HƠN 26.000 VIÊN MA TÚY TỔNG HỢP GIẤU TRONG LON BIA

HƠN 26.000 VIÊN MA TÚY TỔNG HỢP GIẤU TRONG LON BIA 

https://vnexpress.net/

Hai người đàn ông đi máy vượt biên sang Lào để mua ma túy mang về Việt Nam tiêu thụ.

Ngày 16/11, lực lượng biên phòng bắt quả tang hai nghi can vận chuyển trái phép chất ma túy vào lãnh thổ Việt Nam qua địa phận xã Na Mèo, huyện Quan Sơn (Thanh Hóa).

Khống chế Sung Văn Dính (40 tuổi) và Sung Văn Ly (34 tuổi, cùng trú xã Nhi Sơn, huyện Mường Lát, Thanh Hóa,  nhà chức trách thu thu 26.200 viên ma túy tổng hợp…

Hai nghi can khai một ngày trước đã đi xe máy vượt biên trái phép sang Lào mua ma túy và vận chuyển về Việt Nam tiêu thụ.

Nhằm qua mắt các lực lượng chức năng, chúng giấu hàng cấm vào các lon bia.

Lam Sơn

TRỊ LIỆU NHẬN THỨC – HÀNH VI (2)

TRỊ LIỆU NHẬN THỨC – HÀNH VI

BS. NGUYỄN VĂN KHUÊ & BS. NGUYỄN MINH TIẾN

Trung tâm Điều dưỡng và Cai nghiện Ma tuý Thanh Đa

 

CÁC LỖI LẦM THƯỜNG HAY XẢY RA TRONG TRỊ LIỆU NHẬN THỨC

Theo Francis Bacon, có thể dễ dàng để nhận biết một cái bánh dở hơn là làm một cái bánh ngon. Cũng như vậy đối với tâm lý trị liệu. Thật dễ phát hiện những khuyết điểm hoặc khó khăn trong cuộc trị liệu hơn là tránh các khuyết điểm. Tuy nhiên, vẫn có một số sai lầm thường xảy ra khi thực hiện trị liệu như:

– Sự xã hội hóa chưa đầy đủ của thân chủ đối với khuôn mẫu trị liệu

– Thất bại trong việc phát triển bảng liệt kê các vấn đề đặc hiệu

– Các bài tâp về nhà chưa phù hợp (và không theo dõi các bài tập về nhà đã làm)

– Nhấn mạnh quá sớm đến việc nhận ra các sơ đồ

– Nhà trị liệu thiếu kiên nhẫn, hướng dẫn quá mức để cố gắng giải quyết lập tức các triệu chứng của thân chủ

– Giới thiệu quá sớm các kỹ thuật hợp lý trước khi hoàn thành sự khái niệm hóa đầy đủ

– Thiếu chú trọng việc phát triển mối quan hệ cộng tác và chú ý không đầy đủ các yếu tố không đặc thù trong mối quan hệ trị liệu.

– Không tính đến các phản ứng cảm xúc riêng, các suy nghĩ tự động và các sơ đồ của nhà trị liệu – phản ứng chuyển di.

KẾT THÚC TRỊ LIỆU (TERMINATION)

Việc kết thúc trị liệu nhận thức đã bắt đầu từ lần trị liệu đầu tiên vì mục đích của trị liệu nhận thức không phải là sự chữa trị, mà là giúp thân chủ có được khả năng ứng phó hiệu quả. Nhà trị liệu nhận thức không có kế hoạch trị liệu vô hạn; đây là một mô hình tâm lý trị liệu nhắm đến việc lĩnh hội các kỹ năng. Mục tiêu của nhà trị liệu là giúp thân chủ đạt được khả năng giải quyết với các tác nhân gây stress bên trong và bên ngoài vốn là một phần của cuộc sống. Khi các thang đánh giá khách quan, báo cáo của thân chủ, quan sát của nhà trị liệu và các phản hồi từ những người thân nhất trong gia đình xác nhận có sự sự cải thiện và nâng cao mức độ thích ứng của thân chủ thì việc trị liệu có thể kết thúc.

Mặc dầu nghiên cứu cho thấy trị liệu nhận thức đạt hiệu quả cao nhất qua 12 đến 15 phiên trị liệu, song vẫn chưa có một thời gian tiêu biểu nào cho việc trị liệu. Khi giúp đỡ các thân chủ có các khó khăn lâu dài trầm trọng (như rối loạn nhân cách ranh giới chẳng hạn) chúng ta cũng có thể đạt được nhiều lợi ích đáng kể khi thực hiện trị liệu trong nhiều tuần vì thân chủ có thể học được các kỹ thuật đương đầu với những cảm giác trầm cảm, lo âu và giận dữ. Trị liệu nhận thức cũng có thể có lợi khi được tiếp hành từ 2 đến 3 năm vì các giả định và sơ đồ phải được xem xét và tác động đến. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây không tìm ra mối liên hệ giữa thời gian trị liệu và hiệu năng của trị liệu (Berman, Miller and Massman 1985, Sharpiro 1982). Các cuộc nghiên cứu cho rằng lợi ích của việc tiếp tục trị liệu sau 12 đến 15 phiên trị liệu là khiêm tốn, cần bàn bạc với thân chủ từ lúc khởi đầu về mục tiêu và thời điểm kết thúc. Điều này khuyến khích nhà trị liệu và thân chủ duy trì sự tập trung vào tính cấp bách của quá trình trị liệu.

Việc kết thúc trị liệu nhận thức được thực hiện từ từ để có đủ thời gian cho việc thay đổi và sắp xếp các phiên trị liệu giảm dần từ một lần mỗi tuần đến mỗi lần hai tuần. Sau đó, các phiên trị liệu có thể thực hiện một tháng một lần, với các phiên trị liệu theo dõi mỗi 3 đến 6 tháng cho đến khi tiến trình trị liệu kết thúc. Dĩ nhiên thân chủ có thể gọi và hẹn gặp gỡ trong trường hợp khẩn cấp. Đôi khi, thân chủ cũng có thể gọi điện chỉ để nhận một thông tin hay việc tăng cường một hành vi nào đó, hoặc để báo cáo một sự thành công với nhà trị liệu. Sự tiếp xúc với nhà trị liệu nhận thức, trong vai trò của một cố vấn hoặc một cộng tác viên, vẫn thích hợp và có tác dụng quan trọng. Khi việc trị liệu gần đến kết thúc, những suy nghĩ và cảm xúc của thân chủ về việc kết thúc cần được thăm dò cẩn thận vì chúng phản ánh các sơ đồ và giả định của họ liên quan sự chia ly (separation). Việc kết thúc trị liệu có thể có ý nghĩa quan trọng cho thân chủ và có thể hoạt hóa các kỷ niệm và sơ đồ về việc chia ly với những người khác trong quá khứ của thân chủ (Mann, 1973; Sofran and Segal, 1990). Sự kết thúc có thể cung cấp cho nhà trị liệu một cơ hội thăm dò các suy nghĩ và cảm xúc của thân chủ cùng những cách thức đặc biệt mà thân chủ đương đầu với sự chia ly. Điều này, đặc biệt quan trọng khi làm việc với các thân chủ mà lịch sử gợi ý họ đã đáp ứng với sự chia ly và mất mát một cách không thích ứng. Những phản ứng như thế không phải là hiếm xảy ra nơi những thân chủ bị rối loạn nhân cách.

Như đã nêu trên, nhà trị liệu cần phải theo dõi các phản ứng cảm xúc và suy nghĩ riêng của họ trong suốt quá trình trị liệu. Điều này càng quan trọng trong giai đoạn kết thúc trị liệu. Ngoài những cảm giác và niềm tin của nhà trị liệu về sự chia ly, một trong những khó khăn thường gặp phải trong khi làm trị liệu nhận thức là áp lực thực hiện những cải thiện đáng kể một cách nhanh chóng. Trị liệu nhận thức, với trọng tâm đặt vào các thành quả có thể quan sát được, và có tính chiến lược, có thể giúp thân chủ rời khỏi nhà trị liệu với niềm tin rằng họ chịu trách nhiệm trong việc bảo đảm mục tiêu trị liệu đạt được. Có nhiều trường hợp trong cuộc đời của chúng ta, những mong đợi và mục tiêu của chúng ta không đạt được một cách đầy đủ và công việc quan trọng có thể dành lại cho thân chủ giải quyết sau khi kết thúc trị liệu. Trị liệu nhận thức xem cơ chế thay đổi thông qua tâm lý trị liệu cũng tương tự như cơ chế của sự phát triển trong toàn bộ cuộc sống của chúng ta. Những kỹ năng nhận thức và hành vi cùng những cách thức hiểu biết mới về đời sống được lĩnh hội thông qua trị liệu có thể gieo hạt giống cho sự phát triển sau này khi thân chủ chấm dứt trị liệu. Như Safran và Segal đã quan sát, những suy nghĩ và cảm xúc xuất hiện khi trị liệu kết thúc, có ý nghĩa cho mô hình làm việc bên trong của thân chủ và cho mối quan hệ của thân chủ với nhà trị liệu. Vì thế, chúng phải được xem xét kỹ lưỡng và sử dụng như một phần quan trọng của tiến trình trị liệu.

Không tuân thủ trị liệu (non-compliance)

Không tuân thủ, đôi khi còn được gọi là ‘kháng cự’ (resistance), thường ngụ ý chỉ trường hợp thân chủ không muốn thay đổi hoặc không muốn ‘trở nên tốt hơn’, với những lý do vô thức hay hữu thức. Sự kháng cự này có thể biểu hiện một cách trực tiếp (ví dụ: đến trễ hoặc quên cuộc hẹn trị liệu), hoặc cũng có thể kín đáo thông qua việc bỏ qua không báo cáo lại một điều gì đó trong phiên trị liệu. Về mặt lâm sàng, chúng ta có thể xác định một số nguyên do dẫn đến tình trạng không tuân thủ được trình bày dưới đây, các nguyên do đó có thể riêng lẻ, phối hợp, hoán đổi, hoặc thay đổi mức độ tùy theo các hoàn cảnh sống của thân chủ, tùy theo những diễn biến trong tiến trình trị liệu và tùy vào mối quan hệ giữa thân chủ và nhà trị liệu.

1. Thân chủ thiếu kỹ năng thay đổi hành vi của mình

2. Nhà trị liệu thiếu kỹ năng giúp thân chủ thay đổi

3. Các yếu tố gây stress trong môi trường và trong gia đình ngăn trở sự thay đổi

4. Cách thân chủ nhận thức về khả năng xảy ra thất bại

5. Cách thân chủ nhận thức về kết quả của việc họ thay đổi ảnh hưởng đối với người khác như thế nào

6. Thân chủ và nhà trị liệu có cùng những lệch lạc nhận thức

7. Khả năng xã hội hóa kém đối với mô hình trị liệu nhận thức

8. Lợi ích có được từ việc duy trì hành vi kém chức năng

9. Mối quan hệ trị liệu thiếu tính cộng tác

10. Thiếu việc định thời hạn cho các can thiệp trị liệu

11. Thân chủ sợ thay đổi

ÁP DỤNG TRỊ LIỆU NHẬN THỨC

1. Giả thuyết về tính chuyên biệt của nhận thức

Sự quan trọng đặc biệt cho nhà lâm sàng là giả thuyết chuyên biệt nhận thức – định đề cho rằng các trạng thái cảm xúc (và, có lẽ, các rối loạn lâm sàng) có thể được phân biệt dựa vào những nội dung và tiến trình nhận thức riêng của chúng. Ví dụ bệnh trầm cảm được tiêu biểu bởi ‘bộ ba nhận thức’ (Beck 1976) – một tập hợp các khuynh hướng nhận thức và tri giác tiêu cực về bản thân mình, thế giới xung quanh và tương lai. Các thân chủ trầm cảm có xu hướng xem bản thân mình bị khiếm khuyết một cách đáng kể và thiếu khả năng cần thiết để đạt được những mục tiêu quan trọng. Họ thấy tương lai ảm đạm và cho rằng những người xung quanh không quan tâm hoặc từ bỏ họ. Các quan điểm của họ về chính mình và thế giới xung quanh được lọc qua một lăng kính đen tối và tiêu cực. Sơ đồ của những người trầm cảm bao gồm những liên tưởng với các chủ đề về sự bất toàn, sự mất mát, sự tước đoạt của cá nhân họ (Guidano & Liotti, 1983; Kovacs & Beck, 1987). Trái lại, các rối loạn lo âu đặt nền tảng trên sự tri giác tổng quát về một mối đe dọa và nguy hiểm sắp xảy ra mà đương sự không thể đương đầu nổi.

Ngoài ra, mỗi rối loạn lo âu đặc biệt sau đây (rối loạn ám ảnh – cưỡng chế, rối loạn hoảng sợ, sự sợ hãi đơn thuần, rối loạn lo âu lan tỏa, ám ảnh sợ xã hội) có thể được phân biệt bởi sự tập trung đặc thù của mối đe dọa. Một mô hình tổng quát các rối loạn lo âu (Freeman 1990) sẽ được trình bày sau đây.

Mô hình này cho thấy bằng cách nào mà một số yếu tố đã có tác động trên quá trình hình thành các rối loạn lo âu cũng như tiến trình trị liệu các rối loạn ấy. Khi các cá nhân đương đầu với một tình trạng nào đó (ví dụ: một kỳ thi sắp tới). Các tri giác về sự kiện đó bị ảnh hưởng bởi những niềm tin, các ký ức, sơ đồ và giả thuyết hiện hữu của họ. Khi lượng giá tình hình, họ có hai phán đoán: một là sự đánh giá mức độ nguy cơ hay đe dọa và hai là sự đánh giá khả năng của họ để đương đầu với nguy cơ. Ví dụ: khi họ tin rằng mình có khả năng và được chuẩn bị tốt và việc thi cử có rất ít tác động đến điểm tối hậu của họ, họ sẽ không xem việc thi cử là một sự đe dọa, mà là một sự thách thức. Tuy nhiên, nếu họ tin rằng việc thi cử là rất quan trọng và họ không được chuẩn bị tốt thì họ sẽ xem xét tình hình là có tính đe dọa và trở nên lo lắng. Lo âu có thể được xem như là một đáp ứng có tính thích nghi đối với mối đe dọa mà đương sự cảm nhận được. Nếu đương sự ứng phó một cách thành công với mối đe dọa ấy (bằng cách học tập cật lực và đậu kỳ thi) thì trải nghiệm này sẽ xúc tiến ý thức về bản ngã của đương sự và tạo nên niềm tin trong khả năng của đương sự trong việc đương đầu với các kỳ thi trong tương lai. Tuy nhiên, nếu thân chủ thất bại trong cuộc thi, hoặc tránh né sự đe dọa (bằng cách bỏ học) thì sự tri giác về hiệu năng của cá nhân sẽ bị giảm sút và niềm tin rằng tình hình này là một sự đe dọa thật sự sẽ tăng lên. Do vậy đương sự sẽ trở nên cảnh giác hơn hoặc kỹ lưỡng hơn khi gặp những hoàn cảnh tương tự trong tương lai và sẽ trở nên tránh né các tình huống gây đe dọa khác. Trị liệu các rối loạn lo âu, bao gồm các việc xem xét, các niềm tin, giả thuyết và sơ đồ, phát triển các khả năng ứng phó một cách thích nghi: thúc đẩy các tri giác về tính hiệu năng của bản thân, làm cho sự đe dọa mất đi tính chất thảm họa, không khuyến khích sự tránh né hoặc rút lui. Các cảm xúc khác (bao gồm giận dữ, tội lỗi, xoa dịu, bất mãn, thất vọng, hy vọng, phẫn uất, ganh tỵ, niềm vui, thương hại và kiêu hãnh) và các rối loạn lâm sàng (bao gồm cả các rối loạn nhân cách) có thể được phân biệt thông qua các diễn tiến và nội dung nhận thức đặc thù (Beck và cs., 1990; Collin, 1988). Giả thuyết về tính chuyên biệt nhận thức có một tầm quan trọng trung tâm trong việc thực hành lâm sàng trị liệu nhận thức, vì nó hướng sự chú ý của chúng ta vào các niềm tin đặc thù và các kiểu cách xử lý thông tin thường được tìm thấy nơi những thân chủ có các rối loạn đặc hiệu. Nó cho phép chúng ta cung cấp cho thân chủ một sơ đồ để hiểu biết các kinh nghiệm cảm xúc mà có thể được họ xem là rất bí mật và nặng nề không chịu nổi, đồng thời cho phép chúng ta tác động bằng các can thiệp nhận thức hành vi nhằm thay đổi những niềm tin đặc thù tạo ra sự khó chịu trong tâm trí của thân chủ.

2. Sự lo âu

Những than phiền về sự lo âu, căng thẳng, bức xúc… là những vấn đề thường xảy ra nhất đối với nhà chuyên môn sức khỏe tâm thần. Triệu chứng lo âu thường đi theo một số rối loạn tâm thần sinh lý khác như trầm cảm, hoặc rối loạn tâm thể, mà các rối loạn này thường che giấu trạng thái lo âu. Còn trong một số trường hợp khác, triệu chứng có thể biểu hiện dưới hình thức sinh lý (có thể có hoặc không liên quan đến lo âu). Vì thế, tỉ lệ và tần suất của chứng lo âu thường được đánh giá rất thấp trong thực hành y khoa.

