trị thuốc chống đau nhức Panacetamol và an dịu, chống lo âuDiazepam.

8.      PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ BẰNG CHẤT THAY THẾ : (METHADONE)

Thay thế nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone, sau đó giảm liều dần(kéo dài khoảng 20 ngày đến 2 tháng) rồi cắt thuốc methadone khi liều còn rất thấp(hội chứng cai nhẹ hơn). Hiện nay phương pháp này ít được áp dụngchủ yếu sử dụng méthadone vào điều trị thay thế lâu dài.

9.      PHƯƠNG PHÁP DÙNG THUỐC ĐỐI KHÁNG: Phương pháp dùng thuốc đối khángNaltrexone kết hợp với Clonidine, đã được áp dụng tại một số quốc gia trên thế giới. Phương pháp này có ưu điểm là làm cho bệnh nhân sớm bỏ thèm nhớ chất ma túynhững có nhược điểmvật vã, bức rức, khó chịu, có thể gây ngộ độc khi bệnh nhân vẫn sử dụng chất ma túy.

10.  THUỐC ĐÔNG Y: Thuốc Đông y có nguồn gốc từ thảo dược, nên an toàn, không độc, có hiệu lực trong hổ trợ cắt cơn nghiện ma túy, thuốc có khả năng bình ổn các triệu chứng của hội chứng cai. Nhược điểm của các thuốc Đông y là chưa thực hiện được nghiên cứu mù képcơ chế tác dụng của thuốc. Hai thuôc Đông y hiện đã được Bộ Y tế cho phép lưu hành trong các Trung tâm cai nghiện là Cedemex và thuốc Bông sen.

11.  PHƯƠNG PHÁP CHÂM CỨU, ĐIỆN CHÂM: Theo phác đồ của Bộ Y tế. Châm cứu có ưu điểm cắt cơn nhanh, ít tốn kém, dễ thực hiện tại tuyến cơ sở.

12.  HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC AN THẦN KINH: Phác đồ này được Bộ Y tế Việt Nam ban hành từ năm 1995 và đang được áp dụng điều trị tại nhiều Trung tâm cai nghiện tại Việt Nam.

Tiêu chuẩn điều trị:

+ Đặt trong một cơ sở khép kín, tránh được mọi can thiệp và xâm phạm từ bên ngoài. Có trang bị đủ thuốcphương tiện để khám chữa bệnhcấp cứu.

+ Có y, bác sĩ được tập huấn về lý thuyết và thực hành để điều trịxử trí những trường hợp cấp cứu thường gặp, có sự chỉ đạo của bác sĩ chuyên khoa tâm thần phụ trách về điều trị nghiện ma túy.

+ Bảo đảm các điều kiện ăn, ở, vệ sinh thuận lợi cho bệnh nhân (thời gian cắt cơn trung bình là 10 ngày).

+ Cơ sở Y tế có khả năng tự làm hoặc liên hệ với các cơ quan khác làm các xét nghiệm cần thiết (morphine trong nước tiểu, HIV,…).

Tiêu chuẩn bệnh nhân:

Bệnh nhân phải có đủ các tiêu chuẩn chẩn đoán trạng thái nghiệnhội chứng cai

Trạng thái nghiện(theo bảng phân loại bệnh quốc tế 10): cóít nhất 3 trong 6 hiện tượng sau đây:

–       Thèm muốn mãnh liệtchất ma túy (CMT)

–       Sau khi ngưng dùng CMT từ 6 8 giờ sẽ xuất hiện hội chứng cai, buộc phải dùng CMT trở lại.

–       Khó khăntrong việc kiểm tra tập tính sử dụng CMT

–       Có hiện tượng dung nạp CMT (liều dùng ngày càng tăng).

–       Sao nhãng các thích thú cũ.

–       Biết rõ tác hạicủa CMT nhưng vẫn tiếp tục dùng.

ŸHội chứng cai: ít nhất 4 trong 12 triệu chứng sau đây:

–         Thèm CMT,

–         Buồn nôn hay nôn,

–         Đau các cơ,

–         Chảy nước mắt nước mũi,

–         Nổi da gà,

–         Toát mồ hôi,

–         Đi rửa,

–         Dãn đồng tử,

–         Ngáp,

–         Ngây ngấy sốt,

–         Mất ngủ,

–         Cảm giác dòi bò trong xương.

Quy trình sử dụng thuốc hướng thần:

a./Thuốc giải lo âu: dẫn xuất benzodiazepine như diazepam ( seduxen, valium):

Trạng thái lo âu (nôn nao, bồn chồn) là trạng thái tâm thần cơ bản, thường xuyên có và tăng cường các triệu chứng thần kinh thực vật của hội chứng cai. Những người cai nhiều lần, do nhớ lại những cảm nhận đau khổ trong những lần trước càng lo âu nhiều hơn. Do vậy thuốc giải lo âu cần sử dụng trước tiênliên tục nhất là trong 1-2 ngày đầu.

Không cho diazepam, nếu có các chống chỉ định sau: dị ứng với diazepam, suy hô hấp mất bù, nhược cơ.

Cách cho thuốc diazepam (seduxen, valium), viên nén 5mg

–         Hai ngày đầu: uống 4 viên mỗi lần; cách 4 giờ lại cho uống 1 lần, cho đến khi hết bồn chồn và ngủ yên.

–         Sau khi tỉnh giấc nếu vẫn còn lo âu thì tiếp tục cho thuốc như trên

–         Ngày thứ 3, 4 bắt đầu giảm liều: 2 viên/lần, cách từ 6-8 giờ cho thêm 1 lần.

–         Ngày thứ 5 cắt hẳn thuốc để tránh khả năng gây nghiện diazepam.

b./ Thuốc an thần kinh: levomepromazin (tisercin, nozinan):

Đa sốcác biểu hiện của hội chứng cai và các rối loạn thần kinh thực vật có thể thanh toán bằng diazepam.

Nếu có một triệu chứng nặng hơn(ví dụ: vật vã, kích động) hay phức tạp (ví dụ: cảm giác dòi bò trong xương) thì mới sử dụng levomepromazin, một loại an thần kinh, an dịu mạnh.

Không dùnglevomepromazin nếu có các chống chỉ định sau: dị ứng vớilevomepromazin, glaucoma góc đóng, bí tiểu tiện do u tuyến tiền liệt, có tiền sử mất bạch cầu nhiễm độc.

Ÿ  Liều lượng: phụ thuộc vào trạng thái tiếp thu của cơ thể và mức độ nghiện của từng bệnh nhân. Sau đây là các phương thức sử dụng trung bình:

Ÿ  Cách cho thuốc: levomepromazin viên nén 25mg

–         Lần đầu cho uống 2 viên

–         Lần 2: sau một giờ nếu chưa an dịu và huyết áp tối đa bằng hay cao hơn 100 mmHg thì cho uống thêm 4 viên.

–         Lần 3: sau một giờ vẫn chưa an dịu và huyết áp như trên thì cho uống thêm 4 viên

–         Lần 4 và những lần sau: đợi sau 2 giờ nếu chưa an dịu và huyết áp như trên thì cho uống thêm 2 viên.