Các thân chủ lo âu thường chia sẻ một số niềm tin (Deffenbacher, Zwemer, Whisman, Hill & Sloan, 1986; Mizes, Landolf-Fritsche, 1987). Nghiên cứu cho thấy rằng những thân chủ lo âu có khuynh hướng tin tưởng rằng nếu có một nguy cơ hiện hữu, sự lo phiền về nó là một điều tốt (sự bận tâm quá có tính lo âu), rằng họ cần phải có khả năng thuần thục để có thể kiểm soát tình thế (khả năng kiểm soát cá nhân và sự hoàn hảo) và rằng cách thích ứng là nên tránh các vấn đề có tính thách thức (né tránh vấn đề). Như đã nêu trên, những đề tài chung chia sẻ bởi các rối loạn lo âu là sự tri giác về mối đe dọa và niềm tin rằng mối đe dọa không thể quản lý được hoặc tránh né được. Các mối đe dọa có thể hiện thực hay tưởng tượng và thường hướng về bản thân dương sự. Phải chăng tất cả mối đe dọa lo âu là đến từ bên ngoài? Chắc chắn là không. Trong lúc vẫn có các mối đe dọa thực sự từ bên ngoài có thể tạo nên các cảm giác lo âu, như mất việc làm, mất vợ hoặc chồng, thi rớt… thực tế cũng có các mối đe dọa đến từ bên trong, như những cảm giác cơ thể và các cảm xúc (xảy ra trong cơn hoảng loạn), các ý nghĩ (như trong rối loạn ám ảnh – cưỡng chế), cũng như các hình ảnh, xung động và các huyễn tưởng. Tuy nhiên tất cả những hình thức trên đều giống nhau và được coi là gây nguy hiểm cho sự lành mạnh về thể chất, tâm lý, cảm xúc và xã hội.

Sự đe dọa có thể gây nên các triệu chứng tâm lý và cơ thể, tất cả được đặt tên là ‘lo âu’. Có lẽ tính chất nổi bật nhất và có ý nghĩa lâm sàng trong chẩn đoán lo âu đó là thời gian kéo dài của triệu chứng lo âu. Các triệu chứng như căng thẳng cơ bắp, tăng hoạt động thần kinh thực vật, sự trông đợi xảy ra cảm giác sợ hãi, cảnh giác và dò xét phải kéo dài và hiện hữu ít nhất 6 tháng. Sự lo âu bình thường và lo âu bệnh lý có thể khác nhau một cách biến thiên tùy theo mức độ nghiêm trọng, nhưng đánh giá sau cùng phải dựa trên mức độ rối loạn chức năng và sự mất khả năng của cá nhân. Lo âu có thể ảnh hưởng đến các hệ thống đáp ứng hô hấp, cơ bắp, tuần hoàn, da, tiêu hóa một cách riêng lẻ hay kết hợp. Các biểu hiện của lo âu nặng thường bao gồm các đáp ứng hành vi hoặc theo kiểu mệnh lệnh (ví dụ: chống cự hoặc bỏ chạy) hoặc bằng sự bỏ sót (ví dụ: hành vi tránh né). Có những cảm giác sinh lý báo hiệu sự hiện diện của lo âu, trải nghiệm cảm xúc liên quan đến lo âu, cùng các sự kiện và tiến trình nhận thức có tác dụng kích thích và duy trì sự lo âu. Tất cả những điều trên có thể làm cho người bệnh mất khả năng hoạt động cá nhân, nghề nghiệp và xã hội.

Mô hình nhận thức lo âu (Barlow 1988, Beck, Emery & Greenberg, 1985; Freeman & Ludgate, 1988) liên quan đến nhiều yếu tố. Lo âu, là hoạt động thích ứng với hoàn cảnh, bắt đầu bằng sự tri giác về mối đe dọa trong một tình huống đặc hiệu. Ý nghĩa mà cá nhân liên kết với hoàn cảnh được xác định bởi sơ đồ và những ký ức mà họ đã có được từ những hoàn cảnh tương tự trong quá khứ. Lúc đó cá nhân đánh giá sự trầm trọng của mối đe dọa và lượng giá hiệu năng bản thân của mình hoặc những tiềm năng của mình để ứng phó với mối đe dọa ấy. Nếu tình hình được xem là rất nguy hiểm, thì tiếp sau đó sẽ là ý thức về sự nguy hiểm. Nếu tiếp nhận mối nguy một cách nhẹ nhàng, đương sự sẽ đáp ứng với nó như là một sự thách thức, đồng thời cảm thấy phấn khích và nhiệt tình. Các tiến trình nhận thức và tri giác có thể ảnh hưởng bởi trạng thái cảm xúc hiện tại của cá nhân (Bower 1981). Trong trường hợp này, khi một người cảm thấy lo âu, anh ta có thể trở nên cảnh giác với mối đe dọa và bắt đầu hồi tưởng những tình huống kinh khủng, có tính đe dọa trong quá khứ, do đó đương sự có thể nhận ra được về một mối đe dọa mà có thể đã không hiện hữu trước đó.

Quá trình trị liệu nhận thức cho rối loạn lo âu cũng theo nguyên tắc chung đã bàn ở trên: khi khái niệm hóa sự lo âu của một người nào đó, chúng ta bắt đầu bằng việc đánh giá “ngưỡng lo âu” hoặc khả năng chịu đựng sự lo âu của đương sự. Mỗi người có một ngưỡng lo âu chung cũng như khả năng chịu đựng lo âu trong những tình huống chuyên biệt. Những ngưỡng lo âu này có thể chuyển đổi để đáp ứng với các tác nhân gây stress trong đời sống hằng ngày của đương sự và tùy thuộc vào những nguồn lực hỗ trợ sẵn có của đương sự. Nhà trị liệu sẽ bắt đầu bằng việc hỏi về những sự kiện đặc hiẹu nào, tình huống đặc hiệu nào và các tương tác nào có tác dụng khởi hoạt nỗi lo âu nơi đương sự.

Kế tiếp, nhà trị liệu sẽ thực hiện một sự đánh giá về những suy nghĩ tự động đi kèm theo các cảm giác lo âu. Mặc dầu những suy nghĩ của bản thân người bị lo âu thường tập trung xung quanh các chủ đề về sự đe dọa và tính mẫn cảm của họ, nội dung riêng biệt của nỗi lo âu nơi mỗi người có thể hoàn toàn mang tính riêng tư hoặc rất cá biệt, và có thể liên quan đến một hội chứng có tính rất chuyên biệt.

Như giả thuyết về tính chuyên biệt nhận thức, mỗi rối loạn lo âu có thể được phân biệt dựa trên nền tảng của các nội dung và diễn tiến nhận thức kèm theo chúng. Ví dụ rối loạn hoảng sợ (panic disorder) được tiêu biểu bởi sự nhạy cảm hoặc sự cảnh giác với các cảm giác cơ thể và một khuynh hướng diễn nghĩa các cảm giác cơ thể này theo kiểu bi thảm hóa vấn đề. Ví dụ, những cảm giác chóng mặt tạm thời có thể được diễn giải là do có một bướu máu trên não, hoặc u trên não. Ám ảnh sợ khoảng rộng (agoraphobia), một cách đặc hiệu, có thể bao gồm một nỗi sợ rằng bản thân không thể nhanh chóng đi đến được một “khu vực an toàn”, chẳng hạn như nhà của mình, khiến cho đương sự hầu như phải tránh né đi xe hơi, máy bay hoặc các phòng đông người – những nơi mà việc ‘trốn chạy’ này bị ngăn trở. Ngược lại, ám ảnh sợ chuyên biệt (specific phobia) thường liên quan một đối tượng chuyên biệt (như sợ một con chó lớn) hay một tình huống chuyên biệt (sợ nói trước đám đông). Rối loạn ám ảnh – cưỡng chế tiêu biểu bởi sợ những suy nghĩ hoặc hành vi đặc thù nào đó. Trong khi rối loạn lo âu lan tỏa (G.A.D – General Anxiety Disorder) liên quan đến một cảm nhận mơ hồ về tính mẫn cảm dễ bị thương tổn và một nỗi lo sợ các mối nguy hiểm về cơ thể hoặc về tâm lý của đương sự. Như đã nêu, khi cá nhân giáp mặt với tình thế, họ sẽ có nhiều sự lượng giá. Điều đầu tiên là “nguy cơ nào có thể xảy đến cho tôi trong tình huống này”. Kế tiếp là sự đánh giá các nguồn tiềm năng của bản thân hoặc của môi trường có thể sẵn có đối với đương sự. Nếu đương sự nhận thấy mình có thể đương đầu với nguy cơ, họ sẽ không lo âu. Các can thiệp nhận thức hướng về việc giảm đi tri giác đe dọa và làm tăng cường niềm tin của cá nhân trong khả năng đương đầu với tình thế. Tuy nhiên trước khi can thiệp, điều quan trọng là phải đánh giá được rằng mối đe dọa kia là ‘có thật’ hay không, cá nhân đương sự có thật sự thiếu khả năng đương đầu với tình thế hay không, và sự tri giác của thân chủ về việc thiếu nguồn lực hỗ trợ là có chính xác hay không.

Ví dụ: Một nữ sinh viên 18 tuổi đang làm một luận án tiến sĩ triết học than phiền là không có khả năng học môn ngoại ngữ cho kỳ thi sắp đến. Cô run rẩy vì lo lắng lúc bắt đầu thi cử và bật khóc khi miêu tả sự sợ hãi không vượt qua kỳ thi. Cô cảm thấy cuộc thi đã chứng tỏ rằng cô không thể hoàn thành bằng tiến sĩ và cô là một người vợ, người mẹ không xứng đáng. Những tư tưởng có tính bi thảm hóa xảy ra trong niềm tin là cô muốn ra sống ngoài đường phố và tùy thuộc vào người khác, nhưng không có ai ở ngoài đường cả. Khi được hỏi, có khi nào bị lo âu như thế trong quá khứ không, cô trả lời đã có trước khi đi thi. Khi được hỏi có khi nào bị thi hỏng không, cô cười và cô trả lời “Dĩ nhiên không, tôi chưa bao giờ đạt điểm B trong các kỳ thi, mà luôn luôn đạt điểm A”. Mặc dầu chúng ta không thể tiên đoán khả năng đậu kỳ thi của cô một cách chắc chắn, kinh nghiệm cuộc sống của cô cho thấy rằng sự tri giác về thiếu khả năng đương đầu của cô ta là ảo tưởng hơn là thực tế. Tuy nhiên, nếu có sự thiếu sót kỹ năng, các can thiệp hành vi sẽ là thích hợp và nên cố gắng phát triển năng lực và xúc tiến các nguồn lực nâng đỡ của xã hội. Các nét nhân cách tự lập hoặc lệ thuộc, thường ảnh hưởng đến cách thức mà mỗi cá nhân đương đầu với các tình huống gây lo âu. Các cá nhân có nhân cách độc lập thường phát triển tư thế hướng về mục đích và thích hành động trong khi các cá nhân có nhân cách lệ thuộc thường tìm kiếm sự nâng đỡ, an ủi và sự bảo vệ của người khác. Các đáp ứng bình thường với stress là chiến đấu, chạy trốn hoặc “đóng băng lại”. Những cá nhân có nhân cách độc lập thường tìm cách chính mình giải quyết vấn đề, họ ít khi tìm kiếm sự giúp đỡ một cách tự phát và không tìm đến sự trị liệu ngay. Họ thường miêu tả sự lo âu bằng các triệu chứng sinh lý mơ hồ và có thể cảm thấy “sập bẫy” và bị lấn quyền trong những phiên trị liệu. Nếu nhà trị liệu cố tạo ra một mối quan hệ gần gũi, nồng nhiệt với thân chủ tự lập, hoặc đưa ra các lời khuyên trực tiếp hay các bài tập làm ở nhà, điều này sẽ dễ khiến cho thân chủ lo lắng hơn và có thể bỏ cuộc trị liệu. Ngược lại, các thân chủ có nhân cách lệ thuộc sẵn sàng tới trị liệu nhiều lần. Họ cảm thấy sự lo âu làm cho họ bị tê liệt và tích cực tìm kiếm sự hướng dẫn và nâng đỡ của người khác. Họ có thể tìm đến sự trị liệu nhiều lần và có thể bận tâm về việc nếu họ không nói với nhà trị liệu mọi việc, khả năng giúp đỡ của nhà trị liệu sẽ bị tổn hại. Khi bị stress, những cá nhân lệ thuộc dễ có cảm giác trở nên yếu đuối vì cảm giác bị bỏ rơi. Họ thường theo lời khuyên của nhà trị liệu và cần làm mẫu trước khi áp dụng các bài tập ở nhà. Tuy nhiên, khuynh hướng chiếu theo quyền người khác của họ và tìm sự trấn an hay hướng dẫn của người khác có thể sẽ giới hạn khả năng ứng phó của họ với những vấn đề trong đời sống một cách độc lập. Vì thế, mục tiêu trị liệu cần phải khuyến khích họ nhận nhiều trách nhiệm hơn trong việc phát hiện các vấn đề và đưa ra những giải pháp khác. Không phải tất cả các phản ứng lo âu là giống nhau. Đúng hơn, các khuôn mẫu triệu chứng biến đổi tùy theo từng người. Cá nhân này có thể trải nghiệm các triệu chứng về cơ thể nhiều hơn như tim đập nhanh, khó thở, chóng mặt, ăn khó tiêu, do dự hoặc các triệu chứng bốc hỏa. Trong những trường hợp này cần ‘cá thể hóa’ sự trị liệu. Tuy nhiên, sự lo âu của một cá nhân khác có thể đặc trưng bởi nỗi lo sợ về ‘điều tệ hại nhất sẽ xảy ra’ và những suy nghĩ mất sự kiểm soát. Chương trình trị liệu của họ sẽ có phần nào khác nhau. Khi trị liệu những rối loạn lo âu, thật ích lợi nếu giữ trong đầu tính biến thiên này và tiếp cận mỗi triệu chứng một cách riêng biệt. Các rối loạn lo âu thường có tính hay phát triển bên trong gia đình. Các rối loạn hoảng sợ, ám ảnh – cưỡng chế, ám ảnh sợ và rối loạn lo âu lan tỏa là khá phổ biến trong số những anh chị em ruột hơn là trong số những bà con xa. Mặc dầu các nghiên cứu nhấn mạnh rằng các yếu tố di truyền có thể tham gia vào việc phát sinh các rối loạn này, song vai trò của các yếu tố môi trường và học tập xã hội cũng được chứng minh rõ ràng. Việc lượng giá lịch sử gia đình của thân chủ bị lo âu cũng có thể hữu ích vì nó có thể cung cấp cho chúng ta những thông tin, các kinh nghiệm đầu đời của thân chủ đã góp phần vào sự hình thành những niềm tin gây lo âu. Ngoài ra, nó có thể soi sáng các thách thức mà các thành viên khác trong gia đình đương đầu với các cảm giác lo âu, những đáp ứng đương đầu mà thân chủ đã học tập theo. Mục tiêu là nhằm đạt được sự hiểu biết về nguồn gốc của những niềm tin ẩn ngầm bên dưới của thân chủ và cách thức mà thân chủ đã học tập để quản lý các cảm giác này.

Cũng như các vấn đề quan trọng khác về mặt lâm sàng, việc trị liệu chứng lo âu bắt đầu bằng cách khái niệm hóa trường hợp một cách chi tiết và mạch lạc. Bằng một nhãn quan theo kiểu hiện tượng học, chúng ta tìm cách hiểu biết các suy nghĩ, cảm xúc và đáp ứng hành vi của các thân chủ khi họ đương đầu với các tình thế gây lo âu. Các câu hỏi được đặt ra như sau:

  • Thân chủ có trong tình trạng nguy hiểm thật sự, hay là sự đáp ứng của thân chủ đã trở nên quá mức với sự đe dọa? Nếu thân chủ đối đầu với một đe dọa thực sự, sự tái qui lỗi sẽ là một biện pháp không phù hợp.

  • Thân chủ đã dùng sự qui lỗi nào để gán cho nguyên nhân lo âu?

  • Thân chủ có đánh giá đúng khả năng của mình hay không, hay là nhà trị liệu có những quan điểm sai lệch về tính hiệu năng và sự thuần thục của cá nhân mình.

  • Thân chủ mong đợi gì về hành vi của mình và hành vi của người khác? Các mong đợi cho mình và (nhà trị liệu) có hợp lý không?

  • Các suy nghĩ tự động và sai lệch nhận thức đi theo sự lo âu là gì?

  • Các sơ đồ và giả thuyết duy trì sự lo âu của thân chủ là gì ?

  • Các kỹ năng hành vi nào cần thiết để ứng phó hiệu quả hơn? Thân chủ có thực hiện những hành vi kém thích ứng (ví dụ như tránh né, sử dụng ma tuý, tìm kiếm thái quá sự an ủi) có thể làm tăng cảm giác yếu đuối của mình hay không?

Việc xem xét các câu hỏi trên đây sẽ giúp nhà trị liệu hướng đến một chương trình trị liệu hiệu quả và có hệ thống hơn.

3. Các rối loạn nhân cách

Các rối loạn nhân cách ám chỉ tới các khuôn mẫu suy nghĩ, tri giác và các quan hệ tương tác cá nhân có tính chất kéo dài, không linh hoạt và kém thích ứng. Chúng có khuynh hướng xảy ra trong một loạt những tình huống và thường kèm theo nhiều phiền lụy sau đó. Thông thường, chúng gây tổn hại rất lớn trên các chức năng nghề nghiệp và xã hội. Rối loạn nhân cách khác với các vấn đề lâm sàng quan trọng khác như (trầm cảm hoặc rối loạn lo âu) ở chỗ chúng không thay đổi tho thời gian và không đặc trưng bởi các giai đoạn phiền muộn từng đợt.

Giống như những vấn đề đã được bàn luận, mỗi rối loạn nhân cách được mô tả như một hợp thành các nội dung và tiến trình nhận thức (Layden 1993). Sơ đồ của một thân chủ có nhân cách lệ thuộc được tiêu biểu bởi sơ đồ có hình thức “tôi là một người có tì vết hoặc không có khả năng” (bản thân) hoặc “thế giới là một chỗ nguy hiểm” (thế giới) hoặc gia đình “nếu tôi có thể duy trì quan hệ thân thiết với một người nâng đỡ, tôi có thể cảm thấy an tâm”. Do đó một người rối loạn nhân cách lệ thuộc luôn luôn tìm mối quan hệ với người khác, sợ mất mối quan hệ và cảm thấy thất vọng và lo âu khi mất sự ủng hộ của người khác.