Kết quả nghiên cứu vủa Viện Sức khỏe tâm thần cho thấy: sau từ 2-6 giờ (từ 4-16 viên, trung bình 10 viên) thì bệnh nhân an dịu và ngủ ngon (có thể ngủ đến 16 hay 20 giờ liền)

Không cần thêm nếu bệnh nhân ngủ dậy không còn vật vã, kích động.

Trong khi dùng levomepromazin cần bố trí người săn sóctheo dõi liên tục để bệnh nhân khỏi ngã khi đứng dậy hay di chuyển.

Ÿ  Đặc biệt cần theo dõi huyết áp thường xuyên, nhất là trước khi cho uống thêm levomepromazin. Nếu huyết áp hạ cần cho phối hợp thêm thuốc nâng huyết áp.

c./ Thuốc nâng huyết áp: heptaminol (Hept – A – Myl):

Chỉ sử dụng khi huyết áp tối đa dưới 100mmHg. Thường gặp sau khi dùnglevomepromazin liều cao hay ở những bệnh nhân tiêm chích sái thuốc phiện.

Heptaminolviên nén 0.2g; uống từ 2-3 lần trong 24 giờ.

–         Có thể dùng từ 2-3 ngày sau khi phát hiện hạ huyết áp và thôi dùng khi huyết áp trở lại bình thường.

–         Nếu huyết áp tụt nhiều cần xử trí cấp cứu và dùng thuốc tiêm hay thuốc viên.

Heptaminol ống 5ml (0.3g) mỗi lần 1-2 ống; 2-3 lần trong 24 giờ. Tiêm bắp hay tĩnh mạch chậm hoặc truyền tĩnh mạch trong dung dịch natriclorid 0.9% hoặc dung dịch glucoza 5% 500ml.

d./ Paracetamol:

–         Nếu bệnh nhân đau nhức cơ bắp nhiều có thể dùng thêm thuốc giảm đau.

–         Paracetamol viên nén 0.5g.

–         Uống mỗi lần 2 viên; uống từ 2-3 lần trong 24 giờ.

–         Có thể dùng trong 3 ngày đầu.

e./ Thuốc chống co thắt: phloroglucinol (spasfon):

Nếu bệnh nhân có triệu chứng đau quặn cơ bụng do co thắt các nội tạng, đường tiêu hóa cần dùng thêm thuốc chống co thắt.

Spasfon viên nén 80mg, uống mỗi lần 2 viên; uống từ 2-3 lần trong 24 giờ.

Có thể dùng từ 1-3 ngày

Nếu không có spasfon, có thể dùng Alverine (spasmaverine) viên nén 40mg; uống mỗi lần 1-2 viên; ngày uống 3-4 lần

g./ Thuốc chống tiêu chảy và mất nước:

Tiêu chảynôn trong hội chứng cai thường do tăng nhu động ruột, dùng spasfon với liều lượng ở trên cũng có thể chữa khỏi.

Nếu tiêu chảy kéo dài kèm thêm vã mồ hôi, nôn, gây trạng thái mất nước, cần chouống thêm dung dịch oresol (dung dịch uống glocosa – điện giải)

Một gói (theo công thức của Tổ chức y tế thế giới) hòa với một lít nước đun sôi để nguội.

Cho uống từ 3-4 lít nước trong 24 giờ chia làm nhiều lần.

h./ Thuốc gây ngủ: Alimemazin (théralène):

Hầu hết các trường hợp dùng diazepam và levomepromazin với liều lượng kể trên đã làm cho bệnh nhân yên tĩnh, ngủ ngon và ngủ lâu.

Sau khi cắt diazepamlevomepromazin nếu vẫn còn mất ngủ thì dùng alimemazinmột loại thuốc ngủ không gây nghiện, có thể dùng lâu dài.

Alimemazin viên nén 5mg; uống 2-4 viên trước giờ ngủ; có thể cho uống thêm từ 2-4 viên nếu bệnh nhân chưa ngủ được.

Dùng thuốc đến khi giấc ngủ trở lại bình thường thì giảm liều rồi cắt hẳn.

i./ Điều trị hoàn thiện: Để thực hiện phương châm điều trị toàn diện cần:

Ÿ   Đặc biệt chú trọng đến chế độ dinh dưỡng nhất là trong những ngày đầu (ăn mềm, có chất đạm và sinh tố). Nếu cơ thể suy sụp cần tiếp nước điện giải, cho thêmvitamin Cvitamin nhóm B uống.

Ÿ   Đối với bất cứ loại bệnh nào trong khi điều trị vẫn có thể có các trường hợp cấp cứu xảy ra. Do vậy, đơn vị điều trị phải được trang bị thuốc cấp cứu, các phương tiệnphác đồ cấp cứu. Y bác sĩ phải biết sử dụng phác đồ cấp cứu và các phương pháp nội – ngoại khoa cấp cứu thường gặp.

    III.   KẾT LUẬN:

Để cai nghiện ma túy có hiệu quả, chúng ta phải hiểu rằng cắt cơn nghiện không khó. Cắt cơn nghiện chỉ là bước chuẩn bị cho một quá trình điều trị lâu dài thông qua các biện pháp điều trị kết hợp giữa thuốcliệu pháp không dùng thuốc. Trong đó, liệu pháp không dùng thuốc là quan trọng, liệu pháp này bao gồm:

–         Tư vấn

–         Liệu pháp tâm lý

–         Liệu pháp giáo dục

–         Liệu pháp xã hội

CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG TÁI NGHIỆN CHO NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY TẠI TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG & CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA

(Trung tâm Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa biên soạn)

Nghiện ma túy là một bệnh não mãn tính – khó chữa có đặc tính là dễ tái nghiện. Điều trị nghiện ma túy đòi hỏi phải kiên nhẫn, có một liệu pháp tổng hợp, đồng bộ, xuyên suốt, khép kín, linh hoạt, kịp thời.
Cai nghiện được gọi là thành công không chỉ
nhằm vào mục tiêu người nghiện không tái sử dụng ma túy mà còn đòi hỏi đối tượng phải có một lối sống điều độ, tự quản lý bản thân một cách tốt đẹp và thực hiện thành công sự thay đổi về nhận thức.

A/ BỐN VẤN ĐỀ CHÍNH CẦN PHẢI GIẢI QUYẾT TRÊN ĐỐI TƯỢNG NGHIỆN MA TÚY:
1/ TỔN THƯƠNG HỆ THỐNG NÃO BỘ VÀ CÁC VẤN ĐỀ TÂM THẦN CỦA NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY: não bộ là nơi tiếp nhận thông tin, phân tích, tổng hợp, ra quyết định và tập trung ý chí. Những tác động của ma túy trên não bộ gây ra những tổn thương tạm thời hoặc vĩnh viễn trên người nghiện biểu hiện qua các rối nhiễu tâm lý thực tổn, trạng thái nhiễm độc, lú lẫn tâm trí, phản ứng loạn tâm thần, trạng thái hưng trầm nhược, giảm khả năng xét đoán, xử lý thông tin, mất ý chí, mất khả năng tự chủ, biểu hiện lo lắng và hội chứng hồi tương dẫn người nghiện luôn nghĩ đến và thèm nhớ ma túy với tất cả sự khoái cảm của nó. Càng sử dụng ma túy càng lâu, liều lượng càng cao thì những tổn thương càng nặng nề bấy nhiêu.

2/ RỐI LOẠN VÀ XUỐNG CẤP NHẬN THỨC – HÀNH VI – NHÂN CÁCH: Sau một thời gian sử dụng ma túy, người nghiện sẽ hình thành nhiều thói quen xấu – người nghiện không đủ nhận thức cũng như không đủ nghị lực để sống một cách trong sạch, lành mạnh. Người nghiện mất dần kỹ năng tư duy và làm việc, suốt ngày chỉ loay hoay làm thế nào phải có tiền để mua ma túy, do đó người nghiện sử dụng mọi thủ đoạn, bất chấp hậu quả của việc làm đó để đạt mục đích. Về mặt tinh thần, sức khỏe, nghề nghiệp, trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội có thể suy sụp đến mức làm sự điều trị, phục hồi cho đối tượng trở thành hết sức khó khăn.

3/ NGHIỆN MA TÚY KHÔNG PHẢI LÀ MỘT HÀNH ĐỘNG NHẤT THỜI MÀ LÀ MỘT QUÁ TRÌNH DIỄN BIẾN PHỨC TẠP NỘI TÂM cũng như BỐI CẢNH ĐA PHƯƠNG DIỆN của bản thân, gia đình và xã hội. Đây là một trong những vấn đề cốt lõi dẫn người nghiện đến với ma túy. Do đó nếu không giải quyết được triệt để những vấn đề này, người nghiện sau khi cai nghiện trở về sẽ rất dễ tái nghiện.

4/ VẤN ĐỀ SỬ DỤNG MA TÚY: Người nghiện ma túy hầu hết đều ở trong tình trạng đói ma túy trường diễn, kể cả sau khi cai nghiện. Hội chứng hồi tưởng, chấn thương tâm lý, tổn thương não bộ, rối loạn hành vi nhân cách rất dễ dẫn người đã cai nghiện đến tái sử dụng ma túy. Do người nghiện ma túy, nếu thiếu ma túy thì chỉ sau 8 – 12 giờ sẽ phát sinh hội chứng cai với tất cả sự đau nhức, hành hạ thân xác và tinh thần nên bằng mọi giá người nghiện phải kiếm đủ tiền để mua ma túy bất chấp hậu quả việc làm của mình, dễ dẫn đến hành vi phạm pháp của đối tượng.
Bốn vấn đề chính nêu trên tác động qua lại lẫn nhau – chúng vừa là nguyên nhâncũng vừa là hậu quả của việc sử dụng ma túy. Nếu chúng ta giải quyết không toàn diện và triệt để sẽ dễ dẫn người đã cai nghiện đến tái nghiện.

 

CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÒNG CHỐNG TÁI NGHIỆN MA TÚY

B/ ĐỂ GIẢI QUYẾT 04 VẤN ĐỀ NÊU TRÊN, TT Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa đã áp dụng một CHƯƠNG TRÌNH CAI NGHIỆN ĐA DẠNG, TỔNG HỢP, XUYÊN SUỐT, ĐỒNG BỘ, KHÉP KÍN, LINH HOẠT, KỊP THỜI TÙY THUỘC VÀO TỪNG ĐỐI TƯỢNG bao gồm:
1/ CẮT CƠN, GIẢI ĐỘC, NÂNG CAO SỨC KHỎE. Cắt cơn nghiện không phải là điều trị thật sự mà chỉ để tạo tiền đề cho một quá trình cai nghiện lâu dài liên tục.
Điều trị
kịp thời các rối loạn và các bệnh Tâm thần kinh – Lao – HIV/AIDScác bệnh cơ hội cho người nghiện ma túy.

2/ GIÁO DỤC TRỊ LIỆU nhằm giáo dục – gọt giũa – điều chỉnh – phục hồi nhận thức – hành vi – nhân cách cho người nghiện ma túy. Nội dung công tác giáo dục nhằm hai muc đích:
2.1 Nâng cao nhận thức cho học viên: thông qua dạy văn hóa, học tập các chuyên đề bao gồm: Giáo dục công dân + Giáo dục đạo đức + Giáo dục sức khỏe và cộng đồng + Giáo dục pháp luật, an ninh quốc phòng + Giáo dục truyền thống…

2.2 Trang bị bản lĩnh và kỹ năng sống thông qua các chương trình giáo dục vềTư duy tích cực – Tự chủ quản lý bản thân – Nhận thức các giá trị sống(chương trình được sự hỗ trợ của tổ chức UNESCO và UNICEF của Liên hiệp quốc) –Tâm năng dưỡng sinh: thiền định, tập dưỡng sinh – Sinh hoạt trị liệu – Giải trí trị liệu – Hoạt động trị liệu – Huấn nghiệp trị liệu – Lao động trị liệu – Sản xuất trị liệu.
Thực hiện Cộng đồng trị liệu theo phương pháp Daytop (Mỹ)Môi trường Trị liệu (liệu pháp đặc thù của Trung tâm Thanh Đa) với những tiêu chí cụ thể
Công tác giáo dục là vấn đề cơ bản nhất trong cai nghiện phục hồi nhằm gọt giũa – điều chỉnh – phục hồi nhận thức – hành vi – nhân cách cho người nghiện ma túy. Công tác giáo dục này phải áp dụng cho đối tượng đang được điều trị chống tái nghiện nhóm Opiats bằng thuốc NALTREXONE hay bằng thuốc METHADONE. Nếu không thực hiện tốt công tác này thì chất lượng cai nghiện sẽ thấp và công tác cai nghiện sẽ rất khó thành công.

3/ TƯ VẤN – TÂM LÝ TRỊ LIỆU cá nhân – nhóm – gia đình – Giải quyết khủng hoảng ca… nhằm thấu hiểu những diễn biến phức tap của nội tâm cũng như những bối cảnh tiêu cực liên quan đến cá nhân, gia đìnhxã hội.
Từ những cơ sở trên, cán bộ điều trị mới có thể giúp người nghiện nhận thức được bản thân, sửa đổi lỗi lầm, xóa bỏ sự cô độc, mặc cảm, đồng thời thúc đẩy sự tôn trọng lẫn nhau, sự cởi mở, vui vẻ với mọi người, định hướng được cuộc sống và hành độngcho tương lai.