Ngược lại, một thân chủ rối loạn nhân cách phân liệt, cũng cho rằng “thế giới là một chỗ nguy hiểm” (thế giới) nhưng đồng thời cho rằng “những người khác cũng nguy hiểm hay ác độc” và giả định “nếu tôi có thể tránh được các quan hệ thân thiết với người khác, tôi cảm thấy an toàn hơn”. Do đó, các đáp ứng cảm xúc và hành vi hoàn toàn khác biệt. Họ có khuynh hướng thờ ơ với sự khen ngợi hoặc chỉ trích của người khác, ít có bạn bè thân thiết và có cảm xúc xa vời với người khác. Như một thân chủ đã phát biểu “giấc mơ của tôi là học xong trường luật, như thế tôi có thể kiếm được nhiều tiền… rồi tôi sẽ mua một hòn đảo mà tôi sẽ không bao giờ bàn bạc với ai. Đó là lý tưởng của tôi”.

Những rối loạn nhân cách phản ảnh hoạt động của những sơ đồ và giả định kém thích ứng (Beck và cs., 1990; Freeman, 1999). Mặc dầu các sơ đồ này đã thích ứng trong hoàn cảnh mà từ đó nó đã được phát triển, từ lâu nó đã mất đi các giá trị chức năng. Vì những niềm tin nằm bên dưới rối loạn nhân cách là ngấm ngầm nên thường không được đem ra mổ xẻ. Do đó, các thân chủ có khuynh hướng không xem các tri kiến, suy nghĩ, hành vi của mình là có vấn đề, ít ra là trong lúc đầu. Các khó khăn của họ có tính cách ‘đẳng trương với cái ngã’ (ego-syntonic).

Họ cho rằng vấn đề là nằm ở người khác. Như trường họp người phụ nữ vừa nêu trên đã nói: ‘Tôi chỉ đang phát hiện ra vấn đề, ho phải thay đổi chúng’. Bà tin rằng hành vi của mình là thích ứng và hợp lý và rằng bà đang mang đến sự giúp đỡ cho người khác bằng cách nêu ra các khuyết điểm của họ. Bởi vì các khó khăn của họ là đẳng trương với cái ngã. Các thân chủ rối loạn nhân cách thường tìm đến nhà trị liệu là vì lý do trầm cảm, lo âu, giận dữ hoặc khó khăn trong công việc hay quan hệ. Điều quan trọng nên nhớ rằng các mục tiêu trị liệu thân chủ không được chia sẻ với người khác (gồm nhà trị liệu) nếu thân chủ không muốn làm nêu rõ các vấn đề cốt lõi của mình, việc trị liệu vẫn có hữu ích bằng cách cung cấp cho thân chủ các kỹ thuật để kiểm soát các cảm xúc trầm cảm hoặc lo âu và giúp cho thân chủ phát triển các quan hệ tin cậy. Mặc dầu tốn nhiều thời gian, phương pháp cởi mở dần dần những sơ đồ (schemata) thông qua sự khám phá có hướng dẫn và sự chứng minh rằng các sơ đồ là kém thích ứng, có thể dẫn đến kết quả hơn là sự đối đầu trực tiếp.

Trị liệu nhận thức đối với các rối loạn nhân cách khác với tâm lý trị liệu nhận thức ngắn hạn (short-term cognitive psychotherapy) vì nó cần thăm dò toàn diện hơn về nguồn gốc phát triển của các sơ đồ (phân tích phát triển) và khám xét các cách thức trong đó sơ đồ được thể hiện trong các quan hệ trị liệu. Tuy nhiên không giống như trị liệu tâm động học, nhà trị liệu nhận thức không cho phép phát triển quan hệ chuyển di tiêu cực (negative transference) như là một phương tiện, cho phép giải thích các xung năng thúc đẩy bên dưới hoặc diễn giải chức năng của cái Tôi. Sự phát triển mối quan hệ trầm cảm và giận dữ với nhà trị liệu sẽ làm tổn hại sự cọng tác trị liệu. Tốt hơn là nên tấn công vào các tri kiến, các trông đợi và những cách qui lỗi tiêu cực một cách trực tiếp. Mối quan hệ trị liệu được sử dụng như một bằng cớ rằng niềm tin nằm ẩn ngầm bên dưới là không có thật.

Ví dụ: một phụ nữ 39 tuổi tìm kiếm sự trị liệu vì luôn luôn cảm giác trầm cảm, lo âu và cảm giác trống rỗng. Trước đây bà đã lập gia đình nhiều lần và mối quan hệ hiện tại (với một người nghiện ma túy và nghiện rượu) vừa không thỏa mãn vừa bất ổn. Sau một cuộc trị liệu mạnh mẽ, bà đã mang một món quà quý báu đến cho nhà trị liệu. Khi được hỏi tại sao, bà đã nhận xét ‘bất cứ khi nào một người đàn ông làm một điều gì cho tôi, tôi cảm thấy tôi phải đáp lại nếu không ông ta sẽ rời bỏ tôi’. Bà kể rằng mình đã suy nghĩ nhiều về nhà trị liệu, sẽ nghĩ rằng mình đã được trị liệu xong, và phải đến hồi kết thúc. Trong tuần lễ trước đó, bà hay nằm mơ là người bạn tình sẽ rời bỏ mình. Khi nhà trị liệu hỏi bà cảm thấy thế nào nếu ông ta từ chối nhận quà. Bà bắt đầu bức xúc và khóc lóc. Lúc đó nhà trị liệu hỏi có điều gì ông đã nói hay làm để gợi ý rằng ông sẽ từ bỏ bà và chấm dứt việc trị liệu, bà đã xác nhận là không có. Nhà trị liệu nói như vậy là suy nghĩ từ đâu? Bà trả lời: không phải từ ông, mà từ khi tôi mới lớn lên. Cuộc trị liệu tiếp tục với sự thảo luận làm thế nào bà ta có thể nhận ra và đương đầu các phản ứng cảm xúc đặt nền tảng trên những sơ đồ tiềm ẩn của bà.

Mối quan hệ trị liệu đóng một vai trò quan trọng trong việc trị liệu các rối loạn nhân cách. Mối quan hệ trị liệu được sử dụng như một tiểu vũ trụ của các đáp ứng mà thân chủ thực hiện với người khác. Tính chất nhạy bén của mối quan hệ có ý nghĩa rằng nhà trị liệu phải rất thận trọng. Đối với thân chủ rối loạn nhân cách lệ thuộc chỉ cần trễ 2 phút chờ đợi cũng làm cho họ sợ bị bỏ rơi. Cần phải thảo luận trước về khung thời gian để trị liệu với các thân chủ ngay từ khi khởi sự trị liệu. Ví dụ, nhiều thân chủ có thể đã đọc về trị liệu nhận thức và mong đợi họ sẽ được trị liệu từ 10 đến 20 lần. Tuy nhiên, vì tính kinh niên và trầm trọng của khó khăn của họ cần phải có một thời gian lâu dài hơn. Mặc dầu thân chủ có thể mong đợi sự cải thiện một số triệu chứng trong thời gian ngắn hơn. Cần ít nhất một năm đến 20 tháng để nhận ra và thay đổi các niềm tin nằm bên dưới. Trị liệu nhận thức các rối loạn nhân cách là một lãnh vực phát triển rất nhanh cho nghiên cứu và lý thuyết lâm sàng. Mặc dầu ít công trình nghiên cứu thực nghiệm đã hoàn tất, kinh nghiệm lâm sàng của chúng ta gợi ý rằng mô hình trị liệu nhận thức cung cấp một phương tiện tinh tế để hiểu biết các kiểu cách suy nghĩ, cảm xúc và hành vi dai dẳng và làm thất bại bản thân. Giá trị tiềm tàng của trị liệu nhận thức để trị liệu các thân chủ đầy thách thức này là rất lớn lao, mặc dầu chưa được nhận biết được hết.

MỘT TRƯỜNG HỢP MINH HỌA

Những vấn đề đạt ra

LV 20 tuổi, đang sống chung với cha mẹ, trong thời gian được đưa đến để trị liệu nhận thức, Anh ta đang làm việc bán thời gian tại một nhà kho địa phương và vừa nghĩ học ở một trường đại học nổi tiếng.

LV hơi béo phì mức độ nhẹ, ăn mặc chỉnh tề, nhưng đầu tóc bù xù, dường như nhiều ngày không tắm, anh ta đi đứng nặng nề, nói năng rất khó nghe. Tránh tiếp xúc bằng mắt, nói dài dòng và lạc đề. Chẩn đóan lúc đưa đến trị liệu là rối loạn lưỡng cực – trầm cảm và rối loạn nhân cách tránh né.

Những vấn đề quan tâm hiện tại gồm có: Bệnh sử trầm cảm nặng, tự tử, cảm giác không có giá trị, lo âu xã hội, các đợt hưng cảm (giảm giấc ngủ, kích động, nói chuyện liên tục, tiêu tiền không hợp lý, hoang tưởng tự cao, hoạt động quá mức), kỹ năng xã hội nghèo nàn. Anh ta đã trị liêu phân tâm 4 lần mỗi tuần, trong nhiều năm và đã sử dụng một số thuốc. Mặc dầu những cơn hưng cảm được kiểm soát rất tốt bằng lithium (uống hằng ngày đều đặn) cảm giác trầm cảm vẫn tiếp tục xấu đi. LV đã được nhập viện 2 lần vì ý tưởng tự sát và bác sĩ tâm thần đã đề nghị đưa anh vào trị liệu nội trú do tình trạng đang xấu đi. Cha mẹ của anh muốn tham khảo thêm ý kiến thứ hai trước khi đưa con vào trị liệu nội trú lâu dài và họ cảm thấy rằng trị liệu nhận thức là “hy vọng cuối cùng”của họ.

Đánh Giá Đầu Tiên

Bệnh sử y khoa, xã hội, phát triển được ghi nhận đầy đủ và một loạt các trắc nghiệm khách quan được thực hiện để có một ý tưởng rõ ràng hơn về những vấn đề của anh ta. Số điểm của LV khi thực hiện BDI (Beck depresion inventory), BAI (Beck anxienty invenstory), HS (hopelessness inventory scale) lần lượt là 28, 51, 19.

Các điểm trên chứng tỏ thân chủ bị trầm cảm nặng, lo âu và bi quan. Các đáp ứng của thân chủ trên M.M.P.I (Bảng trắc nghiệm nhân cách đa pha Minnesota) mang lại kết quả trên profile 2- 8-7, tăng kèm theo các thang 3, 4, 10. Như vậy, các đáp ứng của thân chủ với các trắc nghiệm MMPI là tương tự với một người rất lo âu, trầm cảm, kích động, căng thẳng. LV có tính cách lệ thuộc và không khẳng định trong các quan hệ với người khác và không thể đáp ứng các thách đố của đời sống hằng ngày. Các đáp ứng của anh trên một số câu hỏi về những suy nghĩ tự động đã tiết lộ anh rất quan tâm về việc những người khác thích anh và anh cảm thấy khó khăn khi cô đơn một mình và không thể tránh né về việc suy nghĩ các lỗi lầm quá khứ của mình”.

Lịch Sử Của Thân chủ

LV là con trai thứ hai và lớn lên ở một vùng ngọai ô giàu có và đã theo học các lớp học đặc biệt. Mặc dầu đầu LV đã học rất tốt ở trường tiểu học nhưng các hoạt động xã hội và cảm xúc của anh ta rất tồi tệ. Anh cảm thấy bị đày đọa bởi cảm giác nghi ngờ chính mình, cảm giác vô giá trị và luôn luôn chỉ trích bản thân mình khi so sánh với những người khác mà anh tin đó là những “siêu sao”, còn mình thì rất ‘ngu ngốc và gian trá’. Khi được yêu cầu giải thích kỹ lưỡng, LV nhận xét rằng anh đã tốt nghiệp trung học với số điểm rất cao và cha của anh đã giúp viết nhiều bài thu hoạch cho anh. Trong khi lên đại học, anh ta bắt đầu thu hút. Anh ít khi tham dự lớp và trong một buổi thực tập chữa cháy, anh ở lại trong phòng của mình “hy vọng được chết trong đám cháy”. Sau nhiều tuần tuyệt vọng gọi điện cho cha mẹ và có những ý tưởng tự sát tăng dần, LV đã trở về nhà. Cha của anh ta lo lắng về ảnh hưởng của việc bỏ học ở đại học của con, đã soạn thảo một câu chuyện rất tỉ mỉ rằng LV cần về nhà thăm cha mẹ vì mẹ của anh đang có một cuộc giải phẫu não bộ. Khi anh ta trở về nhà, cha mẹ của anh rất bất mãn và không thể kể cho bất cứ ai trong gia đình và ngoài cộng đồng về việc này. Để bảo vệ điều bí mật này, bất cứ khi nào họ rời khỏi nhà, LV được yêu cầu nằm trên sàn của xe hơi, bao phủ bởi một tấm chăn.

Mặc dầu LV đã học hành rất tốt và cố gắng trở thành một “đứa con hoàn hảo”, anh ta phải đầu hàng bên trong với các cảm giác giận dữ, trầm cảm và kém năng lực. Anh ta báo cáo có lần anh trải nghiệm về những huyễn tưởng bạo dâm, tấn công trẻ con láng giềng và gợi lại việc anh đã gọi những cú điện thọai khiêu dâm cho một đứa trẻ 8 tuổi khi anh còn học ở trường trung học.

Khái niệm hóa nhận thức

Chứng trầm cảm và lo âu của LV được chồng chất trên một kiểu nhân cách cầu toàn và tự phê bình bản thân mình. Anh cảm thấy mình ở tiêu chuẩn thậm chí cao cả, vĩ đại của những việc làm của mình (ví dụ tin rằng mình cần đạt được giải Nobel văn chương) và báo trước rằng sẽ từ chối bất cứ ai muốn đến để tìm hiểu anh ta. Các niềm tin và hành động của anh đều tiêu biểu cho một người trầm cảm và rất đúng với mô hình nhận thức của trầm cảm. Các quan điểm tiêu cực về bản thân, thế giới xung quanh, và tương lai là rất rõ ràng trong tư tưởng của LV. Các kỹ năng xã hội của LV rất nghèo nàn và anh có khuynh hướng cư xử theo cách thức làm cho người khác xa lánh anh ta. Khả năng giải quyết vấn đề của LV phát triển rất nghèo nàn và anh rất ít tham gia các hoạt động có thể mang lại sự thành đạt và niềm vui. Khi làm được một việc gì, anh ta muốn giảm thiểu ý nghĩa sự thành đạt của mình và muốn kể lại các thất bại trong quá khứ. Anh ta có xu hướng đáp ứng với các cảm giác trầm cảm và lo âu thông qua sự ‘nhai lại’ và thu rút hơn là sự đương đầu một cách thích hợp. Tiếp theo các thông tin trên, người ta có thể khái niệm hóa các khó khăn của LV như sau đây:

Các chiến lược đương đầu (hành vi)

Tránh né hay thối lui

Tìm kiếm sự trấn an của người khác

Các lệch lạc của nhận thức

Tư tưởng nhị nguyên: Nếu tôi không đúng, Tôi phải sai lầm… Tôi không thể suy nghĩ đúng đắn.

Sự trừu tượng hóa chọn lọc:

Vd. tôi không cảm thấy thoải mái trong lớp học ngày đầu tiên, tôi không cảm thấy đúng… tôi biết điều đó, hãy chỉ nói với bạn tôi không bao giờ làm điều đó trong trường đại học.

Cá nhân hóa

Vd. mọi người đều ngồi ở các bàn khác trong quán ăn… điều này chứng tỏ không người nào thích tôi.

Các mệnh đề “nên”

Vd. Tôi nên thông minh hơn và làm nhiều hơn… Tôi phải…

Phóng đại hoặc làm giảm nhẹ

Vd. Tôi biết hắn đã gửi cho tôi một bức thư về việc rất thích lớp học của tôi, nhưng điều đó không có ý nghĩa… không đáng kể.

Bi thảm hóa

Vd. Tôi yếu kém trong cuộc sống, so sánh phê bình bản thân… Tôi không có khả năng.

Các suy nghĩ tự động

Vd. Mọi người tốt hơn tôi vì tôi không thể làm được ngay cả thổi một cái bong bóng.

Tôi rất ngu ngốc… Tôi là một gã ngớ ngẩn”

“Mọi người sẽ khám phá ra tôi là một gã giả mạo”

“Tôi sẽ không bao giờ thành công”

“Đời tôi vô nghĩa… Tôi không thể chia sẻ với ai”

“Tôi thật sự rất phiền nhiễu… Đầu óc tôi trống không”

Các giả định

“Nếu tôi có thể tránh né những người khác tôi sẽ cảm thấy an toàn hơn”

“Nếu tôi thành công, tôi có thể cảm thấy tốt về mình”

Sơ đồ (Schemata)

“Về cơ bản tôi rất thiếu sót” (bản thân)

“Thế giới này là một nơi nguy hiểm” (thế giới)

“Mọi người là không đáng tin cậy và không giúp gì được tôi”(mối quan hệ xã hội)

Tiến trình trị liệu

Mục tiêu đầu tiên trong việc trị liệu, là thiết lập sự tin cậy và quan hệ, viết ra bảng liệt kê các vấn đề và giáo dục LV về diễn tiến của trị liệu nhận thức. Trong những phiên trị liệu đầu tiên, LV luôn luôn tỏ ra buồn bã và lo âu. Anh có vẻ rất bi quan và liên tục tìm kiếm sự trấn an của nhà trị liệu rằng anh ta ‘ổn’. LV bày tỏ sự giận dữ rất nhiều về kết quả giới hạn của việc trị liệu phân tâm và sự bi quan về trị liệu nhận thức. Sau đó chúng tôi bắt đầu thảo luận về cảm tưởng của anh ta với nhà trị liệu, anh đã học gì trong trị liệu phân tâm và những mục đích của anh cho tương lai. Anh thừa nhận rằng mình đã phát triển được một số thấu hiểu những điều bí ẩn quan trọng trong việc trị liệu phân tâm và anh ta không biết nhiều về trị liệu nhận thức. LV nhận xét rằng anh ta chỉ muốn mình là một người bình thường trong trường đại học. Một mục tiêu thích hợp và hợp lý và đồng ý đọc một cuốn sách ngắn về trị liệu nhận thức trước khi vào phiên trị liệu lần tới. Bài tập làm ở nhà chính thức đầu tiên của anh ta là viết ra những tư tưởng của mình khi nào anh ta cảm thấy bức xúc trong tuần lễ. Bước đầu tiên là hoàn thành việc ghi chép những suy nghĩ không tốt lành ra trên giấy (Beck và cs., 1979). Những cảm giác buồn rầu lo âu và trở nên trầm trọng hơn khi anh ta thành thạo trong việc phát hiện các suy nghĩ tự động của mình. Điều này vẫn thường xảy ra và dường như phản ảnh sự nhạy cảm tăng dần của thân chủ đối với các suy nghĩ mà anh ta cố gắng tránh né. Kỹ thuật đáp ứng hợp lý được giới thiệu (Mullin, 1986) để giảm các cảm giác này. LV được yêu cầu viết ra những suy nghĩ khi anh cảm thấy đặc biệt trầm cảm hay lo âu. Sau đó anh sẽ xem xét một cách hệ thống những chứng cớ ủng hộ hoặc chống lại các suy nghĩ làm khó chịu (tranh luận hợp lý), liệt kê các cách suy nghĩ thay thế khác để quy kết lại (reattribution) và phát triển những cách thức ứng phó một cách thích ứng hơn đối với những bận tâm của mình (giải bi thảm hóa và tìm các giải pháp thay thế). Ví dụ, như đã nói trên LV cảm thấy mình là “một gã ngớ ngẩn, ngu dốt”. Kiểm tra ngắn gọn về lịch sử gần đây của LV cho thấy, mặc dầu đã chuyển đổi nhiều trường học, anh ta đã tốt nghiệp với điểm rất cao ở trung học, đạt số điểm 1.580 (trên 1.600 điểm) và anh cũng đã được nhận vào trường đại học Ivy league với chương trình danh dự. Tóm lại, các chứng cớ đều cho thấy anh ta không đần độn, ngược lại rất là thông minh. Một giải thích hợp lý và tỉ mỉ các trải nghiệm của LV cho thấy rằng anh ta thiếu tự tin vào khả năng của bản thân mặc dù có kết quả tốt trong thời gian ở trung học và anh đã không được chuẩn bị để đương đầu với nỗi lo lắng phải rời xa gia đình và cha mẹ của mình. Một mục tiêu của trị liệu là phát triển các kỹ năng để hoàn thành mục tiêu này.