4/ ĐỂ HỖ TRỢ HỌC VIÊN KHI TRỞ VỀ CỘNG ĐỒNG KHÔNG TÁI SỬ DỤNG MA TÚY, TRUNG TÂM đã TRIỂN KHAI KHOA CHỐNG TÁI NGHIỆN các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc NALTREXONE (là một chất làm MẤT CẢM GIÁC THÈM NHỚTÌM KIẾM MA TÚY) KẾT HỢP với KỸ NĂNG TƯ VẤN – TÂM LÝ TRỊ LIỆU – GIÁO DỤC TRỊ LIỆU và các LIỆU PHÁP XÃ HỘI. Kết quả khảo sát cho thấy, sau hơn 4 năm,Khoa đã điều trị cho hơn 1000 học viên, HƠN 72% SỐ HỌC VIÊN CHƯA TÁI NGHIỆN, TRÊN 50% HỌC VIÊN NGOẠI TRÚ ĐÃ CÓ VIỆC LÀM ỔN ĐỊNH.
Trong phương pháp này, việc UỐNG THUỐC NALTREXONEBIỆN PHÁP HỖ TRỢ. Nếu KHÔNG CÓ BIỆN PHÁP TƯ VẤN – TÂM LÝ TRỊ LIỆU – GIÁO DỤC TRỊ LIỆU – CÁC LIỆU PHÁP XÃ HỘI THÌ KẾT QUẢ CHỐNG TÁI NGHIỆN SẼ RẤT HẠN CHẾ.

Cách tự cai thuốc lá mới nhất hiện nay

Cai thuốc lá có nhiều cách, nhiều dụng cụ hỗ trợ. Tuy nhiên, cách cai thuốc tốt nhất là cai tự nguyện, do chính người hút thuốc tự cai cho mình.

CÁC CHẶNG ĐƯỜNG ĐẾN THÀNH CÔNG CAI THUỐC LÁ

Quá trình đi đến thành công cai thuốc lá còn được gọi là quá trình chuyển đổi hành vi từ “đang hút thuốc lá” đến “cai thuốc lá” diễn ra qua bảy giai đoạn như sau:

Giai đoạn “thờ ơ”:

Thời gian trải qua từng giai đoạn thay đổi khác nhau giữa các cá thể, tùy vào các biện pháp can thiệp từ bên ngoài mà người hút thuốc lá nhận được.

Sự chuyển đổi lần lượt qua các giai đoạn là liên tục và tái nghiện là một trong các giai đoạn đương nhiên của quá trình này chính vì thế trong cai thuốc lá sẽ không có khái niệm “thất bại”. 90% người hút thuốc lá đi vào chu trình này sẽ trải qua giai đoạn tái nghiện.

Tuy nhiên quá trình chuyển đổi hành vi ở trên lại không phải là một vòng tròn khép kín, ngược lại là vòng xoắn ốc, và cứ mỗi lần đi qua một vòng là có thể có thêm các trải nghiệm từ lần trước, các trải nghiệm này cần thiết và là tiền đề cho cai thuốc lá thành công sau này.

Tương ứng với giai đoạn người hút thuốc lá không có kiến thức về tác hại thuốc lá và đương nhiên không có ý định cai thuốc lá.

Người hút thuốc lá trong giai đoạn này còn được gọi dưới tên là “người hút thuốc lá hạnh phúc”. Người hút thuốc lá chỉ cảm nhận được những “ích lợi” do việc hút thuốc lá mang lại mà chưa hể cảm nhận được những “tác hại” của việc hút thuốc lá.

Ví dụ cho giai đoạn này là trường hợp chàng trai mới lớn tập tành hút thuốc lá, là trường hợp người trưởng thành bắt đầu hút thuốc lá sau một biến cố nào đó trong cuộc sống. Chàng trai mới lớn thấy được ở hành vi hút thuốc lá là “biểu trưng” cho sự độc lập, sự “trưởng thành” và “sành điệu”. Người trưởng thành thấy được tác động “giảm lo âu”, “giảm căng thẳng” khi hút thuốc lá.

Do thời gian hút thuốc lá còn quá ngắn chưa đủ bộc lộ những tác hại của thuốc lá trên sức khỏe, đồng thời do các hiệu ứng tâm thần kinh thuốc lá mang lại quá rõ ràng, người thuốc lá trong giai đoạn này không có ý niệm tìm hiểu về tác hại thuốc lá, nếu có tình cờ đọc hay biết được tác hại thuốc lá thì cũng không tin tưởng, hoặc giả có tin tưởng thì cũng cho rằng tác hại được đề cập đến xảy ra với một ai đó chứ không phải là xảy ra cho bản thân họ. Chính vì lẽ đó người hút thuốc lá trong giai đoạn “thờ ơ” đương nhiên không có ý định muốn cai thuốc lá.

Giai đoạn “thờ ơ” thường kéo dài một thời gian vài tháng đến vài năm. Giai đoạn này kết thúc khi người hút thuốc lá “đủ trưởng thành” về mặt nhận thức để có thể biết và tin rằng tác hại của thuốc lá là có thật, khi thời gian hút thuốc lá đủ dài để gây một vài tác hại trên sức khỏe có thể cảm nhận được ví dụ: vàng răng, hơi thở hôi, ho vào buổi sáng .v.v.

Giai đoạn “có ý định”:

Tương ứng với giai đoạn người hút thuốc lá đã thu thập tương đối kiến thức về tác hại thuốc lá, đủ để họ tin là thuốc lá thực sự có hại cho sức khỏe, hoặc người hút thuốc lá hút đủ lâu để có thể tự trải nghiệm một vài tác hại thuốc lá trên chính bản thân, gia đình.

Người hút thuốc lá trong giai đoạn này được gọi dưới tên là “người hút thuốc lá lưỡng lự”. Họ đã bắt đầu cảm nhận được “tác hại” do hút thuốc lá nhưng đồng thời họ vẫn cảm nhận rất sâu sắc về “ích lợi” do hút thuốc lá mang lại.

Ví dụ cho giai đoạn này là trường hợp người hút thuốc lá một thời gian bắt đầu hoặc cảm thấy mệt, ho khi hút thuốc lá, hoặc chứng kiến người thân, bạn bè bị bệnh do tác hại thuốc lá; hoặc có cơ hội được chia sẻ, được đọc, được xem về tác hại thuốc lá nên có niềm tin rằng thuốc lá thực sự có hại cho sức khỏe. Tuy nhiên họ vẫn còn luyến tiếc những “ích lợi” do hút thuốc lá mang lại, chưa muốn từ bỏ những “lợi ích” đó.

Do hiểu biết về tác hại thuốc lá chưa đủ sâu, các trải nghiệm về tác hại thuốc lá chưa đủ nhiều, bên cạnh đó “ích lợi” do hút thuốc lá mang lại vẫn còn đáng kể, người hút thuốc lá trong giai đoạn này thường có ý định sẽ cai thuốc lá nhưng vẫn chưa quyết định khi nào sẽ tiến hành, trước mắt họ cứ vẫn tiếp tục hút thuốc lá.

Giai đoạn “có ý định” cũng kéo dài vài tháng đến vài năm. Giai đoạn này kết thúc khi kiến thức và trải nghiệm về “tác hại” do hút thuốc lá đủ lớn để vượt qua hay ít nhất là bằng “ích lợi” do hút thuốc lá mang lại.