Căn cứ vào sự thiếu động cơ và tình trạng cách ly xã hội, LV sau đó đã bắt đầu được khuyến khích phải hoàn thành những “chương trình hoạt động hằng ngày” (Beck và cs., 1979). Anh viết ra những hoạt động của mình mỗi giờ một lần và đánh giá các hoạt động này theo mức độ làm chủ hoặc cảm nhận về sự hoàn tất công việc cũng như mức độ vui sướng mà LV có được. Như có thể mong đợi, LV tham gia một số ít các hoạt đông đã cung cấp anh ta sự ý thức về giá trị, sự thành đạt, sự thưởng thức. Các thân chủ trầm cảm như LV thường tránh các công việc có tính thách thức và thường trải nghiệm sự khó khăn trong khi hoàn thành các công việc mà họ vốn có thể hoàn tất một cách dễ dàng trước khi bị trầm cảm. Những suy nghĩ như “Tôi không thể làm được điều đó và “mục đích để làm gì” ức chế họ tham gia các hoạt động mà từ đó có thể giúp họ có được cảm nhận về sự thành thạo và vui sướng. Hơn nữa, sự tránh né công việc cũng như khả năng thực thi bị giảm sút cũng sẽ tạo nên chứng cớ cho việc “có điều gì đó không ổn với tôi… Tôi không thể làm được điều đó”. Việc thiết lập chương trình hoạt động có thể trực tiếp đảo ngược các tiến trình tiêu cực trên. LV và nhà trị liệu đã phát triển một số bảng liệt kê các hoạt động đơn giản mà anh sẽ tìm cách thực hiện mỗi ngày. Ví dụ, động viên LV thức dậy lúc 10 giờ sáng và tắm nhanh (thay vì ngủ nướng trên giường đến chiều); gọi điện thoại cho một người bạn, chấp nhận lời mời của người bạn chơi bài và đi bơi ở một hồ bơi địa phương. Khi LV bắt đầu thực hành các hoạt động trên, cảm giác lo âu và buồn rầu bắt đầu giảm dần. Những thành quả đạt được phản ánh qua sự cải thiện số điểm trên các bảng lượng giá, chẳng hạn như trên bảng thang điểm trầm cảm số điểm từ 28 đã tuột xuống 9 điểm vào tuần trị liệu thứ 23. Số điểm trong lượng giá lo âu từ 51 giảm xuống còn 3 (lo âu không đáng kể) cùng thời gian trị liệu.

Nói theo kiểu Frend, những mục tiêu quan trọng của đời sống là “yêu thương và làm việc”. Với quan điểm này, chúng ta không chỉ hài lòng về các kết quả trên, mà còn mong tác động đến các vấn đề lớn hơn trong đời sống của LV như sự bất lực trong việc phát triển các quan hệ thân tình với người khác và khả năng sống độc lập với cha mẹ.

Các can thiệp hành vi (ví dụ trình bày cách tiếp xúc bằng mắt thích hợp và đóng vai các kỹ năng đàm thoại cơ bản) đã được giới thiệu để phát triển các kỹ năng xã hội của LV và cần thiết lập một hệ thống theo thứ bậc các hoạt động xã hội (bắt đầu bằng chơi bài với bạn bè và quyết định có một ‘cuộc hẹn’ với một phụ nữ). LV có thể tiến bộ thông qua một hệ thống thứ bậc các bài tập thực hiện trong nhiều tháng, nhưng có thể trải qua nhiều nỗi lo âu vào mỗi lần chuyển sang một giai đoạn mới. Các bài tập thư giãn, đáp ứng hợp lý, tưởng tượng có hướng dẫn, sắm vai trong các hoạt động đã có tác dụng hữu ích trong việc giúp đỡ LV phát triển các kỹ năng. Đồng thời, LV được khuyến khích xem xét các cách thức trở lại đại học. Vì anh ta rất lo âu về việc phải rời khỏi nhà (hai lần cố gắng sống độc lập vừa qua của anh ta đã kết thúc bằng việc nhập bệnh viện tâm thần), LV bắt đầu học lớp ban đêm ở đại học địa phương và anh ta rất thành công. Những khuynh hướng giảm thiểu các thành đạt của mình được bàn đến một cách trực tiếp trong quá trình trị liệu, cũng như hiệu quả các thành đạt này trên tính khí và lòng tự trọng của LV. Sau khoảng 6 tháng, LV bắt đầu bàn đến khả năng đăng ký học đại học trở lại. Sự sợ hãi của anh ta về một sự sụp đổ khác, cũng như sự không chắc chắn của anh ta về chuyên ngành và nghề nghiệp tương lai cũng trở thành mục tiêu của trị liệu. Một lần nữa, anh ta bắt đầu tìm kiếm sự trấn an từ nhà trị liệu rằng anh ta “ổn” (Ok). Điều này tạo nên một cơ hội xem xét các trải nghiệm đã góp phần hình thành và củng cố các sơ đồ nhận thức của LV và cách thức mà chúng thể hiện trong mối quan hệ trị liệu. Ví dụ, anh ta thường tìm sự trấn an và giúp đỡ của mẹ trong thời niên thiếu và những cố gắng của cha anh giúp anh làm các bài tập ở nhà thời trung học đã duy trì niềm tin của LV rằng anh thiếu khả năng và không thông minh. LV xác nhận sự trấn an (từ nhà trị liệu hay cha mẹ) giúp rất ít trong việc giảm nhẹ các cảm giác này và rằng việc tìm kiếm sự nâng đỡ đã loại trừ khả năng anh ta có thể tự mình giải quyết vấn đề. Các trải nghiệm trong thời niên thiếu của LV không tương ứng với những niềm tin được xem xét và LV được khuyến khích để trắc nghiệm lại giá trị hiện tại của những niềm tin bằng cách hoàn thành các công việc mà không tìm kiếm sự nâng đỡ hoặc sự trấn an.

Sau đó, LV được nhận vào học ở một trường đại học lớn cách nhà vài trăm dặm. Tuy nhiên, trước khi rời nhà để đi học, chúng tôi cảm thấy hữu ích cho anh nếu có được một trải nghiệm nhằm giúp anh tự tin rằng anh có thể sống một mình. Thay vì tiếp tục công việc ở nhà kho, anh đã đăng ký công việc làm một công nhân tăng cường ở một làng nhỏ. Trong 6 tuần lễ xa nhà, LV đã đương đầu với nhiều thách đố mà trước đây anh hẳn sẽ cảm thấy không thể vượt qua. Sau đó, anh về nhà với mái tóc mới dài hơn, đeo bông tai và có một ý thức mình là một cá nhân có thể giúp đỡ được người khác.

LV rời gia đình đi học đại học vài tuần sau đó. Sau một năm đầu tiên khó khăn, anh đã trở thành một chuyên viên tư vấn ở ký túc xá và các điểm số của anh bắt đầu ổn định. Các cuộc trị liệu tăng cường thêm một lần mỗi tháng. Việc trị liệu được kết thúc sau gần 3 năm. LV tốt nghiệp đại học, bắt đầu dạy trẻ em trong các thành phố ở một tiểu bang khác và được tốt nghiệp đại học. Mặc dầu anh vẫn còn cảm thấy lo lắng và tự chỉ trích, anh có thể hành xử một cách độc lập. Những thành quả đạt được qua việc trị liệu không chỉ phản ánh trên số điểm cải thiện trên thang điểm đánh giá khách quan mà còn trên chất lượng của cuộc sống. Các mục tiêu trị liệu không chỉ giới hạn trong việc giảm trầm cảm và lo âu mà còn đặt trọng tâm tác động lên trên những niềm tin tiềm ẩn và sự thiết lập cá tính của một người trưởng thành. Sự chia tay với cha mẹ để trở thành một cá thể độc lập, việc đi học trở lại, phát triển các mục tiêu nghề nghiệp, cùng với lĩnh hội các kỹ năng xã hội là những mục tiêu quan trọng.

Trường hợp này mô tả các can thiệp chiến lược được sử dụng để trị liệu các nan đề tâm lý trầm trọng và lâu dài. Việc trị liệu cá nhân này có nhiều mặt và bao gồm các tiếp cận nhận thức và hành vi theo truyền thống, cũng như các can thiệp tương tác cá nhân tập trung vào cách thức trong đó những niềm tin ẩn ngầm và các sơ đồ được thể hiện trong mối quan hệ trị liệu. Việc phát triển những kỹ năng giải quyết các vấn đề xã hội, đáp ứng hợp lý, tái huấn luyện khả năng quy kết (attributional retraining), phát triển các kỹ năng hành vi, cùng với việc phân tích sự phát triển các sơ đồ và giả định tiềm ẩn đều có vai trò quan trọng. Ngoại trừ ba phiên trị liệu với gia đình, cha mẹ của LV không nằm trong chương trình trị liệu. Điều này được bàn bạc rõ ràng với LV và mục tiêu của trị liệu là khuyến khích anh ta chấp nhận trách nhiệm trong việc trị liệu và hành xử một cách độc lập hơn.

KẾT LUẬN

Lợi ích của liệu pháp nhận thức trong trị liệu trầm cảm và lo âu đã được xác định rõ ràng. Nhiều thể lâm sàng của rối loạn trầm cảm và lo âu đã được đề nghị và tạo được nhiều quan tâm trong thực hành. Tuy nhiên, các nghiên cứu có đối chứng về hiệu năng của trị liệu nhận thức trong các vấn đề lâm sàng quan trọng khác cần phải tiếp tục thực hiện. Ngoài ra, các tiến trình tạo động lực cho sự thay đổi trong quá trình trị liệu vẫn chưa được hiểu thấu đáo. Ví dụ các kỹ thuật nhận thức và hành vi đặc thù nào có liên quan gần gũi nhất với sự cải thiện về mặt lâm sàng. Các biến thể (variants) về tính hợp lý và tính kiến tạo của trị liệu nhận thức có khác biệt về hiệu năng trong trị liệu các rối loạn đặc hiệu hay không? Điều gì làm nên sự thay đổi của thân chủ trong tiến trình trị liệu? Các mô hình nhận thức của tâm bệnh lý đề xuất rằng những thay đổi nên được làm rõ trong khi xuất hiện các suy nghĩ tự động kém hiệu quả và sự lệch lạc nhận thức kém thích nghi; đồng thời những thay đổi trong sơ đồ nhận thức cũng nên có được khả năng tiên liệu việc giảm thiểu nguy cơ tái phát. Những thay đổi này có được chứng minh không? Cảm xúc và diễn xuất hành vi có vai trò gì trong sự cải thiện kết quả trị liệu? Đây là những câu hỏi thúc bách và nếu có lời giải đáp thì chúng sẽ được sử dụng như là một động lực để tinh luyện thêm mô hình trị liệu nhận thức. Trị liệu nhận thức được xem là một tiếp cận phức tạp và tinh vi của tâm lý trị liệu đặt nền tảng trên một sự thật đơn giản là hành vi và cảm xúc bắt nguồn từ những cách thức suy nghĩ kém thích ứng. Khi nhìn lại 30 năm phát triển lý thuyết và thực hành trị liệu nhận thức, Beck (1991) nhận định “trị liệu nhận thức không còn non kém nữa mà đã chứng tỏ khả năng bay cao bay xa bởi năng lực của chính mình, nhưng bay được bao xa thì còn phải chờ xem”.

‘Cỏ Mỹ’ nguy hiểm hơn cần sa đang ‘hút’ giới trẻ

http://cand.com.vn/

‘Cỏ Mỹ’ nguy hiểm hơn cần sa đang ‘hút’ giới trẻ

 

TỪ “PHÊ” THÀNH ĐIÊN

tuoitre.vn

TỪ "PHÊ" THÀNH ĐIÊN

TT – Ma túy tổng hợp đang đẩy không ít bạn trẻ vào bệnh viện tâm thần vì rối loạn tâm thần tức thời ngay sau khi sử dụng. Nguyễn Khắc H. (26 tuổi, Hà Nội) đã điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội gần hai tháng.

Khoảng một năm trước, H. được đưa vào đây trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.

Từ  "phê" thành điên Phóng to
Bác sĩ thăm khám cho Nguyễn Khắc H.- người đã hai lần nhập viện tâm thần do dùng ma túy tổng hợp – Ảnh: Ngọc Hà

Vì sao?

Sau khi hít ma túy đá, H. chìm trong ảo giác kỳ lạ, tưởng mình là chim nên cứ thế bật tung cửa bancông trên tầng ba rồi… nhảy xuống đất. May mắn, kết quả cú nhảy bất thường chỉ là hai gót chân bị gãy giập. Nhưng ra viện, cai được vài tháng H. lại “phập” vào đường cũ. Bạn bè dùng ma túy để thức liên tục vài ngày không ngủ, “chơi tới bến” đủ thứ như cờ bạc, nhảy nhót thâu đêm, còn H. chỉ dùng cùng vợ. “Nó đem lại cho cả hai vợ chồng hưng phấn đặc biệt”, H. không giấu giếm. Theo H., nhiều cặp vợ chồng trẻ, mới cưới như H. rất ưa dùng ma túy tổng hợp để phục vụ chuyện “riêng tư”. “Nhưng chỉ được một thời gian” – H. bộc bạch.

Không đơn giản dùng ma túy để khoe độ chơi như nhiều người nghĩ, nhiều bạn trẻ như H. đang lặng lẽ chơi thứ hàng chết người này để thỏa mãn “bản lĩnh giới tính”. H. lý giải đó là lý do cậu không phải thành phần hư hỏng, đã tốt nghiệp đại học, có công ăn việc làm tử tế, còn vợ cũng là trưởng phòng một công ty du lịch, cả hai đã có con, có nhà riêng mà vẫn tìm đến ma túy đá. Theo H., dù chơi rất hạn chế, nhưng hơn một năm hai vợ chồng cũng chi hết 400-500 triệu đồng để “đập đá”.

Thống kê tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội cho thấy cả năm 2010 chỉ có chín bệnh nhân nhập viện thì năm 2011 số bệnh nhân tăng hơn 10 lần, lên đến 93 người. Riêng ba tháng đầu năm 2012, nguyên số bệnh nhân ra viện sau điều trị bệnh lý này đã là 15 người. Bệnh nhân gia tăng, phác đồ điều trị chưa có, đặc điểm bệnh lý nhiều nét đặc thù… buộc bệnh viện đang gấp rút xây dựng một đề tài nghiên cứu về những rối loạn tâm thần do sử dụng Amphetamine và dẫn xuất.

H. chỉ là một trong nhiều bệnh nhân tâm thần vì ma túy tổng hợp đang điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Hà Nội. Sự gia tăng của dạng bệnh này khiến khoa H. – khoa điều trị nghiện chất – trở nên quá tải. Hơn 50 giường bệnh của khoa luôn tiếp nhận điều trị trên 60 bệnh nhân.

Bác sĩ Lý Trần Tình – giám đốc Bệnh viện Tâm thần Hà Nội – khẳng định xã hội vẫn dồn lo lắng vào tình trạng nghiện heroin, nhưng gần đây các hệ lụy từ nghiện các loại ma túy tổng hợp dạng Amphetamine và dẫn xuất (như “ma túy đá”, thuốc lắc Ecstasy…) mới là vấn đề đáng báo động. “Nhiều người dùng ma túy tổng hợp còn tìm cách thỏa mãn hưng phấn bằng cách sinh hoạt tình dục bừa bãi, thậm chí sinh hoạt tình dục tập thể” – bác sĩ Tình nói.

Bệnh nhân trí thức

Theo bác sĩ Tình, ma túy có thể chia làm các nhóm chất gây nghiện: chất dạng thuốc phiện; các chất kích thần nhóm Amphetamine, Methamphetamine, Ecstasy; các chất yên dịu gây ảo giác. Trong đó nhóm chất Amphetamine và các dẫn xuất (hay còn gọi là ma túy tổng hợp) đang trở thành nỗi ám ảnh của bác sĩ chuyên ngành tâm thần. Bệnh nhân chịu những rối loạn về thần kinh thường biểu hiện tức thời sau khi sử dụng.