Giai đoạn “chuẩn bị”:

Tương ứng với giai đoạn người hút thuốc lá đã nhận ra rằng “tác hại” thực sự lớn hơn “ích lợi” do hút thuốc lá mang lại. Tuy nhiên người hút thuốc lá ở giai đoạn này vẫn chưa cai thuốc lá vì họ vẫn còn lo lắng về các “khó chịu” thực sự lớn hơn “ích lợi” do cai thuốc lá mang lại.

Ví dụ cho giai đoạn này là người hút thuốc lá đã biết chắc chắn là thuốc lá có hại cho sức khỏe và “lợi ích” do hút thuốc lá mang lại không đủ bù đắp cho “tác hại” đó. Họ đã tự bắt đầu thay đổi hành vi để hướng đến cai thuốc lá thực sự như là: không hút thuốc lá lúc thức dậy vào buổi sáng, không hút thuốc lá trong nhà, chỉ mang một số điếu thuốc lá nhất định khi đi làm, giảm số lượng điếu thuốc lá mỗi ngày .v.v.

Tuy nhiên họ chưa dám cai hẳn vì vẫn sợ các “khó chịu” khi cai thuốc lá như là sợ lên cân, sợ buồn bã mất ngủ .v.v. và họ vì thế họ đi tìm hiểu, dò hỏi người xung quanh xem có cách nào hỗ trợ cai thuốc lá không.

Giai đoạn “chuẩn bị” kết thúc khi người hút thuốc lá tìm được nguồn hỗ trợ nào đó mà họ tin tưởng rằng có thể giúp họ cai thuốc lá “đỡ vất vả hơn”.

Cainghien.vn cập nhật các thông tin về thuốc lá, tất cả các phương pháp cai nghiện thuốc lá nhanh và hiệu quả nhất hiện nay

Giai đoạn “cai thuốc” – “củng cố”:

Giai đoạn “cai thuốc” tương ứng thời gian từ khi người hút thuốc lá cai thuốc lá hoàn toàn cho đến tháng thứ 6 sau cai thuốc lá. Đặc điểm của giai đoạn cai thuốc lá là người cai thuốc lá phải vượt qua các “khó chịu” của việc cai thuốc lá để không hút thuốc lá trở lại. Các “khó chịu” trong giai đoạn cai thuốc lá có thể kể ra như là: cảm giác kích thích, bứt rứt, khó tập trung, cảm giác buồn chán, không hưng phấn, mất ngủ, lên cân.

Giai đoạn “củng cố” tương ứng thời gian từ khi người hút thuốc lá cai thuốc lá hoàn toàn từ tháng thứ 6 đến 1 năm sau cai thuốc lá. Đặc điểm của giai đoạn củng cố là người cai thuốc lá phải vượt qua được các “cám dỗ” của hành vi hút thuốc lá để không hút thuốc lá trở lại.

Các “cám dỗ” trong giai đoạn củng cố có thể kể ra là: cám dỗ từ môi trường bên ngoài: cảnh người khác hút thuốc lá, mùi thơm của khói thuốc lá, bạn bè mời mọc hút thuốc lá; cám dỗ từ môi trường bên trong: khoảnh khắc buồn bã hay vui sướng, cô đơn hay sum họp, thành công hay thất bại. Trong giai đoạn này, các “khó chịu” của việc cai thuốc lá vẫn còn nhưng đã giảm thiểu rất nhiều so với giai đoạn “cai thuốc”.

Sự phân biệt về thời gian 6 tháng như vậy chỉ có ý nghĩa qui ước. Một số người cai thuốc lá nhanh chóng chuyển sang giai đoạn “củng cố” chỉ sau 3 tháng cai thuốc lá được đánh dấu bằng việc giảm thiểu tối đa các khó chịu do cai thuốc lá. Một số người khác, sau 9 tháng thậm chí là 1 năm vẫn còn các cảm giác khó chịu do cai thuốc lá, họ vẫn còn nằm trong giai đoạn “cai thuốc”.

Trên thực tế hai giai đoạn “cai thuốc” và “củng cố” thường đan xen với nhau, ngay ngày đầu tiên cai thuốc lá thì người cai thuốc lá đã phải củng cố thành quả đạt được rồi.

Giai đoạn “cai thuốc” và “củng cố” sẽ kết thúc hoặc bằng sự kiện người cai thuốc lá hút thuốc lá trở lại, nghĩa là rơi vào giai đoạn tái nghiện hoặc sẽ kết thúc sau 1 năm cai thuốc lá mà không hút thuốc lá lại, nghĩa là đi vào giai đoạn thành công cai thuốc lá.

Giai đoạn “thành công” và “tái nghiện”:

Giai đoạn “thành công” tương ứng với người cai thuốc lá duy trì được tình trạng cai thuốc lá lâu dài, được định nghĩa là sau cai thuốc lá liên tục 1 năm. Định nghĩa thành công cai thuốc lá là sau 1 năm không hút thuốc lá cũng có tính chất qui ước. Tuy nhiên trong cai thuốc lá không có thành công vĩnh viễn, một người đã thành công cai thuốc lá vẫn có thể tái nghiện bất kỳ lúc nào nếu mất cảnh giác.

Giai đoạn “tái nghiện” tương ứng với người đã cai thuốc lá nay hút thuốc lá trở lại. Tái nghiện có thể xảy ra sớm ngay trong giai đoạn cai thuốc – trong vòng 6 tháng đầu tiên khi cai thuốc lá thậm chí là rất sớm trong tuần lễ đầu tiên sau cai thuốc lá; tái nghiện có thể xảy ra sau một thời gian trung bình ở giai đoạn củng cố – từ 6 tháng đến 1 năm sau cai thuốc lá; tuy nhiên tái nghiện cũng có thể xảy ra trong thời gian muộn ở giai đoạn thành công cai thuốc lá – sau cai thuốc lá 1 năm thậm chí là rất muộn, hàng chục năm sau khi cai thuốc lá.

CÁC CÔNG VIỆC CỤ THỂ ĐỂ CAI THUỐC LÁ

Giai đoạn “có ý định” – “chuẩn bị”:

Giai đoạn “có ý định” và “chuẩn bị” được đánh dấu bằng sự chuyển đổi dần dần nhận thức của người hút thuốc lá. Nhận thức ở cuối giai đoạn “thờ ơ”, vốn cho rằng hút thuốc lá mang lại nhiều “ích lợi” và không có “tác hại” đồng thời cai thuốc lá mang lại nhiều “tác hại” và không có “ích lợi”, đã chuyển sang nhận thức rõ ràng, vào cuối giai đoạn “có ý định”, rằng “tác hại” của hút thuốc lá lớn hơn hẳn “ích lợi” do hút thuốc lá mang lại; sau đó tiếp tục tiến triển sang nhận thức rõ ràng, vào cuối giai đoạn chuẩn bị, rằng “ích lợi” của cai thuốc lá lớn hơn hẳn “tác hại” của cai thuốc lá mang lại.