“Biểu hiện phổ biến là nói nhiều, tự cao, đa nghi và kích động, tăng ham muốn tình dục, tăng nhạy cảm với ánh sáng, âm thanh. Khi sử dụng liều cao, bệnh nhân dễ rơi vào trạng thái loạn thần như hoang tưởng, ảo giác” – bác sĩ Tình phân tích. Bệnh nhân không chỉ nằm ở nhóm “thanh niên hư hỏng” như thường thấy ở người nghiện thuốc phiện, tại các đô thị lớn người nghiện ma túy tổng hợp đang xuất hiện nhiều hơn ở giới công chức, những người có trình độ, tốt nghiệp các trường đại học lớn…

Gia đình có thể phát hiện sớm người thân mình sử dụng ma túy tổng hợp qua các biểu hiện dễ thấy như: không ngủ 3-7 ngày liên tục, nhạy cảm với âm thanh, tiếng ồn, có các hoạt động thể chất liên tục (liên tục vặn vẹo hoặc đan các ngón tay vào nhau, tháo lắp sửa chữa đồ vật, đứng ngồi không yên)…

Bác sĩ Nguyễn Quang Bính – trưởng khoa H Bệnh viện Tâm thần Hà Nội – cho biết hiện vẫn chưa có phác đồ điều trị cụ thể cho bệnh nhân nghiện ma túy tổng hợp, mà chỉ điều trị trên những triệu chứng riêng lẻ. “Nguy hiểm là nhóm chất kích thích, thuốc lắc này thường gây ảo giác mạnh, có thể khiến người dùng gây tội ác ngay sau khi sử dụng. Có đến 48% người nghiện ma túy “có vấn đề” với pháp luật chính là những người nghiện Amphetamine” – bác sĩ Bính nói.

 

40 BÁNH HEROIN CÙNG NHIỀU VŨ KHÍ NÓNG BỊ THU GIỮ

vnexpress.net

40 BÁNH HEROIN CÙNG NHIỀU VŨ KHÍ NÓNG BỊ THU GIỮ

Công an Nghệ An phối hợp với nhiều đơn vị phá đường dây ma túy, bắt 3 người, thu giữ lượng lớn heroin cùng nhiều vũ khí nóng.

Chiều 17/7, công an tỉnh Nghệ An cho biết, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm ma túy (PC47) phối hợp với công an tỉnh Ninh Thuận, Bộ đội Biên phòng Hà Tĩnh bắt 3 người, thu giữ 40 bánh heroin, 2 khẩu súng ngắn, một quả lựu đạn, hàng chục viên đạn cùng lượng lớn tiền.

Đây là đường dây vận chuyển ma túy từ nước ngoài vào Nghệ An rồi đưa đi tiêu thụ ở phía Nam được Phòng PC 47 theo dõi từ nhiều ngày trước đó.

hieu-5863-1405614722.jpg

Nguyễn Hiếu Song cùng tang vật 40 bánh lúc bị bắt. Ảnh: B.P

Rạng sáng 15/7, tại địa bàn Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận, lực lượng chức năng phối hợp với cảnh sát địa phương mật phục bắt giữ Nguyễn Hiếu Song (45 tuổi), trú tại phường Quán Bàu, thành phố Vinh (Nghệ An) đang vận chuyển 40 bánh heroin trên đường từ Nghệ An vào miền Nam. Khám nhà riêng của Song, cảnh sát thu một số ngoại tệ và điện thoại di động.

Cùng ngày, cảnh sát bắt Nguyễn Văn Tuấn (43 tuổi) có biệt danh "Tuấn Lay", trú tại thành phố Vinh, được xem là mắt xích quan trọng của đường dây này. Khám nhà của "Tuấn Lay", cảnh sát thu 2 khẩu súng Colt 45, một quả lựu đạn, hàng chục viên đạn, một ôtô cùng 200 triệu đồng, ngoại tệ cùng tài liệu liên quan đến ma túy.

Lực lượng chức năng bắt tiếp một "mắt xích" khác tên Dũng (48 tuổi) trú tại TP HCM.

ma-tuy-40-7587-1405614722.jpg

Tang vật vụ án. Ảnh: B.P

Khai với nhà chức trách, cả 3 người này thừa nhận hành vi phạm tội. Chúng cho biết vận chuyển ma túy từ Nghệ An vào TP HCM để tiêu thụ.

Cảnh sát đang tiếp tục mở rộng vụ án và làm rõ vai trò của các đối tượng và số lượng ma túy những lần mà nhóm này vận chuyển thành công.

Văn Hải

Người chuyên “SĂN” trùm ma túy

logo-antd.jpg - 28.16 kb

Người chuyên “SĂN” trùm ma túy

ANTĐ -Lần đầu gặp Vũ Đình Thi, ít ai nghĩ chàng Đại úy có nước da nâu rám nắng, khuôn mặt tròn bầu bĩnh với nụ cười lành như đất này lại là khắc tinh của những trùm ma túy địa bàn Tây Bắc. Anh vừa vinh dự được chọn là 1 trong trong 20 cán bộ chiến sĩ của toàn ngành Công an nhận danh hiệu Thanh niên Công an tiêu biểu năm 2014. Trở lại với công việc sau buổi lễ tuyên dương, Ðại úy Vũ Đình Thi lại quăng mình vào những nhiệm vụ đầy vất vả và nguy hiểm. Chúng tôi gặp anh sau khi vừa trở về trong một chuyến đi dài để phục vụ cho công việc. Anh tâm sự rằng: Với người lính ma túy, cứ mỗi lần thêm một đường dây ma túy bị triệt phá là thêm một mầm ác cho xã hội bị loại trừ.

Những chiến công thầm lặng

Nếu nhìn vào bảng thành tích của Đại úy Vũ Đình Thi một điều có thể dễ dàng nhận thấy đó là những chuyên án nối dài những chuyên án. Dù chỉ mới hơn 4 năm gắn bó với lực lượng Cảnh sát phòng chống tội phạm về ma túy nhưng Ðại úy Vũ Đình Thi đã là một trinh sát “cứng” trong nghề. 

Đã có hàng chục chuyên án lớn nhỏ thành công có dấu ấn và sự tham gia của chàng trai gốc Nam Định này. Chỉ tính riêng trong năm 2014, Ðại úy Vũ Đình Thi đã trực tiếp phát hiện 4 chuyên án mua bán, vận chuyên trái phép chất ma túy từ nước ngoài vào Việt Nam và từ Việt Nam đưa đi nước khác tiêu thụ, bắt giữ và khởi tố hơn 10 đối tượng thu giữ 88 bánh heroin và 1 kg ma túy tổng hợp dạng đá cùng nhiều phương tiện, tài liệu có liên quan đến hoạt động phạm tội ma túy để phục vụ quá trình điều tra mở rộng vụ án. 

Chuyên án bắt giữ đối tượng Sình A Lầu là một dấu ấn đáng nhớ đối với Đại úy Vũ Đình Thi trong năm vừa qua. Bằng công tác nghiệp vụ, Đại úy Vũ Đình Thi đã phát hiện có một nhóm đối tượng hoạt động vận chuyển heroin từ Lào vào Việt Nam đi Trung Quốc tiêu thụ. Nhận định đây là một đường dây hoạt động mua bán, vận chuyển ma túy với số lượng lớn, Đại úy Vũ Đình Thi đã đề xuất lãnh đạo phòng, báo cáo lãnh đạo Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về ma túy xác lập chuyên án để tổ chức đấu tranh triệt phá. 

Ngay sau khi xác lập chuyên án, Ðại úy Vũ Đình Thi đã trực tiếp tiếp cận, xác minh và nắm được đối tượng chính của chuyên án là Sình A Lầu (SN 1986) trú tại xã Na Ý, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. Sình A Lầu chính là đối tượng bị truy nã của Công an TP Hà Nội. Năm 2009, y tham gia một đường dây vận chuyển 3 bánh heroin từ Điện Biên về Hà Nội thì bị Công an TP Hà Nội triệt phá và bắt hụt, sau đó hắn đã bỏ trốn sang Lào. 

Dù bị truy nã song Sình A Lâu vẫn buôn bán ma túy về Việt Nam, đi đâu hắn cũng trang bị vũ khí nóng trong người và sẵn sàng chống trả lực lượng chức năng khi bị phát hiện và vây bắt. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, để làm rõ số lượng các đối tượng tham gia trong đường dây cũng như vai trò của từng đối tượng, Đại úy Vũ Đình Thi đã trực tiếp đi nhiều địa bàn thu thập thông tin về quy luật, phương thức hoạt động của đường dây này và báo cáo cho Ban chuyên án để xây dựng kế hoạch phá án, cũng như chọn địa điểm mai phục để bắt giữ các đối tượng một cách an toàn. 

Với những tài liệu trinh sát nội tuyến hết sức quý giá của Thi, ngày 29-3-2014, lực lượng trinh sát của phòng 5 Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về ma túy đã phối hợp với các đơn vị nghiệp vụ khác phá án thành công, bắt giữ được 3 đối tượng (trong đó có Sình A Lầu) và thu giữ 60 bánh heroin. 

Chỉ cách thời điểm phá vụ án trên không lâu, Ðại úy Vũ Đình Thi lại tiếp tục cùng đồng đội lập chiến công lớn khác khi triệt phá đường dây ma túy từ Lào vào nội địa  Việt Nam để tiêu thụ do đối tượng Khà A Dếnh (SN 1976), trú tại Hang Kia – Mai Châu – Hòa Bình cầm đầu. Khà A Dếnh vốn là giáo viên tiểu học, tuy nhiên đã bị lợi nhuận từ việc buôn bán ma túy làm cho mờ mắt. Dếnh đã tổ chức và cầm đầu một đường dây ma túy chuyên nghiệp gồm nhiều đối tượng.

Chúng thường lợi dụng mối quan hệ thân tộc câu kết với các đối tượng sinh sống ở khu vực giáp biên giới Việt – Lào để vận chuyển ma túy với số lượng lớn từ Lào vào Việt Nam. Sau khi tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, điều tra xác minh làm rõ về hoạt động của đường dây Khà A Dếnh, Đại úy Vũ Đình Thi đã báo cáo lên lãnh đạo Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về ma túy đề nghị cho xác lập chuyên án đấu tranh. Kết quả, ngày 12-7-2014, tại Km 145, Quốc lộ 6 thuộc địa phận xã Tân Sơn, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình, ban chuyên án đã phá thành công, bắt 2 đối tượng, thu giữ 25 bánh heroin.

Các đối tượng trong chuyên án của Đại úy Vũ Đình Thi

Một mình trong hang sói

Là một trinh sát nội tuyến, công việc của Đại úy Vũ Đình Thi luôn thầm lặng và gắn liền với sự vất vả, hy sinh. Bằng cách này hay cách khác, Đại úy Vũ Đình Thi luôn phải hóa thân thành những đối tượng buôn ma túy để thâm nhập vào đường dây ma túy tìm ra đối tượng cầm đầu đồng thời lên phương án đấu tranh triệt phá. 

Anh tâm sự, không một chuyên án nào mà anh tham gia, các đối tượng lại không được trang bị vũ khí nóng và sẵn sàng nhả đạn mỗi khi gặp nguy hiểm. Đối mặt với những ông trùm ma túy mưu mô xảo quyệt không chỉ đòi hỏi ở người trinh sát sự nhanh nhẹn, khéo léo mà còn phải có một bản lĩnh và ý chí thép. 

Sự nguy hiểm luôn rình rập xung quanh người Đại úy sinh năm 1981 này bất kỳ lúc nào, có những lúc anh phải đối mặt với sự sống và cái chết trong những tình huống không thể ngờ tới. Đại úy Vũ Đình Thi vẫn còn nhớ vào năm 2012 trong một lần vào vai một ông trùm ma túy ở dưới xuôi lên Yên Bái để đi tìm nguồn hàng tiêu thụ. Theo sự phân công, anh phải thâm nhập được vào hang ổ của trùm ma túy để nắm địa bàn, quy luật hoạt động cũng như nguồn hàng của đối tượng. 

Dày công lên phương án tiếp cận, cuối cùng anh cũng gặp được đối tượng đứng đầu và được đối tượng đồng ý cho đi xem hàng. Tuy nhiên khi vừa ở kho hàng của đối tượng ra, bất ngờ tên trùm dẫn Đại úy Vũ Đình Thi tới một khu đến trống rồi lên đạn khẩu súng ngắn dí thẳng vào đầu anh. Cùng lúc đó, các đệ tử của hắn cũng lăm lăm súng chĩa thẳng vào người vị khách lạ với ý định thủ tiêu ngay khi nhận được lệnh của kẻ đứng đầu. 

Người cha của hai đứa con tâm sự rằng, rơi vào tình huống như vậy lúc đầu anh cũng cảm thấy chột dạ, nhưng rồi anh tự nhủ trong đầu rằng chắc chắn đối tượng này đang có ý định thử thách và quan sát thái độ của mình. Nếu thấy người bị đe dọa yếu bóng vía, lộ thân phận giả của mình thì chúng sẽ ngay lập tức hành động. 

Rất nhanh sau đó, Đại úy Vũ Đình Thi đã lấy lại được bình tĩnh và nghĩ mình phải đánh bạt được tâm lý nghi ngờ của đối tượng. Anh ra đòn phủ đầu bằng giọng thách thức: “Bọn tao lên đây làm ăn, mua bán đàng hoàng. Làm ăn như bọn mày thế này ai còn dám lên đây mua hàng của chúng mày nữa. 

Nếu bọn mày nghi tao là người của công an thì cứ bắn đi…”. Trước thái độ điềm tĩnh và vẻ mặt có phần rắn của vị khách này, các đối tượng đã thay đổi thái độ và hạ giọng xin lỗi khách mua hàng. Sau buổi hôm đó, nhờ lấy được lòng tin của đối tượng cầm đầu, Đại úy Vũ Đình Thi cùng đồng đội đã thu thập được thông tin quan trọng phục vụ việc phá án thành công. 

Các đường dây tội phạm ma túy mà Đại úy Vũ Đình Thi cùng đồng đội triệt phá luôn được tổ chức chặt chẽ với sự tham gia của nhiều đối tượng Do xác định trước mức án mà mình sẽ phải chịu lên bọn chúng thường hết sức manh động, sẵn sàng chống trả lực lượng công an với tư tưởng thoát được là sống. Khi đã hóa trang vào vai diễn và một mình tiếp cận với các đối tượng buôn bán ma túy, Đại úy Vũ Đình Thi luôn phải đối diện với những sự nguy hiểm từ những ông trùm lỳ lợm. 

Trong lúc chờ sự tiếp cận, hỗ trợ của đồng đội đòi hỏi những trinh sát nội tuyến như anh phải có sự xử lý chính xác tuyệt đối với những tình huống bất ngờ. Trong một chuyên án mà anh tham gia ở địa bàn Sơn La. Trong khi anh đang “đàm phán” với kẻ cầm đầu đường dây để tạo thời cơ cho tổ công tác ập vào bắt giữ thì có một tình huống ngoài dự đoán đã xảy ra. Tổ phục kích của lực lượng truy bắt vô tình bị lộ vị trí và đã bị các đối tượng “chim lợn” hô hoán cho kẻ cầm đầu bỏ chạy. 

Các đối tượng khác lập tức nổ súng về phía tổ công tác. Lúc này không chần chừ với kinh nghiệm và bản lĩnh của mình, Đại úy Vũ Đình Thi đã hỗ trợ đồng đội quật ngã được 2 đối tượng thu được toàn bộ số heroin mà chúng mang theo. 

Trong mỗi chuyên án mà Đại úy Vũ Đình Thi tham gia đều có những tình huống, diễn biến khác nhau, đòi hỏi sự ứng biến linh hoạt trên cơ sở những phương án đấu tranh đã được lãnh đạo duyệt. Có những chuyên án, khi anh nhập vai để thâm nhập vào hang ổ của một đường dây buôn bán heroin. Do đối tượng này nhiều lần bị những kẻ mua hàng dưới xuôi cho ăn quả đắng trong lúc giao dịch bằng cách vờ hô hoán có công an rồi cướp hàng nên chúng tỏ ra rất thận trọng. 

Khi Đại úy Vũ Đình Thi cùng một trinh sát khác tiếp cận đường dây này, đối tượng yêu cầu phải đi theo vào rừng để xem hàng, nhưng mục đích là giữ anh ở đó làm con tin, khi nào giao dịch xong sẽ thả người ra. Khi phát hiện ra mục đích của đối tượng, Đại úy Vũ Đình Thi đã phải khéo léo tìm cách thoát ra để chờ một dịp khác mà không gây nghi ngờ cho kẻ cầm đầu. 

Hay như một lần anh cùng đồng dội giăng bẫy một trùm ma túy để giao dịch 39 bánh heroin. Giờ phá án sắp đến thì anh phát hiện khu rừng già phía sau đối tượng có gần chục ánh đèn pin nhấp nháy, nhiều khả năng là đồng bọn trong đường dây đang phục kích. Trong khi đó từ chỗ lực lực lượng hỗ trợ đến địa điểm giao hàng phải di chuyển chừng 7 đến 10 phút. 

Nếu quyết tâm phá án thì chắc chắn sẽ khó tránh khỏi những thiệt hại cho lực lượng truy bắt. Trong tình huống ấy anh buộc phải thông tin cho cấp trên tạm dừng chuyên án rồi đánh lạc hướng đối tượng để rút lui. Sau đó, trong một chuyên án khác, khi đã đảm bảo đầy đủ yếu tố an toàn, đối tượng đã bị bắt gọn.

Hiện đang là Phó đội trưởng của Phòng đấu tranh tội phạm có tổ chức và yếu tố nước ngoài thuộc Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về ma túy – Bộ Công an, với sự đam mê, nhiệt huyết trong công việc và sẵn sàng thử thách mình ở những nơi gian khổ, vất vả nhất Đại úy Vũ Đình Thi luôn nhận được sự tin tưởng, quý trọng của đồng đội. 

Với những thành tích trong công tác đấu tranh chống tội phạm ma túy anh đã đã Chủ tịch Nước tặng thưởng Huân chương Chiến công Hạng Ba. Tuy nhiên anh luôn tâm niệm một điều, phần thưởng lớn nhất sau mỗi chiến công của anh và đồng đội đó là nhổ được thêm nhiều những mầm ác mang lại sự bình yên cho xã hội.  

TÁC HẠI CỦA CÁC THUỐC HƯỚNG THẦN (GÂY YÊN DỊU, GÂY NGỦ VÀ GIẢI LO ÂU)

TÁC HẠI CỦA CÁC THUỐC HƯỚNG THẦN (GÂY YÊN DỊU, GÂY NGỦ VÀ GIẢI LO ÂU)

Bác sĩ Chuyên khoa II, thầy thuốc ưu tú Nguyễn Minh Tuấn

Các thuốc gây êm dịu có tác dụng làm giảm căng thẳng và làm yên dịu tâm thần. Thuật ngữ gây yên dịu đồng nghĩa với thuật ngữ giải lo âu.

Các thuốc gây ngủ được sử dụng để gây ngủ.

Các thuốc gây yên dịu và giải lo âu là thuốc được dùng ban ngày còn thuốc ngủ được dùng ban đêm. Khi các thuốc gây yên dịu và giải lo âu được dùng ở liều cao chúng có thể gây ngủ như các thuốc gây ngủ. Ngược lại, khi các thuốc gây ngủ được dùng ở liều thấp chúng có thể gây yên dịu ban ngày, giống như các thuốc gây yên dịu và giải lo âu.

Các thuốc gây yên dịu và giải lo âu bao gồm benzodiazepine (Diazepam. Seduxem, Clorazepate, Alprazolam, Bromazepam, Clonazepam, Zolpidem…), họ meprobamate, họ piperazine (Atarax), họ benzoxazine (Stresam), họ azaspirodecadiones (Buspirone), họ cyclopyrolones (Zopiclone)…

Các thuốc gây ngủ bao gồm barbiturate và các chất tương tự barbiturate, một số benzodiazepnine (zolpidem: Stilnox; flunitrazepam: Rohypnol, nitrazepam: Mogadon)…

Ngoài ra các thuốc này còn có chỉ định khác (ngoài tâm thần) như chống động kinh, chống co giật, giãn cơ, gây mê và kết hợp trong gây mê.

Toàn bộ các thuốc này đều có dung nạp chéo với rượu và gây nghiện, gây tăng liều và gây hội chứng cai về cơ thể và tâm thần.

A. Dịch tễ

Theo DSM IV, ở Mỹ, khoảng 1/4-1/3 toàn bộ các chất nào có liên quan tới các trường hợp cấp cứu do lạm dụng chất. Tỉ lệ sử dụng các chất này giữa nữ và nam là 3/1. Benzodiazepine thường bị lạm dụng một mình nhưng những người nghiện cocaine cũng thường sử dụng benzodiazepine để giảm hội chứng cai. Còn nhừng người lạm dụng các chất dạng thuốc phiện sử dụng chúng để tăng hiệu quả khoái cảm của các chất dạng thuốc phiện. Những người lạm dụng amphetamine để giảm lo âu do các chất đó gây ra.

Ở Pháp, những người tuổi từ 18-75, sử dụng thường xuyên các thuốc hướng thần là 9%, trong đó nữ là 12% và nam là 6% (EROPP 2002, OFDT). Và ở lứa tuổi 17-18 là 2,9% trong dó nữ là 4,7% và nam là 1,3%.

B. Đặc điểm dược lý

Benzodiazepines, Barbiturates và các chất giống barbiturates có hiệu quả trước tiên trên phúc hợp receptor gama-amino-butyric acid (GABA) loại A (GABAA), các receptor này bao gồm kênh ion Clo gắn vào điểm GABA và cũng đã được xác định gắn vào các điểm tiếp nhận benzodiazepines. Khi các chất benzodiazepines, barbiturates hoặc các chất dạng barbiturates gắn vào các phức hợp receptor này, hiệu quả là làm tăng ái lực của receptor với các chất trung gian hóa học nội sinh của nó (GABA), và tăng lưu lượng ion Clo vào kênh neuron. Hiệu quả của sự tràn ngập ion Clo âm đi vào neuron dẫn đến sự ức chế, dẫn đến tăng phân cực các neuron tiếp theo đi ra ngoài tế bào.

Mặc dù tất cả các thuốc hướng thần nếu trên gây dung nạp và phụ thuộc vào cơ thể, cơ chế đằng sau các tác dụng này đã được hiểu rõ đối với benzodiazepines. Sau một thời gian sử dụng benzodiazepines kéo dài, có một sự giảm sút các hiệu quả của receptor gây ra bới sự đồng vận. Đặc biệt sau giai đoạn sử dụng benzodiazepine kéo dài, sự kích thích GABA của receptor GABAA làm lượng ion Clo đi vào ít hơn đã bị gây ra bởi sự kích thích GABA trước khi sử dụng.benzodiazepine. Sự điều hòa đáp ứng receptor kém đi không phải do giảm số lượng receptor hoặc giảm ái lực của receptor với GABA. Bản chất của vấn đề này là ở chỗ sự kết nối giữa các điểm gắn GABA với sự kích hoạt kênh ion Clo. Sự giảm hiệu quả trong sự liên kết đó có thể được điều hòa chính bên trong của phức hợp receptor GABAA hoặc bởi cơ chế thần kinh khác.

C. Biểu hiện lâm sàng

Sử dụng đường uống: các thuốc hướng thần nêu trên được sử dụng qua đường uống có hiệu quả như thư giãn vào buổi tối, tăng hoạt động tình dục, khoái cảm nhẹ, trong thời gian ngắn, giải lo âu, gây ngủ. Thường gặp ở những người trung niên, lớn tuổi.

Sử dụng đường tiêm tĩnh mạch: thường gặp ở những người trẻ tuổi, thường liên quan tới sử dụng bất hợp pháp. Tiêm tĩnh mạch barbiturate gây thoải mái, ấm người, cảm giác buồn ngủ, và người sử dụng có khuynh hướng sử dụng barbiturate nhiều hơn các chất dạng thuốc phiện do giá rẻ hơn. Sự nguy hiểm khi sử dụng bơm kim tiêm không sạch gây các bệnh lây nhiễm qua đường tiêm chích như HIV, viêm gian, nhiễm khuẩn huyết… Việc tiêm tĩnh mạch các thuốc này gây dung nạp nhanh và mạnh, gây phụ thuộc và hội chứng cai mạnh.

Quá liều

+ Benzodiazepine

Khác với barbiturate và các chất dạng barbiturate, với benzodiazepine có khoảng cách giữa liều điều trị và liều ngộ độc rất rộng nên an toàn hơn khi dùng quá liều. Tỉ lệ giữa liều tử vong và liều điều trị là 200/1 hoặc cao hơn bởi vì nguy cơ gây suy hô hấp rất thấp. Thậm chí khi dùng liều quá lớn (trên 2 gram) để tự sát, các triệu chứng cũng chỉ bao gồm: buồn ngủ, ngủ sâu, mất điều hòa động tác, hơi lú lẫn, các dấu hiệu sinh tồn suy giảm chút ít. Điều nguy hiểm hơn là uống benzodiazepine quá liều kết hợp với các chất gây ngủ, yên dịu khác như rượu chẳng hạn. thuốc flumazenil (Mazicon), một thuốc đối vận đặc trưng của benzodiazepine do vậy nó được sử dụng ở cơ sở cấp cứu.

+ Barbiturates

Các thuốc này gây tử vong khi sử dụng quá liều do làm suy hô hấp. Hiện tượng tử vong do thuốc này khá phổ biến ở những người nghiện, có ý đinh tự sát hoặc không cố y tự sát. Và nó cũng là loại thuốc thường gây tử vong ở trẻ em khi sử dụng quá liều. Tử vong do barbiturate được biểu hiện bằng hôn mê, ngừng thở, trụy tim mạch và tử vong.

Liều tử vong phụ thuộc đường sử dụng, mức độ dung nạp. Ở phần lớn những người lạm dụng barbiturate, tỉ lệ giữa liều tử vong và liều điều trị là từ 3/1 – 30/1. Những người nghiện sử dụng 1,5 gram/ ngày loại tác dụng nhanh, một số người nói rằng họ sử dụng 2,5 gram/ ngày trong vòng một tháng. Liều tử vong không có sự khác biệt lớn giữa người sử dụng lâu hay mới sử dụng. Sử dụng nạp diễn ra nhanh chóng.

D. Chẩn đoán

1. Tiêu chuẩn chẩn đoán lạm dụng và nghiện các thuốc hướng thần gây yên dịu, gây lo âu, gây ngủ

Theo tiêu chuẩn chung (DSM IV).

2. Tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm độc các thuốc hướng thần gây yên dịu, giải lo âu, gây ngủ

a. Vừa mới sử dụng các thuốc gây yên dịu, giải lo âu, gây ngủ.

b. Biến đổi tâm lý và hành vi, xảy ra trong khi hoặc ngay sau khi sử dụng các thuốc gây yên dịu, giải lo âu, gây ngủ (ví dụ như: có hành vi tấn công hoặc tình dục không hợp lệ, cảm xúc không ổn định, lý lẽ, các chúc năng nghề nghiệp, xã hội bị suy giảm).

c. Có ít nhất một trong các biểu hiện sau đây, xuất hiện trong hoặc ngay sau khi sử dụng các thuốc gây yên dịu, giải lo âu, gây ngủ.

(1) Nói líu lưỡi.

(2) Mất phối hợp vận động.

(3) Dáng đi thay đổi.

(4) Rung giật nhãn cầu.

(5) Suy giảm chú ý và trí nhớ.

(6) Sững sờ hoặc hôn mê.

d. Các triệu chứng trên không do bệnh cơ thể hoặc các rối loạn tâm thần khác gây ra.

3. Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng cai các thuốc hướng thần gây yên dịu, giải lo âu, gây ngủ

a. Ngừng hoặc giam liều mạnh và kéo dài các thuốc gây yên dịu, giải lo âu, gây ngủ.

b. Có ít nhất 2 trong số các biểu hiện sau dây, xảy ra từ vài giờ tới vài ngày sau tiểu chuẩn a.

(1) Tăng hoạt hệ thần kinh thực vật (vã mồ hôi hoặc mạch trên 100 ck/phút).

(2) Run tay mạnh.

(3) Mất ngủ.

(4) Buồn nôn.

(5) Có ảo tưởng hoặc ảo thính giác, xúc giác, thị giác tạm thời.

(6) Kích động tâm thần vận động.

(7) Lo âu.

(8) Có cơn co giật toàn thể.

c. Các triệu chứng ở tiêu chuẩn b gây ra đau khổ rõ rệt hoặc làm giảm sút các chức năng xã hội, nghề nghiệp hoặc các lĩnh vực quan trọng khác.

d. Các triệu chứng trên không do bệnh cơ thể hoặc các rối loạn tâm thần khác gây ra.

4. Sảng run với thuốc hướng thần gây yên dịu, giải lo âu, gây ngủ

DSM IV cho phép làm chẩn đoán này với các chất gây yên dịu, giải lo âu, gây ngủ. Cần phân biệt với sảng run do hội chứng cai rượu thường gặp hơn so với sảng run do barbiturate hoặc benzodiazepine. Sảng run kết hợp với nhiễm độc có thể xảy ra với barbiturate hoặc benzodiazepine nếu liều sử dụng đủ cao.

5. Sa sút trí tuệ dai dẳng

DSM IV cho phép làm chẩn đoán này với các chất gây yên dịu, giải lo âu, gây ngủ. Sự tồn tại của chẩn đoán này đàng còn tranh luận bởi vì không chắc có hay không sự sa sút trí tuệ dai dẳng do chính việc sử dụng các chất trên. Vì vậy cần đánh giá chặt chẽ và thận trọng khi làm chẩn đoán này.

6. Rối loạn trí nhớ dai dẳng

DSM IV chi phép làm chẩn đoán này với các chất gây yên dịu, giải lo âu, gây ngủ. Rối loạn trí nhớ kết hợp với các chất gây yên dịu, giải lo âu, gây ngủ có thể được làm chẩn đoán phụ. Một số trường hợp có giai đoạn mất nhớ kết hợp với sử dụng ngắn hạn benzodiazepine với thời gian bán hủy ngắn như triazolam (halcion).

7. Rối loạn loạn thần

Các triệu chứng loạn thần của hội chứng cai barbiturate có thể được phân biệt với triệu chứng của sảng run do rượu. Kích động, hoang tưởng và ảo giác thường gặp là ảo thị, nhưng đôi khi là ảo xúc hoặc ảo thanh, xuất hiện sau hội chứng cai khoảng 1 tuần. Các triệu chứng loạn thần kết hợp với nhiễm độc hoặc hội chứng cai thường gặp do barbiturate nhiều hơn là do benzodiazepine và nó được chẩn đoán do chất gây yên dịu, giải lo âu, gây ngủ gây ra tình trạng loạn thần này. Tuy nhiên thầy thuốc có thể xác định có hay không các hoang tưởng hoặc ảo giác là các triệu chứng chiếm ưu thế.

TÁC HẠI CỦA CÁC CHẤT BAY HƠI, DUNG MÔI HỮU CƠ

TÁC HẠI CỦA CÁC CHẤT  BAY HƠI, DUNG MÔI HỮU CƠ

Bác sĩ Chuyên khoa II, thầy thuốc ưu tú Nguyễn Minh Tuấn

Các chất bay hơi bao gồm: các dung môi hòa tan, hồ keo, các dung môi trong bình xịt, dung môi pha sơn, các chất đốt. Một ví dụ đặc biệt của các chất này bao gồm khí ga, véc-ni, ga bật lửa, keo dán máy bay, chất hòa tan cao su, các dung dịch tẩy rửa, sơn phun, keo dán giầy, các dung dịch tẩy xóa. Các họat chất chính trong các chất bay hơi này bao gồm toluene, acetone, benzene, trichloroethane, perchlorethylene, trichlorrthylene, 1,2-dichloropropane và halogenated hydrocarbons. DSM IV loại trừ các khí gây mê (nitrous oxide và ether) và các chất gây giãn mạch tác động ngắn (amynitrite) ra khỏi các rối loạn liên quan tới các chất bay hơi.

A. Dịch tễ học

Ở Mỹ, các chất khí hít này tồn tại hợp pháp, rẻ tiền và dễ kiếm. Ba đặc điểm này góp phần vào việc chúng được sử dụng nhiều ở những người nghèo và trẻ tuổi. Năm 1991 (NIDA), khoảng 5% dân số Mỹ đã hít các chất này ít nhất một lần và khoảng 1% đang hít chúng. Ở lứa tuổi từ 18-25, có 11% đã hít chúng ít nhất một lần và 2% đang hít. Ở lứa tuổi 12-17, có 7% đã hít chúng ít nhất một lần và 2% đang hít.

Ở lứa tuổi 12 và lớn hơn, có khoảng 5% nói rằng đã luôn sử dụng hít các chất này và gần 1% nói đã hít chúng trong tháng vừa qua. Năm 1991 số liệu cho thấy 10,9% lứa tuổi từ 18-25, 9,2% lứa tuổi từ 26-34, 7% lứa tuổi trên 35, nói rằng họ đã luôn hít các chất khí này và 2% trong các nhóm này hít nó trong tháng vừa qua.

Trong tổng số tử vong do lạm dụng các chất, tử vong do hít các chất bay hơi chiếm 1% và trong tổng số lạm dụng các chất được cấp cứu tại khoa cấp cứu thì hít chất bay hơi chiếm gần 0,5%.

Ở Pháp, theo số liệu của ESCAPPAD 2003, OFDT, việc hít các chất bay hơi phổ biến thứ 2 sau cannabis mà lứa tuổi 17-18 đã sử dụng nhưng việc sử dụng thường xuyên thì ít. Ở lứa tuổi 17-18, có 4,7% (4,1% nữ, 5,2% nam) hít các chất bay hơi trong cuộc đời và  0,7% (0,5% nữ, 0,9% nam) đã hít chất bay hơi trong tháng vừa qua.

B. Đặc điểm dược lý

Các chất bay hơi thường được hít qua tẩu, ống hút, túi ni lông….hít qua đường mũi hoặc hơi của chúng qua đường miệng. Tác động chung của các chất bay hơi gây ức chế trên hệ thần kinh trung ương.

Các chất bay hơi hấp thụ nhanh ở phổi và nhanh chóng tác động lên não. Tác động xuất hiện trong vòng 5 phút và có thể kéo dài từ 30 phút tới vài giờ, phụ thuộc vào từng chất và liều lượng. Nồng độ của các chất này trong máu tăng lên khi sử dụng đồng thời rượu, có thể do cạnh tranh với các men gan. Mặc dù chỉ khoảng 1/5 có biểu hiện này.

C. Biểu hiện lâm sàng

Với một liều nhỏ ban đầu, chất bay hơi có thể kích thích gây khoái cảm và cảm giác bồng bềnh thoải mái; các chất này được sử dụng vì các tác dụng nêu trên. Các biểu hiện tâm thần khác ở liều cao có thể bao gồm sợ hại, ảo tưởng, ảo thanh, ảo thị và biến hình bản thân. Các triệu chứng thần kinh có thể bao gồm nói líu lưỡi , nói chậm chạp và đi loạng choạng. Việc sử dụng quá dài có thể gây thêm các biểu hiện khác như dễ bị kích thích, cảm xúc không ổn định và suy giảm trí nhớ.

Hội chứng cai có thể xảy ra khi ngừng sử dụng các chất này, tuy không thường xuyên; nó có biểu hiện bằng rối loạn giấc ngủ, dễ bị kích thích, hốt hoảng, vã mồ hôi, buồn nôn, nôn, nhịp tim nhanh và đôi khi có hoang tưởng, ảo giác.

D. Các tác dụng không mong muốn

Các chất bay hơi thường gây ra nhiều tác dụng có hại nghiêm trọng. Tác dụng có hại nguy hiểm nhất là tử vong có thể suy hô hấp, mất nhịp tim, ngạt thở, hít phải chất nôn hoặc bị tai nạn, hay bị thương (ví dụ lái xe trong tình trạng nhiễm độc). Các tác dụng có hại nghiêm trọng khác thường do sử dụng lâu dài các chất này bao gồm viên gan không phục hồi hoặc tổn thương thận và tổn thương cơ thường xuyên kết hợp với tiêu cơ vân. Sự kết hợp của các chất bay hơi này và nồng độ cao của đồng, kẽm và các kim loại nặng có thể gây ra teo não, động kinh thùy thái dương, giảm lưu lượng máu não, chỉ số IQ giảm và các thay đổi điện não  khác nhau. Các tác động có hại ở người nghiện bao gồm các triệu chứng mạch vành và phổi (đau thắt ngực và co thắt phế quản), các triệu chứng tiêu hóa (đau, buồn nôn, nôn và xuất huyết) và các dấu hiệu và triệu chứng thần kinh khác (viêm dây thần kinh ngoại biên, đau dầu, dị cảm, các dấu hiệu tổn thương tiểu não).