Như vậy, cân nhắc “lợi – hại” giữa “hút thuốc lá” và “cai thuốc lá” chính là quá trình chuyển đổi nhận thức quan trọng trong thời gian trước khi cai thuốc lá. Có thể thực hiện và chuẩn bị các bước sau đây để tăng nhanh quá trình cân nhắc các điểm “lợi – hại”:

Bước 1: Suy nghĩ và điền bảng so sánh về “lợi – hại” của “hút – cai” thuốc lá đối với bản thân:

Bước 2: Suy nghĩ và liệt kê các việc làm có thể thực hiện để biến đổi mức ảnh hưởng của các thành tố trên theo hướng tăng “ích lợi” của cai thuốc lá; giảm “ích lợi” của hút thuốc lá; tăng “tác hại” của hút thuốc lá; giảm “tác hại” của cai thuốc lá:

Thông tin giúp tăng tin tưởng “ích lợi” của cai thuốc lá:

Đối với người chưa bị bệnh do hút thuốc lá: (1) Sau khi cai thuốc lá 20 phút: Huyết áp giảm về mức bình thường trước khi hút, nhiệt độ tay và chân về bình thường;

(2) Sau 8 giờ: Lượng oxy máu về bình thường, lượng monoxide carbon giảm về bình thường; (3) Sau 24 giờ: Nguy cơ nhồi máu cơ tim đã giảm;

(4) Sau 72 giờ: Khaû naêng hoaït ñoäng cuûa phoåi taêng, cảm giác dễ thở hơn vì các ống phế quản bắt đầu thư dãn; (5) Sau 2 tuần đến 3 tháng: Lưu thông mạch máu trong cơ thể tăng, chức năng hoạt động của phổi tăng đến 30%; (6) Sau 1 – 9 tháng: Ho, tiết dịch nhầy, mệt, khó thở giảm, lông mao phổi hoạt động bình thường, tăng khả năng tiết nhầy, làm sạch phổi và giảm viêm nhiễm. Năng lượng toàn cơ thể tăng;

(7) Sau 1 năm: Nguy cơ nhồi máu cơ tim giảm đi 50%; (8) Sau 5 năm: Nguy cơ tai biến mạch máu não giảm 100%; (9) Sau 10 năm: Nguy cơ tử vong do ung thư phổi giảm 50%, nguy cơ ung thư miệng, họng, thực quản, bàng quan, thận, tụy tạng giảm; (10) Sau 15 năm: Nguy cơ mắc bệnh mạch vành giảm 100%. [7]

Đối với người đã bị bệnh do hút thuốc lá: (1) Bệnh nhân tim mạch: giảm đáng kể nguy cơ tái nhồi máu cơ tim, nguy cơ tái tai biến mạch máu não, tăng tỷ lệ thành công của phẫu thuật mạch vành, giảm mức độ nặng tăng huyết áp; (2) Bệnh nhân hô hấp: giảm tốc độ suy giảm chức năng phổi, chức năng phổi cải thiện sau cai thuốc lá ở người trẻ, giảm triệu chứng ho ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, giảm tốc độ tiến triển của ung thư phổi; (3) Bệnh nhân ung thư: tốc độ phát triển của tế bào ung thư chậm hơn người tiếp tục hút thuốc lá. [7]

Thông tin giúp giảm tin tưởng “ích lợi” của hút thuốc lá:

Những hiệu ứng tâm thần kinh do hút thuốc lá mang lại ví dụ: sảng khoái, hưng phấn, tăng khả năng tập trung chú ý chỉ có tính chất tạm thời trong khoảng 2 giờ, nhưng đồng thời làm não bộ dần trở nên lệ thuộc vào thuốc lá và sẽ trở nên hoạt động kém hiệu quả nếu thiếu thuốc lá. [3]

Nhiều người không hút thuốc lá vẫn có thể tập trung chú ý. Đồng thời có nhiều cách khác mang lại sự sảng khoái hưng phấn nhưng không có hại cho sức khỏe như hút thuốc lá ví dụ chơi thể thao.

Ngày nay càng có nhiều người không cần hút thuốc lá vẫn giao tiếp rất tốt. Như vậy không hẳn chỉ có hút thuốc lá mới tạo thuận lợi trong giao tiếp.

Thông tin giúp giảm sợ hãi “tác hại” của cai thuốc lá:

Lên cân do cai thuốc lá: lên cân do cai thuốc lá không phải là một điều gì quá khủng khiếp khi cai thuốc lá. Trong đa số trường hợp có thể tránh được tăng cân do cai thuốc lá. Tăng cân do cai thuốc lá thường là do hai cơ chế. Trong những tuần lễ đầu tiên, thiếu nicotin sẽ làm thay đổi chuyển hóa trong cơ thể và làm tăng cân, kế tiếp là sự thay đổi hành vi ăn uống: người cai thuốc lá có nhu cầu phải có gì đó trong miệng, nhu cầu ăn vặt, ăn ngọt.v.v.

Những việc làm sau đây có thể giúp khống chế tăng cân do cai thuốc lá: (1) Tránh bỏ bữa ăn; (2) Uống ít nhất 2 lít nước mỗi ngày; (3) Tránh ăn vặt ngoài ba bữa ăn chính; (4) Tập thể dục bằng cách đi bộ nhanh ít nhất 30 phút mỗi ngày; (5) Hạn chế ăn nhiều chất béo, chất ngọt, ăn nhiều trái cây và rau; (6) Nếu đang được điều trị thuốc cai thuốc lá như nicotin thay thế, bupropion, varenicline, hãy tuân thủ chế độ điều trị; (7) Sau khi đã thực hiện như trên mà vẫn lên cân hãy đến gặp bác sỹ dinh dưỡng.[8]

Cảm giác thèm thuốc lá không cưỡng nổi: nguyên nhân là do nghiện thuốc lá thực thể. Tuy nhiên mức độ nghiện thuốc lá thực thể khác nhau giữa các cá nhân. Để có thể biết mức độ nghiện thực thể, hãy trả lời bảng câu hỏi Fagerstrom thu gọn sau: [3]

Trường hợp nghiện thực thể nhẹ, có thể cai thuốc không cần đến thuốc hỗ trợ cai thuốc lá. Trường hợp nghiện thực thể trung bình đến nặng có thể dùng thêm thuốc hỗ trợ cai thuốc lá: nicotin dán, nhai; bupropion uống; varenicline uống.[7] Hãy thông báo cho bác sỹ để được hướng dẫn cách sử dụng phù hợp.

Thay đổi tính tình do cai thuốc lá: kích thích, bứt rứt, giận dữ xảy ra khi cai thuốc lá, chính là dấu hiệu của thiếu nicotin trong cơ thể. Các thay đổi tính tình này chỉ có tính chất nhất thời và sẽ dịu hẳn đi sau 4 – 6 tuần.