Đ. Chẩn đoán

1. Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện và lạm dụng các chất bay hơi.

Theo tiêu chuẩn chẩn đoán chung ở phần trước

2. Tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm độc các chất bay hơi

a. Sử dụng  cố tình mới đây hoặc trong một thời gian ngắn, tiếp xúc liều cao các chất bay hơi (loại trừ các khí gây mê, gây giãn mạch).

b. Có những thay đổi tâm lý và hành vi không thích hợp rõ rệt (hung hăng, hành hung, thờ ơ, suy giảm lý lẽ, các chức năng nghề nghiệp, xã hội) xuất hiện trong khi hoặc ngay sau khi sử dụng hoặc tiếp xúc với các chất bay hơi.

c. Có ít nhất 2 trong số các dấu hiệu sau, xuất hiện trong khi hoặc ngay sau khi sử dụng hay tiếp xúc với các chất bay hơi.

(1) Choáng váng

(2) Rung giật nhãn cầu

(3) Mất phối hợp động tác

(4) Nói líu lưỡi

(5) Dáng đi xiêu vẹo

(6) Ngủ lịm

(7) Phản xạ giảm

(8) Tâm thần vận động chậm chạp

(9) Run

(10) Yếu toàn bộ các cơ

(11) Nhìn mờ hoặc nhìn đôi

(12) Sững sờ hoặc nhân đôi

(13) Khoái cảm

d. Các triệu chứng trên không do bệnh cơ thể hoặc các bệnh tâm thần khác gây ra.

3. Sảng run do các chất bay hơi

Xem phần sảng run chung cho các chất.

Điều trị dùng thuốc đối kháng với receptor dopamine (haloperidol), tránh dùng benzodiazepine đề phòng suy hô hấp do tương tác thuốc.

4. Rối loạn thần do các chất bay hơi

Nêu chung trong phần chẩn đoán các rối loạn loạn thần Thầy thuốc có thể xác định rõ có hay không các triệu chứng hoang tưởng, ảo giác chiếm ưu thế. Paranoid là hội chứng loạn thần chủ yếu trong khi bị nhiễm độc các chất bay hơi

5. Sa sút trí tuệ dai dẳng do các chất bay hơi

Có thể là do tác động nhiễm độc thần kinh của các chất bay hơi, và của kim loại được dùng phổ biến trong hợp chất các chất bay hơi (chì) hoặc tác động của thiếu ô xy kéo dài hay thường xuyên. Sa sút trí tuệ do các chất hay hơi không phục hồi giống như các sa sút trí tuệ khác nhưng ở mức độ trung bình.

6. Rối loạn cảm xúc và lo âu do các chất bay hơi

Trầm cảm là rối loạn cảm xúc phổ biến nhất trong sử dụng các chất bay hơi và rối loạn hoảng sợ và lo âu toàn thể là rối loạn lo âu phổ biến nhất.

 

TÁC HẠI CỦA MA TÚY DẠNG ĐÊ MÊ (THUỐC PHIỆN – MORPHIN – HEROIN)

TÁC HẠI CỦA MA TÚY DẠNG ĐÊ MÊ (THUỐC PHIỆN – MORPHIN – HEROIN)

Bác sĩ Chuyên khoa II, thầy thuốc ưu tú Nguyễn Minh Tuấn

I. Đặc điểm dược lý

1. Tác động của các chất dạng thuốc phiện lên não

Morphine khi vào cơ thể liên kết với proteine huyết tương với tỉ lệ khoảng 30% và được chuyển hóa chủ yếu thành dẫn xuất glucoronocojugues, dẫn xuất này qua chu trình ruột gan. 6-glucoronide là một chất chuyển hóa mạnh hơn 50 lần so với morphine. Đáp ứng sinh học với đường tiêm dưới da, và chỉ bằng 30% so với đường tiêm tĩnh mạch. Thời gian bán hủy của morphine trong máu khoảng 2-6 giờ. Các dẫn xuất glucoronocojugues được đào thải chủ yêu qua nước tiểu, thải trừ qua phân dưới 10% (sau 24 giờ 90% morphine bài tiết ra ngoài), chỉ một lượng nhỏ morphine vào hệ thần kinh trung ương và đến các điểm tiếp nhận morphine ở não.

Có nhiều điểm tiếp nhận morphine ở não (µ, ĸ, σ, δ) nhưng các điểm tiếp nhận µ là cơ sở chủ yếu, nằm rải rác ở não, tập trung nhiều nhất ở vừng dưới đồi, có một ít ở hệ thần kinh thực vật

Tại các điểm tiếm nhận µ có sẵn các peptide nội sinh (endorphine, enkephaline…), Các peptide này tác động qua lại với morphine và dẫn truyền morphine qua hệ thần kinh đến các vùng khác nhau của cơ thể gây ra các tác dụng chuyên biệt như: giảm đau, giải lo âu, chống trầm cảm, ức chế hô hấp (giảm ho), tăng trương lực cơ tron dạ dày, ruột (chống tiêu chảy), đặc biệt gây cảm giác sảng khoái. Tuy nhiên chính cảm giác sảng khoái lợi bất cập hại này đã quyến rũ người sử dụng và sản sinh ra hiện tượng nghiện với ba trạng thái: dung nạp, lệ thuộc cơ thể, lệ thuộc tâm thần.

2. Cơ sở sinh học của trạng thái dung nạp

Morphine tác động liên tục vào các điểm tiếp nhận µ sẽ ức chế hoạt động của các men adenylcyclase là men kích thích chất ATP (adenosin triphosphate) để sản xuất ra chất AMPc (adenosin monophosphate cyclique), một chất có vai trò thiết yếu trong sản sinh và dẫn truyền các xung động thần kinh, năng lượng cơ bản của hoạt động thần kinh và tâm thần. Do cơ thể không thể thiếu adenylcyclase được, nên để bù vào lượng adenylcyclase do morphine làm giảm, cơ thể phải liên tục tổng hợp adenylcyclase với nồng độ không ngừng tăng lên. Muốn làm giảm adenylcyclase để có được cảm giác sảng khoái như lần trước, lượng morphine đưa vào cơ thể lần sau phải cao hơn. Và cứ như thế, cơ thể người nghiện được tập dượt để dần dần dung nạp những liều morphine ngày càng tăng và tăng rất cao.

3. Cơ sở sinh học của trạng thái lệ thuộc về mặt cơ thể (hay trạng thái cai)

Trong khi người nghiện ngừng sử dụng các chất dạng thuốc phiện, cơ thể vẫn duy trì phương thức đáp ứng như khi có một lượng lớn chất dạng thuốc phiện đưa vào cơ thể hàng ngày, tức là vẫn liên tục tổng hợp một lượng lớn men adenylcyclase. Các chất morphine nội sinh (endorphine) được cơ thể sản xuất quá ít, không thể ức chế được lượng adenylcyclase quá lớn này.

Do nồng độ AMP vòng trong cơ thể tăng vọt lên, kích thích mãnh liệt hệ thần kinh, gây triệu chứng cơ thể rất khó chịu, báo động gây gắt trạng thái thiếu hụt morphine và nhu cầu cần thiết phải đưa ngay morphine vào cơ thể. Người nghiện không thể cưỡng lại được, phải bằng mọi giá tìm cho kỳ được chất dạng thuốc phiện để đưa vào cơ thể.

4. Cơ sở sinh học của trạng thái lệ thuộc về mặt tâm thần (hay thèm chất dạng thuốc phiện) trường diễn

Theo nhận định thống nhất của hội đồng các chuyên viên về lạm dụng chất của Tổ chức Y Tế thế giới thì sự lệ thuộc vào chất gây nghiện trước hết và chủ yếu là sự lệ thuộc về mặt tâm thần. Còn đối với sự lệ thuộc về mặt tâm thần. Còn đối với sự lệ thuộc về mặt cơ thể (trạng thái cai) thì co bản năng sinh tồn, cơ thể phải tự điều chỉnh để sớm chấm dứt các triệu chứng cơ thể gay gắt, khó chịu đựng trong vòng từ 1-2 tuần (trung bình trong vòng 10 ngày). Tuy nhiên, mất hội chứng cai rồi, người nghiện chất dạng thuốc phiện vẫn tiếp tục nhớ và thèm cái cảm giác khoái và cảm giác bình thản do chất dạng thuốc phiện tạo ra. Đó là nguyên nhân làm cho gần như 100%người nghiện chất dạng thuốc phiện tái nghiện sau khi cắt cơn một thời gian ngắn hoặc nếu không được điều trị duy trì. Đây là một hiện tượng sinh học phức tạp, chưa được sáng tỏ hoàn toàn nên có nhiều cách giải thích khác nhau tùy theo quan điểm của từng học giả.

Đa số các tác giả thừa nhận cảm giác sảng khoái và bình thản do chất dạng thuốc phiện gây ra là cơ sở sinh học của trạng thái thèm nhớ trường diễn chất ma túy. Và môi trường dễ có được chất dạng thuốc phiện nói riêng (và các chất gây nghiện nói chung) là nhân tố kích thích xung động tìm chất ma túy của người nghiện.

Một số nhà điều trị theo liệu pháp tập tính cho rằng trong một thời gian dài, tất cả các phản ứng của não bộ đối với chất dạng thuốc phiện nói riêng (và ma túy nói chung) đã đưa vào hàng ngày, nhất là phản ứng của các điểm tiếp nhận tương ứng, đều được lưu dấu vết bền vững vào bộ nhớ não, hình thành một phản xạ có điều kiện, có cơ sở sinh học kiên cố không dễ dàng xóa được. Do vậy, những người đã cai chất dạng thuốc phiện nhiều năm khi gặp một kích thích có liên quan đến các khâu cung cấp và sử dụng chất dạng thuốc phiện (đi qua nơi bán và nơi tiêm chích trước kia,…), các dâu vết của phản xạ có điều kiện được hoạt hóa, nhớ và thèm chất dạng thuốc phiện trở nên mãnh liệt, từ đó xuất hiện xung động đi tìm chất dạng thuốc phiện và tái nghiện.

Wikler (1972) giải thích sự lệ thuộc chất gây nghiện về mặt tâm thần theo lý thuyết phản xạ có điều kiện thực thi của Skinner, nhấn mạnh vào luận điểm sau đây:

Nghiện chất là một tập tính phức tạp, luôn tuân theo một qui luật về hiệu quả của Thorndike: "Mọi cơ thể sống đều nhạy cảm với hiệu quả của hành vi của mình". Một tập tính mang lại lợi ích về vật chất hay tâm thần hoặc mang lại cảm giác thích thú, dễ chịu thường được duy trì. Con chuột thí nghiệm của trường phái Skinner qua quá trình thăm dò và sửa chữa, luôn tránh cái bàn đạp gây cảm giác khó chịu và liên tục đạp vào bàn đạp gây thích thú hay đưa lại thức ăn.

Tiêm heroin gây cảm giác sảng khoái. Wikler gọi đó là một chất kích thích tăng cường dương tính. Cắt heroin gây ra hội chứng cai là một kích thích tăng cường âm tính.

Kích thích tăng cường dương tính và âm tính đều thúc đẩy người nghiện phải tiếp tịc sử dụng chất dạng thuốc phiện. Đó là cơ sở phản xạ có điều kiện thực thi của nghiện chất, thèm nhớ và tái nghiện chất.

Theo luận điểm trên, trong liệu pháp tập tính, tác giả dùng phương pháp khử điều kiện để chữa nghiện heroin bằng các kỹ thuật tăng cường dương tính và âm tính (khen thưởng, gây ghét sợ).

Như vậy có thể nhận định nghiện chất dạng thuốc phiện là một trạng thái nghiễm độc chất dạng thuốc phiện mạn tính xuất hiện theo cơ chế phản xạ có điều kiện thực thi, trên một người có khuynh hướng lạm dụng chất. Và các phương pháp khử điều kiện của liệu pháp tập tính có thể đóng góp một phần vào kết quả điều trị trạng thái thèm và nhớ chất dạng thuốc phiện vô cùng dai dẳng này.

II. Biểu hiện lâm sàng

1. Biểu hiện lâm sàng của nhiễm độc cấp: chất dạng thuốc phiện (thuốc phiện, morphine, codeine, heroin…) có thể được sử dụng theo đường uống, hút, hít qua mũi, tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da. Chất dạng thuốc phiện gây nghiện, gây khoái cảm nhất là khi sử dụng qua đường tiêm chích. Các triệu chứng kết hợp khác bao gồm: cảm giác người nóng lên, mạnh hơn ở các đầu chi, khô miệng, ngứa ngáy ở mặt (chủ yếu ở mũi), đỏ bừng mặt. Triệu chứng ban đầu biểu hiện bằng một giai đoạn yên dịu, ngủ gật.

Đối với những người sử dụng chất dạng thuốc phiện lần đầu hoặc thỉnh thoảng có thể có loạn khí sắc, buồn nôn và nôn.

Các biểu hiện cơ thể của chất dạng thuốc phiện bao gồm: suy hô hấp, co đồng tử, co các cơ trơn, vòng (co các cơ thắt), giảm huyết áp, giảm nhịp tim, giảm thân nhiệt. Biểu hiện suy hô hấp có ngay lập tức phụ thuộc vào mức độ ở não và phụ thuộc vào mức tương tác thuốc với phenothiazine và các thuốc MAOI (Monoamine oxidase inhibitor).

Các biểu hiện tâm thần: gây lơ ngơ, khoái cảm, ngây ngất, giảm đau, nó còn có tác dụng như một chất giải lo âu mạnh và chống trầm cảm. Điều này lý giải phần nào tính chất đồng bệnh lý giữa rối loạn lo âu và rồi loạn trầm cảm với lạm dụng chất dạng thuốc phiện.

Đặc biệt, để đạt được hiệu quả như trước người bệnh phải tăng liều sử dụng.

2. Biểu hiện lâm sàng của nhiễm độc mạn tính chất dạng thuốc phiện

Nghiện chất dạng thuốc phiện thực chất là một trạng thái nhiễm độc mạn tính chất dạng thuốc phiện. Các trạng thái cơ bản của nghiện chất dạng thuốc phiện (dung nạp, lệ thuộc cơ thể, lệ thuộc tâm thần) đã được trình bày chi tiết ở chương I và II. Ở đây xin trình bày thêm những rối loạn cơ thể đi kèm theo trạng thái nhiễm độc mạn tính này:

– Các rối loạn tiêu hóa: chán ăn, buồn nôn, nôn, táo bón xen kẽ với đi rửa.

– Các rối loạn tiết niệu: đái khó, đái rắt.

– Các rối loạn thần kinh: nhức đầu, chóng mặt, run, giật cơ, dị cảm.

– Nhiễm khuẩn các loại: ghẻ lở, áp-xe, loét tĩnh mạch, viêm nội tâm mạc, nhiễm trùng máu, viêm gan B, C, đặc biệt là lây nhiễm HIV do sử dụng chung bơm kim tiêm.

3. Các giai đoạn của trạng thái cai heroin

– Giai đoạn đầu (6-8 giờ sau lần tiêm heroin cuối cùng): người bệnh bắt đầu ngáp, vã mồ hôi, chảy nước mắt, chảy nước mũi và lo lắng cao độ. Người bệnh cảm thấy thèm heroin, xuất hiện xung động tìm heroin mỗi lúc một tăng. Tiếp đến giãn đồng tử, nổi da gà, trong người cảm thấy lúc nóng, lúc lạnh, co thắt cơ, run, mất ngủ hay giấc ngủ không yên, luôn thức giấc.

– Giai đoạn tiếp theo (18-24 giờ sau lần tiêm heroin cuối cùng): xuất hiện buồn nôn hay nôn, mạch huyết áp, nhịp thở đều tăng, có thể có sốt nhẹ.

– Sau từ 24-48 giờ: xuất hiện đi rửa và trạng thái mất nước, dị cảm mạnh.

– sau 48-72 giờ: các triệu chứng ở các giai đoạn nói trên tăng đến đỉnh điểm sau đó giảm dần.

– Sau 7-10 ngày: mặc dù không điều trị, các triệu chứng nêu trên cũng dần dần biến mất. Một số rối loạn chức năng nhẹ có thể còn tồn tại nhiều tháng ở một số trường hợp.

4. Các tác dụng không mong muốn

Thường gặp là ngủ gà, lú lẫn, nôn, buồn bôn, táo bón. Cũng có thể thấy yên dịu, trạng thái kích thích, ác mộng (đặc biệt ở người già có thể có ảo giác), suy hô hấp, tăng áp lực nội sọ, bí tiểu nhất là khi bị u xơ tuyến tiền liệt.

Có mối liên quan chặt chẽ giữa các rối loạn liên quan tới lạm dụng chất dạng thuốc phiện với sử dụng chung bơm kim tiêm gây lây truyền viêm gan B, C và HIV/AIDS và đặc biệt là tương tác với thuốc meperidine và các thuốc MAOIs, điều này có thể gây ra rối loạn nặng hệ thần kinh thức vật, kích động, hôn mê, co giật và tử vong.

Phản ứng dị ứng với các chất dạng thuộc phiện cũng có thể xảy ra sốc phản vệ, phù phổi cấp, và tử vong nếu bệnh nhân không được điều trị kịp thời và thích hợp.

5. Quá liều

Tử vong do sử dụng quá liều các chất dạng thuốc phiện thường gặp là do tác dụng gây ngừng thở của các chất dạng thuốc phiện. Triệu chứng quá liều bao gồm: thờ ơ, hôn mê, thở chậm, giảm thân nhiệt, giảm mạch, giảm huyết áp. Khi có biểu hiện bộ ba triệu chứng hôn mê, co đồng tử, suy hô hấp, thầy thuốc cần phải nghĩ ngay lập tức tới quá liều chất dạng thuốc phiện. Thầy thuốc phải khám tìm dâu vết tiêm chích ở mọi chỗ trên cơ thể mà bệnh nhân có thể tiêm chích kể cả tĩnh mạch dương vật.

– Xử trí khi có biểu hiện quá liều

  • Tạo thông thoáng đường thở, duy trì các chỉ số sống bình thường.
  • Tiêm tĩnh mạch Naloxone 0,4 mg, liều này có thể lặp lại 4-5 lần trong 30-45 phút đầu tiên. Bệnh nhân có thể tỉnh trở lại nhưng vì thời gian bán hủy của naloxone ngắn nên bệnh nhân có thể lại quay lại tình trạng ban đầu trong 4-5 giờ, nên cần theo dõi chặt chẽ. Con cơ giật có thể gây ra quá liều meperidine và có thể dự phòng bằng naloxone. Cần thận trọng khi chỉ định naloxone tránh gây ra hội chứng cai sau đó.

III. Tác hại

Chất dạng thuốc phiên nói chung và heroin nói riêng là một loại gây nghiện mạnh, gây dung nạp nhanh và mạnh, gây lệ thuộc cơ thể cũng như lệ thuộc tâm thần, gây nhiễm độc cấp và mạn. Việc điều trị cũng gặp rất nhiều khó khăn do tỉ lệ tái nghiện cao.

Do các đặc tính vừa nêu trên, người nghiện lúc đầu chủ hút, hít heroin mỗi ngày 1 lần nhưng càng về sau liều lượng ngày càng tăng cao, số lần sử dụng cũng phải tăng thêm. Rồi chuyển sang chích mới có thể đạt được hiệu quả như ban đầu. Vài giờ sau khi sử dụng ngươi fnghieenj thấy thoải mái dễ chịu và tiếp sau đó lại cảm thấy thiếu thuốc, thèm thuốc và lại đi tìm heroin. Sau khoảng 6-8 giờ nếu không có heroin các triệu chứng cơ thể của hội chứng cai bắt đầu xuất hiện buộc người nghiện bằng mọi giá phải tìm cho kỳ được heroin. Cứ vậy người nghiện không còn thời gian để làm việc khác. Tác hại của nghiện heroin được thể hiện trên nhiều mặt: sức khỏe, công việc, kinh tế, gia đình, xã hội.

1. Về sức khỏe

Người nghiện chán ăn dẫn đến gầy sút, sợ lạnh nên lười vệ sinh thân thể, dễ bị các bệnh da liễu, bệnh lao, các bệnh nhiễm khuẩn do tiêm chích không vô trùng (viêm nội tâm mạc, nhiễm trùng máu…). Luôn có nguy cơ bị sốc thuốc do tiêm thuốc nhanh và quá liều nhằm tìm lại khoái cảm như trước. Đặc biệt dùng chung bơm kim tiêm và tình dục không an toàn dễ bị lây truyền các bệnh hoa liễu, viêm gan B, C và HIV/AIDS.

Theo nghiên cứu của chúng tôi, ở nhóm bệnh nhân tham gia điều trị thay thế bằng methadone (1997-2002), tỉ lệ viêm gian B và C trước khi vào điều trị là 41,17% (trên 68 bệnh nhân) và ở nhóm bệnh nhân tham gia điều trị duy trì bằng Naltrexone (2003-2007), tỉ lệ viêm gian B và C là 66,19% (trên 482 bệnh nhân).

Về mặt tâm thần nghiện heroin thường gây biến đổi nhân cách theo hướng xấu do ảnh hường của nhóm bạn nghiện: thiếu kiềm chế cảm xúc, thường xuyên xung đột với gia đình, lừa dối mọi người, không quan tâm tới con cái, từ bỏ mọi ham muốn sở thích trước kia, thiếu tinh thần trách nhiệm, thường xuyên ở trong tình trạng nhiễm độc heroin (tâm thần lơ mơ, đi loạng choạng, dễ bị tai nạn hoặc gây tai nạn cho người khác). Ngoài ra còn có thể có các rối loạn tâm thần khác như lo âu, trầm cảm, hoang tưởng, ảo giác…

2. Về công việc

Do phần lớn thời gian dành cho việc tìm kiếm và sử dụng heroin nhằm giải quyết tình trạng đói thuốc, người nghiện luôn chểnh mảng, không tập trung vào công việc và học tập, không tuân thủ giờ giấc, nội qui nên dẫn đến mất việc hoặc phải bỏ học. Nghiên cứu của chúng tôi trên nhóm bệnh nhân được điều trị duy trì bằng methadone (68 bệnh nhân) cho thấy: trước nghiện 78,4% có nghề nghiệp hoặc đi học nhưng bị nghiện, 72,5% không nghề nghiệp hoặc bỏ học. Ở nhóm naltrexone (482 bệnh nhân) trước nghiện 55,81% có nghề nghiệp hoặc đi học, nhưng khi bị nghiện 58,71% không nghề nghiệp hoặc bỏ học. Điều này chứng tỏ rằng có ít nhiều khả năng vì không có việc làm, giao du với bạn xấu rồi dẫn tới nghiện ma túy. Nhưng chắc chắn nghiện ma túy tất yếu sẽ dẫn tới mất việc làm.

3. Về kinh tế

Số tiền người nghiện phải chi cho heroin ngày càng nhiều do phải tăng liều và tăng số lần sử dụng trong khi thu nhập từ lao động ngày càng giảm, thậm chí không kiếm ra tiền. Chính sự mâu thuẫn này đã dẫn tới chỗ lừa dối mọi người để có tiền tiêu cho heroin. Tiếp theo đó là bán đồ đạc cá nhân rồi đồ đạc của gia đình. Khi không còn gì để bán nữa thì ăn cắp, ăn trôm ngoài xã hội, cướp giật, giết người, mại dâm, buôn bán ma túy… Cũng theo nghiên cứu của chúng tôi ở 68 bệnh nhân trước điều trị methadone phải chi trung bình 300.000 đồng/ngày cho ma túy so với mức lương tối thiểu vào thời điểm đó là 180.000 đồng/ tháng.

4. Về gia đình

Người nghiện thường xuyên nói dối, thức đêm, ngủ ngày, ăn kém, không tôn trọng giờ giấc sinh hoạt trong gia đình, luôn đi đêm về hôm, thay đổi thái độ với người trong gia đình, không hoàn thành trách nhiệm của mình với các thành viên khác trong gia đình.  Kết quả một mẫu nghiên cứu của chúng tối trên 68 bệnh nhân: theo báo cáo của gia đình có tới 89% bệnh nhân có hành vi vi phạm trong gia đình ở các mức độ khác nhau như từ nói dối để có tiền, bán đồ dùng cá nhân, lấy tiền của gia đình, bán đồ dùng của gia đình tới cưỡng ép người thân để có tiền mua ma túy. Ở một mẫu nghiên cứu khác trên 482 bệnh nhân, theo báo cáo của gia đình có tới 84,65% bệnh nhân vi phạm ở các mức dộ như đã nói ở trên.

5. Về mặt xã hội

Một số người nghiện bắt đầu buôn bán chất gây nghiện để có tiền mua heroin. Số khác có thể lao vào từ mại dâm, ăn trộm, ăn cắp, đến tham gia các băng nhóm tội phạm, cướp giật, giết người. Một số người nghiện thuộc gia đình có tài sản, đầu tiên bán đồ dùng, rồi lừa dối người nhân để có tiền, rồi lấy trộm tiền của gia đình, bán đồ đạc của gia đình. Số khác được thừa kế tài sản lớn cũng dần bán đi hết để chi cho heroin và kết cục là sống ngoài lề xã hội.

Theo báo cáo của cục AIDS Bộ Y Tế (2010) hiện cả nước có trên 200.000 người nhiễm HIV/AIDS có hồ sơ kiểm soát, trong đó trên 60% liên quan tới tiêm chích chất gây nghiện. Đây là con số hết sức báo động, nó không chỉ có vấn đề tội phạm mà còn có nguy cơ bùng phát đại dịch HIV/AIDS ra toàn xã hội.

Những thiệt hại do người nghiện gây ra cho xã hội bao gồm nhiều mặt:

– Về kinh tế: giảm sút nguồn lực lao động, gây phí tổn to lớn trong công tác cai nghiện và chống tái nghiện cũng như công tác dự phòng.

– Về trật tự an toàn xã hội: bi đe dọa do các hành vi tội phạm rất đa dạng (buôn bán chất gây nghiện, lừa đảo, cướp giật, băng nhóm xã hội đen…).

– Về mặt văn hóa: hủy hoại nếp sống lành mạnh trong các gia đình và trong cộng đồng.

Một thí dụ để minh họa: thời gian qua thành phố Hồ Chí Minh đã đưa đi điều trị tập trung khoảng 25.000 người nghiện với thời hạn 5 năm. Vấn đề này có nhiều lý do khác nhau nhưng lý do bức xúc nhất có thể là vấn đề tội phạm liên quan tới sử dụng chất gây nghiện đã ảnh hưởng lớn tới trật tự an toàn của thành phố cũng như tới đầu tư nước ngoài vào thành phố.

TÁC HẠI MA TÚY THIÊN NHIÊN DẠNG HOANG TƯỞNG – CẦN SA

TÁC HẠI MA TÚY THIÊN NHIÊN DẠNG HOANG TƯỞNG – CẦN SA

Bác sĩ Chuyên khoa II, thầy thuốc ưu tú Nguyễn Minh Tuấn

CẦN SA

A. Mở đầu

Cannabis: hoạt tính δ9 – THC (δ9 – THC Tetrahydrocannabinol) không gây dung nạp và phụ thuộc cơ thể. Gây phụ thuộc tâm thần và gây nhiễm độc tâm thần. Chúng được chia làm 3 loại:

 – Marijuana: lá và hoa khô.

– Haschich: chiết xuất từ rễ cảu cây cái. 10 lần mạnh hơn marijuana.

 – Dầu: sền sệt, nhựa đen, độ tập trung δ9 – THC rất cao.

Được sử dụng bằng cách hút như hút thuốc lá hoặc thuốc lào cũng có thể được ăn hoặc uống (trộn lẫn).

B. Dịch tễ

Cần sa (còn được gọi là tài mà, thuốc cỏ…): là một chất ma túy bất hợp pháp được sử dụng phổ biến nhất ở Mỹ. Năm 1991 có khoảng 1/3 dân số sử dụng cannabis ít nhất một lần và khoảng 5% vẫn đang sử dụng. Ở nhóm 18-25 tuổi khonagr 50% đã sử dụng cannabis ít nhất một lần và khoảng 13% vẫn đang sử dụng. Ở nhóm 13-17 tuổi khonagr 13% đã sử dụng cannabis ít nhất một lần và khoảng 4% vẫn đang sử dụng (NIDA, 1991).

Theo số liệu của Pháp: ở nhóm 17- 18 tuổi sử dụng cannabis đều đặn là 13%(nam 18%, nữ 8%), {OFDT, 2003}. Và ở nhóm 18-75 tuổi sử dụng cannabis đều đặn là 1,4%(nam 2,3%, nữ 0,6%), {OFDT, 2002}. Ở nhóm 18-64 tuổi 32% đã sử dụng cannabis ít nhất một lần trong đời và 12% nam, 7% nữ đã sử dụng ít nhất một lần trong năm, {OFDT, 2003}.

C. Đặc điểm dược lý

Như đã nêu ở trên, thành phần chính của cannabis là δ9 – THC (Tetrahydrocannabinol), tuy nhiên cannabis chưa tới hơn 400 chất hóa học và khoảng 60 chất trong số đó có δ9 – THC .Ở trong cơ thể, δ9 – THC nhanh chóng được chuyển hóa thành 11-hydroxy-δ9 – THC, chất chuyển hóa này tác động trên hệ thần kinh trung ương.

Receptor cannabinoid được liên kết với G protein ức chế thông qua liên kết với adenylyl cyclase. Các receptor cannabinoid tập trung cao nhất ở hạch nền, hồi hải mã và tiểu não và tập trung ít hơn ở vỏ não.

Người ta thấy có sự dung nạp cannabis và sự phụ thuộc về tâm thần nhưng chưa có bằng chứng thuyết phục về sự phụ thuộc về cơ thể. Hội chứng cai trên người rất ít và tăng biểu hiện cáu kỉnh, bồn chồn, mất ngủ, chán ăn tâm thần avf buồn nôn. Các triệu chứng này chỉ xuất hiện khi ngừng sử dụng cannabis ở liều cao.

Khi hút cannabis tác dụng khoái cảm xuất hiện sau vài phút, đạt đỉnh điểm sau khoảng 30 phút và kéo dài 2-4 giờ. Một số tác động lên vận động và nhận thức kéo dài từ 5-12 giờ. Cannabis cũng được sử dụng qua đường ăn uống như có trong bánh, nước phở, súp…Tác động qua đường hút mạnh gấp 2-3 lần qua đường ăn uống.

D. Biểu hiện lâm sàng

Biểu hiện lâm sàng thường gặp sau khi sử dụng cannabis là giãn mạch máu kết mac nên gây đỏ mắt và nhịp tim tăng vừa. Dùng liều cao, có thể tụt huyết áp ở tư thế đứng. Tăng khẩu vị, mồm nhai chóp chép, khô miệng là biểu hiện thường thấy trong nhiễm độc cannabis. Hầu như không thấy tử vong nếu chỉ nhiễm độc cannabis.

  1. Tác động: 70 lần hơn Nicotine.
  • Với liều trung bình  cảm thấy khoái cảm, âm thanh và âm nhạc nghe khác đi, cảm thấy thời gian biến đổi.
  • Với liều cao toàn bộ các chức năng tâm thần bị rối loạn, cảm giác thực tại bị rồi loạn, những điều cấm kỵ bị coi thường, có cảm giác như đã trải qua quan hệ với người khác, không gian và thời gian bị biến đổi sâu sắc. Ở một số người có thể đồng thời xuất hiện lo âu, số khác buồn ngủ, số khác có thể có hành vi phạm pháp không thể kiểm soát được.

      2. Tác hại

  • Có thể có các biến chứng tâm thần cần nhập viện như trầm cảm, lo âu, loạn thần, rối loạn hành vi.
  • Liều cao có thể làm mất ý trí, thu rút, mất động cơ.
  • Tác hại về cơ thể tương tự như thuốc lá nhưng mạnh hơn, có nguy cơ suy hô hấp mạn và ung thư phổi.
  • Sử dụng lâu dài cannabis thường gây teo não, cơn co giật liên tục, tổn thương nhiễm sắc thể, thai non tháng, giảm phản ứng miễn dịch, giảm độ tập trung testosterone, rối loạn kinh nguyệt.
  • Tăng nguy cơ tai nạn khi tham gia giao thông và vận hành máy móc.
  • Việc làm giảm sút, mất việc.

  E. Chẩn đoán

  1. Tiêu chuẩn chẩn đoán lạm dụng và nghiện cần sa

           Xem chương trước, tiêu chuẩn chung.

     2. Tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm độc cần sa theo DSM IV

          a. Vừa mới sử dụng cannabis.

          b. Thay đổi tâm lý hoặc hành vi không thích hợp (ví dụ: Sự phối hợp vận động bị suy giảm, khoái cảm, lo âu, cảm giác thời gian chậm lại, lý lẽ suy giảm, thu rút xã hội) xuất hiện trong hoặc sau khi sử dụng cannabis.

         c. Có ít nhất 2 dấu hiệu sau khi xuất hiện trong vòng 2 giờ sau khi sử dụng cannabis.

           (1) Có tiêm chích kết hợp.

           (2) Tăng khẩu vị.

           (3) Khô miệng.

           (4) Mạch nhanh.

        d. Các triệu chứng trên không do bệnh cơ thể hoặc rối loạn tâm thần khác

           Đặc trưng nếu có rối loạn tri giác.

     3. Sảng run do nhiễm độc cần sa

         Sảng run do nhiễm độc cần sa được biểu hiện bằng suy giảm nhận thức và hiệu xuất công việc. Thậm chí liều cannabis vừa phải cũng gây suy giảm trí nhớ, thời gian phản ứng, tri giác, sự phối hợp vận động và sự chú ý. Liều cao cũng gây suy giảm nhận thức và ý thức của người sử dụng.

     4. Rối loạn loạn thần do cần sa

        Rối loạn loạn thần do cần sa thì hiếm hơn nhưng ý tưởng paranoid tạm thờ thì phổ biến hơn. Sử dụng cannabis hiếm khi với một trải nghiệm tồi tệ. Hiện tượng này thường kết hợp với nhiễm độc các chất gây ảo giác. Khi rối loạn loạn thần do cannabis xảy ra, nó có thể kết hợp với một rối loạn nhân cách tồn tại đồng thời ở người bệnh.

    5. Rối loạn lo âu do cần sa

       Rối loạn lo âu do cannabis là một chẩn đoán chung cho nhiễm độc cannbis cấp, Ở nhiều người xuất hiện một cơn lo âu ngắn, thường do ý tưởng cannabis gây ra. Trong một số tình huống, có các cơn hoảng sợ. Người sử dụng cannabis thiếu kinh nghiệm thường bị rối loạn này nhiều hơn người sử dụng có kinh nghiệm.

   6. Các cơn phản hồi

       Đang còn nhiều tranh luận về vấn đề này, nó có thể là do sử dụng cannabis một mình hay sử dụng đồng thời với các chất gây ảo giác hoặc với phencyclidine( PCP).

   7. Hội chứng mất động cơ
   
 Đang tranh luận chưa rõ hội chứng này có liên quan tới tác dụng của cannabis hay nó phản ứng với các tính cách ở một nhóm nhỏ, đang sử dụng cannabis. Hội chứng mất động cơ được xuất hiện khi sử dụng liều cao kéo dài. Các nét đặc trưng là sự thiếu quan tâm dai dẳng với công việc ở nhà, ở trường và với bất cứ việc gì đồi hỏi sự chú ý kéo dài. Người bệnh được mô tả như trở nên thờ ơ, vô cảm, mất năng lượng, thường tăng cân và có vẻ lười biếng.