Trong thời gian đầu hãy tập cách hít thở sâu thư dãn, nói chuyện với mọi người xung quanh để tranh thủ sự thông cảm, cũng có thể thông báo cho bác sỹ biết để có thể được bác sỹ kê toa thuốc chống lo âu, chống trầm cảm. [8]

ÍCH LỢI TÁC HẠI HÚT THUỐC LÁ 1. Giảm căng thẳng, buồn bã. 2. Tăng hưng phấn trong công việc. 3. Là công cụ giao tiếp tốt.v.v. 1. Hiện đang ho – do tác hại thuốc lá. 2. Con trai mắc hen – sẽ nặng lên thêm do hít phải khói thuốc lá. 3. Tốn kém tiền bạc .v.v. CAI THUỐC LÁ 1. Da sáng hơn. 2. Thành tích thi đấu thể thao cao hơn. 3. Dễ thở hơn, ít ho hơn.v.v. 1. Tăng cân khi cai thuốc lá. 2. Không tập trung làm việc được. 3. Đánh mất “người bạn lâu năm”.v.v.TÌNH HUỐNG GIẢI PHÁP 1 Ham muốn hút thuốc lá đột ngột Uống một ly nước mát. Đi bộ một vòng. Hít thở thật sâu ba lần. 2 Thèm thuốc lá khi thấy người khác hút thuốc lá 1. Tránh đi đến những nơi có nhiều người hút thuốc lá. 2. Nói trước với bạn bè về chuyện cai thuốc lá. 3. Tìm cách lánh khỏi nơi có nhiều người hút thuốc lá. 3 Thèm hút thuốc lá khi uống cà phê, sau khi ăn cơm Thay đổi địa điểm, thời gian, bạn bè cùng uống cà phê. Uống cà phê nhanh thay vì uống cả 30 phút. Sau khi ăn cơm xong đứng lên nhanh đi chải răng. 4 Quá khó chịu khi cai thuốc lá vì hội chứng cai nghiện Tìm hiểu cơ sở y tế nào có thể hỗ trợ cai thuốc lá, cung cấp điều trị nhận thức hành vi (phòng khi cần đến). Thông báo cho bác sỹ biết xem có thể kê toa và hướng dẫn sử dụng thuốc hỗ trợ cai thuốc lá: nicotin thay thế, bupropion, varenicline. Thông báo cho bác sỹ biết xem có thể kê toa và hướng dẫn sử dụng thuốc chống lo âu và trầm cảm.

Thông tin về tác hại thuốc lá ngày nay ngày càng phổ biến có thể tìm kiếm ở bất kỳ nguồn nào. Nên tìm hiểu thêm về tác hại thuốc lá bất kỳ khi nào có thể.Thông tin giúp tăng sợ hãi “tác hại” của hút thuốc lá:

Tập trung tìm hiểu về tác hại của thuốc lá trong trường hợp cụ thể của bản thân hay người thân trong gia đình sẽ giúp tăng nhanh nhận thức về tác hại thuốc lá.

Bước 3: Chuẩn bị các chỗ dựa cần thiết khi cai thuốc lá sau này.

Thực hiện một số chuẩn bị về mặt hành vi: (1) Tự định ra một ngày bắt đầu cai thuốc lá phù hợp với điều kiện thực tế của bản thân; (2) Công bố (chứ không phải là dấu diếm) quyết định cai thuốc lá cho mọi người biết; (3) Dẹp khỏi tầm tay tất cả các vật dụng liên quan đến hút thuốc lá: gạt tàn, bật lửa.

Tạo môi trường thuận lợi cho cai thuốc lá: (1) Yêu cầu mọi người xung quanh hỗ trợ nỗ lực cai thuốc lá của bản thân bằng cách không hút thuốc lá trước mặt mình, không mời mình hút thuốc lá; (2) Yêu cầu mọi người cảm thông về sự thay đổi tính tình (nếu có); (3) Yêu cầu mọi người chịu khó lắng nghe chia sẻ mỗi khi gặp khó khăn khi cai thuốc lá.

Có thể cai thuốc lá thử một ngày và ghi lại những “khó khăn” xuất hiện trong ngày cai thuốc lá. Nếu thử cai thuốc lá trong vài ngày liên tiếp, chắc chắn người cai thuốc lá sẽ nhận định được những “khó khăn” riêng cho bản thân là gì.

Lập kế hoạch đối phó các tình huống “khó khăn” khi cai thuốc lá:

Giai đoạn “cai thuốc” – “củng cố”:

Ngày đầu tiên cai thuốc lá:

Ngày hôm nay, người hút thuốc lá quyết định cai thuốc lá. Quyết định này nên được thực hiện sau khi đắn đo suy nghĩ và thực hiện đầy đủ các bước chuẩn bị trong giai đoạn “có ý định” và “chuẩn bị”. Quyết định này không nên thực hiện một cách ngẫu hứng.

Cứ mỗi khi có ham muốn hút thuốc lá hãy nhớ làm ngay một chuyện khác: uống một ly nước mát, đi bộ một vòng, chải răng, hít thở thật sâu.v.v.

Tránh đi đến những nơi mà bản thân dễ bị cám dỗ hút thuốc lá như quán nhậu, lễ hội.v.v.

Nếu cảm giác thèm thuốc lá quá độ đến mức “không thể chịu nổi”, đừng sợ cảm giác này sẽ giảm theo thời gian thôi. Nếu bác sỹ đã kê toa thuốc cai thuốc lá hãy lấy ra sử dụng: nhai nicotin, uống bupropion, varenicilin.

Đặc biệt cố gắng không hút thuốc lá dù chỉ một hơi, kiên nhẫn, mỗi ngày qua đi người cai thuốc lá sẽ cảm thấy dễ chịu hơn.

Một tuần lễ sau cai thuốc lá:

Đây là thời điểm quan trọng vì người cai thuốc lá đã vượt qua được 7 ngày đầu tiên. Hãy ghi lại các “ích lợi” do việc cai thuốc lá mang lại trong tuần đầu tiên mà bản thân cảm nhận được.

Các “khó chịu” cần phải tiếp tục giải quyết: (1) Không thể suy nghĩ chuyện gì khác ngoài chuyện hút thuốc lá, không thể tập trung vào công việc làm à Sắp xếp công việc cho bớt căng thẳng trong giai đoạn này; tìm cách thư dãn giải trí ví dụ chơi thể thao, đánh cờ; sử dụng thuốc hỗ trợ cai thuốc lá; (2) Khó ngủ hơn thường lệ à Tránh uống trà và cà phê vào buổi tối, tắm trước khi đi ngủ, đi ngủ đúng giờ, thậm chí có thể thông báo cho bác sỹ để được kê một chút thuốc giúp dễ ngủ hơn;

(3) Ho nhiều hơn à đây là dấu hiệu tốt cho biết phế quản đang hoạt động trở lại, thường thì đàm khạc ra có màu đen và sẽ giảm sau vài ngày nữa; (4) Thèm ăn nhiều hơn à Ghi nhớ đây là cảm giác giả tạo xuất hiện khi cai thuốc lá, uống nước mỗi khi thấy thèm ăn, có thể ăn một chút trái cây, tránh ăn ngọt .v.v.

Hai tuần lễ sau cai thuốc lá:

Nhiều người cai thuốc lá đánh giá giai đoạn 2 tuần đầu tiên là khó khăn nhất, giai đoạn này tương ứng với giai đoạn cơ thể làm quen với tình trạng không có nicotin trong máu. Kể từ thời điểm này người cai thuốc lá sẽ cảm thấy dễ chịu hơn thời gian trước vì cơ thể đã “quen” với tình trạng mới. Nếu qua 2 tuần mà vẫn cảm thấy quá khó chịu, hãy liên hệ với bác sỹ để được sử dụng thuốc hỗ trợ cai thuốc lá (nếu chưa dùng) hoặc điều chỉnh liều lượng (nếu đã dùng).

Ghi nhận tiếp tục những “ích lợi” do cai thuốc lá mang lại xuất hiện trong giai đoạn này: thở sâu hơn dễ dàng, cảm giác mũi có thể ngửi mùi tốt hơn, lưỡi cảm giác vị thức ăn tốt hơn.v.v.

Các “khó chịu” cần tiếp tục giải quyết: (1) Cảm giác mệt mỏi hoặc buồn ngủ trong ngày à do thuốc lá bình thường có tác dụng kích thích, khi không hút thuốc lá, đôi khi cơ thể có thể cảm thấy mệt mỏi à uống thêm vitamin C tối đa 2 g mỗi ngày, nhớ uống nhiều nước; (2) Vẫn cảm thấy khó tập trung à uống thêm một chút Magne–B6; (3) Cảm giác buồn chán à nói chuyện với người thân, bạn bè, thậm chí nói với bác sỹ để được uống thêm thuốc chống buồn chán; (4) Tăng cân à thực hiện các bước chuẩn bị về ăn uống đã đề cập ở trên;

(5) Táo bón à do nicotin trong thuốc lá kích thích hoạt động co thắt đại tràng, khi cai thuốc lá, kích thích co thắt đại tràng kém đi nên táo bón à uống nhiều nước, ăn thêm rau và trái cây đặc biệt là bưởi, vận động thể thao, tránh dùng thuốc sổ vì cơ thể sẽ quen với thuốc sổ sau này; (6) Còn quá thèm thuốc lá, quá khó chịu sau 2 tuần à hỏi ý kiến bác sỹ chuyên khoa về cai thuốc lá.

Một tháng sau cai thuốc lá:

Sau khi cai thuốc lá được 1 tháng, cần kiểm tra lại xem tình hình thực sự đã đến đâu rồi bằng cách trả lời bảng câu hỏi sau:

Nếu ít nhất một trong năm câu hỏi trên có trả lời là không thì nhanh chóng xem lại những phần chuẩn bị phía trước và thực hiện theo hướng dẫn. Nếu vẫn không được thì báo cho bác sỹ điều chỉnh.

Nếu người cai thuốc lá đang sử dụng thuốc hỗ trợ cai thuốc lá, không nên ngưng thuốc sớm vào thời điểm này cho dù cảm thấy “rất tốt”. Việc ngưng thuốc hỗ trợ cai thuốc lá quá sớm có thể dẫn đến tái nghiện sớm.

Cainghien.vn cập nhật các thông tin về thuốc lá, tất cả các phương pháp cai nghiện thuốc lá nhanh và hiệu quả nhất hiện nay

Ba tháng sau cai thuốc lá:

Sau khi cai thuốc lá được 3 tháng, các “khó chịu” do cai thuốc lá đã giảm rất nhiều, đây là thời điểm người cai thuốc lá cảm nhận ngày càng nhiều hơn những “ích lợi” của cai thuốc lá.

Củng cố quyết tâm cai thuốc lá bằng cách xem lại các “ích lợi” tiên đoán trong thời gian trước khi cai thuốc lá đã đạt được chưa. Ghi lại những “ích lợi” do cai thuốc lá bản thân đã đạt được và so sánh với trước đây

Xem lại vấn đề tăng cân: nếu tăng 2 – 3 kg à bình thường do cai thuốc lá; nếu tăng hơn 3 – 4 kg à có yếu tố khác ngoài việc cai thuốc lá làm tăng cân: chế độ ăn uống và tập luyện thể lực chưa phù hợp ăn vặt nhiều quá, ăn ngọt, béo nhiều; vận động quá ít.

Nếu người cai thuốc lá đang sử dụng thuốc hỗ trợ cai thuốc lá, đây là thời điểm xem xét việc ngưng thuốc hỗ trợ: nicotin thay thế và varenicline sẽ ngưng sau 3 tháng, bupropion ngưng sau 2 – 3 tháng.

Sáu tháng sau cai thuốc lá:

Giai đoạn này, người cai thuốc lá cảm thấy rất dễ chịu vì đã vượt qua được hầu như tất cả “khó chịu” do cai thuốc lá. Nhưng chính lúc này lại xuất hiện tâm lý chủ quan. Nhiều người suy nghĩ rằng lúc này mình có thể hút lại chỉ một điếu để tự thưởng bản thân vì đã cố gắng một thời gian dài, để trải qua một giây phút vui vẻ cùng với bạn bè và gia đình và tin tưởng rằng sẽ không tái nghiện trở lại.

Ghi nhớ rằng việc hút lại dù “chỉ một hơi” có thể đánh thức trở lại nhu cầu nicotin của cơ thể và sau đó là ham muốn hút thuốc lá “không cưỡng lại được”. Người cai thuốc lá sẽ nhanh chóng tái nghiện trở lại.

Mỗi khi xuất hiện ý tưởng “hút thử lại một điếu”, hãy dập tắt ý tưởng này bằng cách lập lại tất cả các lý do khiến bản thân cai thuốc lá và những khó chịu phải trải qua khi cai thuốc lá để có được ngày hôm nay.

Giai đoạn “thành công” và “tái nghiện”:

Một năm sau cai thuốc lá:

Một năm là thời điểm theo định nghĩa là thành công cai thuốc lá. Tuy nhiên ghi nhớ thành công cai thuốc lá không phải là vĩnh viễn. Khả năng tái nghiện lúc nào cũng tồn tại.

Nguy cơ tái nghiện sẽ cao nhất vào lúc có những “biến cố” lớn trong cuộc sống: thất bại, phá sản, chia tay .v.v.

Ghi nhận lại những ích lợi của việc cai thuốc lá lâu dài mà bản thân muốn gìn giữ.

Tái nghiện:

Tái nghiện là một trong các giai đoạn của quá trình cai thuốc lá. Trong cai thuốc lá không có “thất bại” mà chỉ có “tái nghiện”. Tái nghiện là tiền đề đề thành công sau này.

Không nên tự trách bản thân vì đã tái nghiện, ngược lại suy nghĩ về các nguyên nhân dẫn đến tái nghiện lần này và đề xuất giải pháp để cai thuốc lá trở lại.

Tùy vào giai đoạn tái nghiện sớm, trung bình, hay muộn sẽ có các lý do khác nhau. Tựu trung cá các lý do này rơi vào một trong các “khó khăn” đã kể ra trong từng giai đoạn ở trên.

Hãy liên lạc với bác sỹ để được tư vấn xem nên bắt đầu cai thuốc lá lại như thế nào.

Nguồn: Vinacosh

Cainghien.vn cập nhật các thông tin về thuốc lá, tất cả các phương pháp cai nghiện thuốc lá nhanh và hiệu quả nhất hiện nay